Thứ Ba, 28 tháng 11, 2023

Cảnh giác tội phạm lừa đảo công nghệ cao

[CAND] Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng 4.0, khoa học công nghệ và chuyển đổi số toàn diện mang lại nhiều tiện ích với cuộc sống nhưng đồng thời cũng là cơ hội để tội phạm công nghệ cao lợi dụng, thực hiện các hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.

Để chủ động phòng ngừa, bảo vệ an toàn tài sản của bản thân, người dân, Bộ Công an cũng như Công an các đơn vị, địa phương liên tục tuyên truyền, khuyến cáo, nhưng vẫn có không ít người dân vẫn bị “sập bẫy”.

Nhiều người sử dụng điện thoại thông minh không lạ gì công nghệ Deepfake. Công nghệ này được sử dụng trong các ứng dụng (app) vui “hoán đổi khuôn mặt” với tính năng dễ dàng thay khuôn mặt, giọng nói của người sử dụng vào những nhân vật nổi tiếng trong các bộ phim; hoặc trào lưu chế ảnh, lồng tiếng hài hước cho các clip từng gây sốt thời gian trước.

Người dân cần cảnh giác với thủ đoạn sử dụng công nghệ Deepfake để lừa đảo. (Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, người dùng không biết khi sử dụng app đó nhà phát triển, cung cấp ứng dụng đã thu thập dữ liệu thông tin người dùng với hình ảnh khuôn mặt, giọng nói thật... Khi đã thu thập đủ dữ liệu, những kẻ lừa đảo lợi dụng ứng dụng Deepfake để tạo cuộc gọi video call giả mạo cán bộ cơ quan Nhà nước (công an, cơ quan thuế, tòa án…) hoặc người quen để gọi cho nạn nhân nhằm tạo sự tin tưởng, từ đó khai thác, thu thập các thông tin cá nhân nhằm mục đích lừa đảo tài chính.

Ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo này đã nhanh chóng được các đối tượng lừa đảo lợi dụng khiến không ít người dân “sập bẫy”. Các đối tượng sử dụng ứng dụng này để tạo ra các đoạn video với hình ảnh, khuôn mặt nhân vật giống hệt như hình ảnh thật của người dùng muốn giả mạo để lừa đảo nạn nhân chuyển tiền…

Anh Trần Mạnh Đạt ở xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định – một nạn nhân của tội phạm công nghệ mạng cho biết, qua ứng dụng Facebook, vừa qua, anh đột nhiên nhận được tin nhắn của chú ruột đề nghị chuyển tiền với nội dung “Tài khoản cháu còn đủ 19 triệu không, chuyển cho chú qua đây để mua vật tư, sang tháng chú gửi lại được không?” và yêu cầu chuyển thẳng số tiền đó vào tài khoản của người thứ 3 (người bán vật tư) để “đỡ mất công phải chuyển đi chuyển lại. Lúc nào chuyển xong thì chỉ cần chụp hình ảnh gửi cho chú…”.

Nghi ngờ Facebook người chú bị chiếm tài khoản nên anh Đạt đã gọi video để kiểm chứng. Phía bên kia bắt máy, mở video cho anh Đạt thấy mặt. Nhìn đúng là hình ảnh của người chú nhưng mờ nên anh Đạt thắc mắc thì phía bên kia trả lời “đang trong vùng sóng yếu”. Mặc dù trong lòng cảm thấy có chút băn khoăn vì từ trước đến nay chú ít khi hỏi vay một số tiền lớn như vậy song thấy hình ảnh video qua Facebook đúng là người nhà, lại biết chú hiện đang xây nhà nên anh Đạt thôi nghi ngờ và chuyển đủ 19 triệu đồng vào tài khoản cung cấp. Sau khi chuyển tiền thành công anh Đạt gọi điện thoại trực tiếp cho chú để thông báo thì mới biết mình bị lừa…

Có thể thấy, ứng dụng Deepfake đang là mối đe dọa đối với người dân thiếu kinh nghiệm về công nghệ, vốn tin tưởng vào sự trung thực và chính xác của video, hình ảnh thông qua các cuộc gọi trực tuyến trên nền tảng quen thuộc như Facebook, Zalo, Viber, Skype... Bởi chất lượng các video Deepfake được tạo nên ngày càng thật, tinh vi hơn, được các đối tượng sử dụng thường xuyên cho mục đích tống tiền và lừa đảo. Để thực hiện được hình thức lừa đảo này, các đối tượng tìm kiếm, thu thập thông tin cá nhân, hình ảnh, video có giọng nói được đăng tải công khai trên các tài khoản mạng xã hội… rồi sử dụng công nghệ Deepfake AI để tạo sẵn những video có cả hình ảnh, giọng nói thật của cá nhân, rất khó phân biệt thật - giả để phục vụ cho “kịch bản lừa đảo”.

Nguy hiểm hơn, trong các vụ lừa đảo bằng công nghệ Deepfake, người dùng sẽ rất khó khăn khi chứng minh với ngân hàng là mình bị lừa; phải mất nhiều thời gian và có sự tham gia của nhiều bên như nhà mạng hoặc Công an. Nhiều vụ lừa đảo, số tiền nạn nhân bị lừa không nhỏ…

Theo Thiếu tá Nguyễn Văn Chiển, Phó Phòng An ninh điều tra, Công an tỉnh Nam Định, dấu hiệu nhận biết các cuộc gọi này thường là: Thời gian gọi thường rất ngắn, chỉ vài giây; khuôn mặt biểu hiện không linh hoạt, thiếu cảm xúc và khá “trơ” khi nói, hoặc tư thế trông lúng túng, không tự nhiên...; màu da của hình ảnh nhân vật trong video có nhiều bất thường, ánh sáng kỳ lạ và bóng đổ không đúng vị trí. Giọng nói sẽ không đồng nhất với hình ảnh, có nhiều tiếng ồn bị lạc vào clip hoặc clip không có âm thanh. Cuộc gọi thường ngắt giữa chừng với lý do là mất sóng, sóng yếu; yêu cầu chuyển tiền mà tài khoản nhận tiền lại không phải của người đang thực hiện cuộc gọi...

Trước tình hình tội phạm công nghệ có chiều hướng gia tăng cùng những phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi, Công an tỉnh Nam Định khuyến cáo người dân nếu nhận được cuộc gọi yêu cầu chuyển tiền gấp, trước tiên phải bình tĩnh và xác minh thông tin bằng cách liên lạc trực tiếp với người thân, bạn bè thông qua điện thoại; kiểm tra kỹ số tài khoản được yêu cầu chuyển tiền. Nếu là tài khoản lạ, tốt nhất không nên tiến hành giao dịch. Nếu cuộc gọi từ người tự xưng là đại diện cho ngân hàng, hãy gác máy và gọi trực tiếp cho ngân hàng để xác nhận có đúng là ngân hàng thực hiện hay không. Khi nhận các cuộc gọi thoại hay video có chất lượng kém, chập chờn cần cảnh giác nghi ngờ tính xác thực của cuộc gọi…

Tuyệt đối người dân không cung cấp thông tin cá nhân: Số điện thoại, số CMT/CCCD, số tài khoản, mã OTP, địa chỉ cho bất kỳ ai không quen biết hoặc chưa rõ mục đích sử dụng. Hãy luôn nghi ngờ với mọi thông tin yêu cầu (cài phần mềm, đăng nhập vào website, cung cấp thông tin cá nhân, chuyển tiền…) trên mạng. Với tất cả các thông tin nhờ chuyển tiền, vay tiền, bình chọn... đều cần phải xác minh lại qua một kênh độc lập như điện thoại thường. Ngoài ra, không nên truy cập vào các địa chỉ website lạ, không cài đặt các phần mềm lạ không rõ nguồn gốc, những phần mềm đòi hỏi yêu cầu cấp quyền truy cập cao vào thông tin người dùng, truy cập thẻ nhớ, danh bạ, vị trí, chụp ảnh…

Thảo Vy

Lại giở trò lố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023”

[CAND] Ngày 18/11 vừa qua, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam có trụ sở tại bang California (Mỹ) công bố “Báo cáo nhân quyền 2022-2023”, tiếp tục đưa ra những nội dung xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam.

Đồng thời, tổ chức này còn đưa ra cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023” để “tôn vinh” các đối tượng Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng – những kẻ đang phải chấp hành án phạt tù về các hoạt động chống phá đất nước.

Ngày 12/5/2023, TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên sơ thẩm xét xử và tuyên phạt Trần Văn Bang lĩnh 8 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Mưu đồ “bình mới, rượu cũ”

Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN) là một tổ chức tự xưng có trụ sở tại bang California (Mỹ), được biết đến là một tổ chức ngoại vi của Việt Tân, tập hợp thành viên chân rết của tổ chức này để tiến hành các hoạt động chống phá. Tháng 11/1997, một nhóm người Việt sinh sống ở Mỹ do Nguyễn Thanh Trang, Lê Minh Nguyễn, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Thị Hồng Liên… đã tổ chức “hội nghị quốc tế” tại TP Santa Ana, thuộc quận Orange County, bang California, Mỹ và công bố thành lập tổ chức với tên gọi Mạng lưới nhân quyền Việt Nam. Để thu hút sự quan tâm của dư luận, đánh bóng, gây thanh thế trong cộng đồng hải ngoại, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam đã đưa ra mục tiêu hoạt động “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”.

Để thực hiện được mục tiêu trên, tổ chức này đã thiết lập các trang mạng xã hội, website để đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, video, hình ảnh nhằm tuyên truyền, xuyên tạc về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Cùng với đó, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam còn quan hệ, móc nối, vận động sự bảo trợ của một số nghị sĩ của Mỹ có quan điểm thiếu thiện chí với Việt Nam và tăng cường móc nối, quan hệ với các tổ chức thường xuyên có hoạt động vu cáo, xuyên tạc chống phá Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc như Đài Á Châu Tự Do – RFA; tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW), tổ chức Nhà báo không biên giới (Reporters Sán Frontieres – RSF), tổ chức Ủy ban bảo vệ ký giả (Committee to Protect Journalists – CPJ), tổ chức Ân xá quốc tế ( Amnesty International – AI), Ủy ban Tự do tôn giáo cho Việt Nam, tập hợp Thanh niên dân chủ...

Từ khi thành lập đến nay, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam thường xuyên công bố báo cáo nhân quyền, nội dung lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam để xuyên tạc sự thật, phục vụ cho mục đích bôi lem, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực. “Báo cáo nhân quyền Việt Nam 2022-2023” mà tổ chức này đưa ra cũng không nằm ngoài chiêu bài trên khi họ tập hợp, đánh giá với hàng trăm trang nhưng tất cả đều là cách nhìn phiến diện, sai sự thật về thực tiễn tình hình tự do dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam. Trong đó, họ đã cố tình xuyên tạc rằng “Chính phủ Việt Nam ngược đãi, kỳ thị người dân tộc thiểu số Tây Nguyên một cách có hệ thống”; đưa ra những thông tin, tình hình sai lệch về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ… Đồng thời, để cổ vũ cho những kẻ lợi dụng quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá đất nước, hằng năm, mạng lưới này còn tổ chức họp, bình chọn, công bố, “vinh danh” cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”.

Từ năm 2002 đến nay, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam đã trao giải thưởng này cho hơn 60 cá nhân. Những người được tổ chức này “vinh danh” nhận giải thưởng cũng là những thành phần quen thuộc trong các hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá đất nước núp dưới danh nghĩa là “tù nhân lương tâm”, “dân oan”, “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị”, kẻ đã ra tù, kẻ thì đang bị giam giữ hoặc đang bị khởi tố, xét xử. 21 năm qua, “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” đã “vinh danh” những cá nhân chống phá như Nguyễn Văn Lý, Lê Quang Liêm, Thích Quảng Độ, Phan Văn Lợi, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Đăng Quế, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải (Hải “Điếu cày”), Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Công Chính, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vy, Võ An Đôn, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Đình Mẫn, Phạm Đoan Trang, Lê Công Định, Cấn Thị Thêu, Trịnh  Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Đinh Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Tường Thụy, Lưu Văn Vịnh, Trần Đức Thạch… Đồng thời, một số tổ chức núp bóng dân chủ hoạt động chống phá đất nước cũng được “vinh danh” với giải thưởng này như “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Bán nguyệt san Tự do ngôn luận” của khối 8406, “Hội Anh em dân chủ”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”…

Chân dung 3 đối tượng được trao “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023”

Cùng với “Báo cáo nhân quyền Việt Nam 2022-2023” thì ngày 18/11 vừa qua, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam cũng đã công bố “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023” để “tôn vinh” các đối tượng Trần Văn Bang (SN 1961), Y Wô Niê (SN 1970) và Lê Trọng Hùng (SN 1979) - những kẻ rêu rao xuyên tạc rằng, họ là những “nhà hoạt động nhân quyền ôn hòa” đang bị “giam cầm trong nhà tù cộng sản”! Theo thông tin được tổ chức này chia sẻ trên các trang mạng xã hội, trang web và được các trang mạng như Đài RFA, VOA Tiếng Việt chia sẻ thì Mạng lưới nhân quyền Việt Nam sẽ tổ chức trao giải tại TP Toronto, Canada với sự hợp tác của Ủy ban yểm trợ phong trào dân chủ quốc nội – Toronto vào ngày 10/12/2023, nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế nhân quyền lần thứ 75. Vậy chân dung của những kẻ vừa được nhận cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023” là ai?

Đối với Trần Văn Bang (SN 1961, quê quán Hải Dương), bị TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh tuyên y án 8 năm tù giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự. Bang là người đã sử dụng 3 tài khoản facebook gồm “Trần Bang”, “Bang Trần”, “Tran Josh” để soạn thảo, đăng tải 39 bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ bảng, nói xấu chính quyền, thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, thể hiện thái độ thù ghét, bất mãn đối với Đảng, Nhà nước và các vị lãnh đạo. Không những vậy, y còn có hành vi tàng trữ nhiều tài liệu, sách báo, trong đó có 4 cuốn tài liệu tuyên truyền chống Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tuyên truyền kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc, nhân dân các nước, kích động bạo lực. Với những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, việc Trần Văn Bang bị tòa tuyên phạt 8 năm tù giam là đúng pháp luật.

Với Y Wô Niê (SN 1970, ở buôn Pưk, xã Ea Ning, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk), bị TAND cấp cao tại Đắk Lắk tuyên phạt y án sơ thẩm 4 tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Y Wô Niê là người đã từng có 1 tiền án về hành vi phá hoại chính sách đoàn kết và bị TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 9 năm tù giam. Vậy nhưng sau khi chấp hành xong án phạt tù vào tháng 12/2011, Y Wô Niê đã “ngựa quen đường cũ” khi lập tài khoản “Jing” trên mạng xã hội WhatsApp để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh có nội dung vu khống, xúc phạm, bôi nhọ uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và lực lượng Công an trên địa bàn huyện Cư Kuin và tỉnh Đắk Lắk. Với những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, xâm hại đến uy tín của cơ quan Đảng, Nhà nước ở địa phương và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, TAND cấp cao tại Đắk Lắk tuyên phạt y án sơ thẩm 4 năm tù giam với Y Wô Niê về tội danh trên.

Còn với Lê Trọng Hùng, tức Hùng “gàn”, SN 1979, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, đã bị TAND TP Hà Nội tuyên phạt 5 năm tù giam và 5 năm quản chế kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự. Lê Trọng Hùng đã thông qua fanpage facebook “CHTV Vietnam” đăng tải các video clip có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin, bịa đặt gây hoang mang trong dư luận; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Chỉ điểm qua những hoạt động trên để thấy bản chất của cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2023” hay “Báo cáo nhân quyền Việt Nam 2022-2023” cũng là chiêu trò đến hẹn lại lên của tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam cũng như những tổ chức, cá nhân khác vốn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Chiêu trò này tuy quá cũ nhưng nó vẫn như cú hích nhằm tìm kiếm nguồn tài chính hỗ trợ, đồng thời để cho các đối tượng trong nước bấu víu, tiến hành các hoạt động chống phá đất nước.

Phan Dương 

“Hiến kế ngược" - chiêu trò hòng phá hoại Thủ đô Hà Nội-Bài 1: Mượn danh “yêu Hà Nội” để ném đá giấu tay

[QĐND] Với vai trò, vị trí Thủ đô-trái tim của cả nước, thời gian qua, TP Hà Nội luôn là một trong những mục tiêu trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Lợi dụng những kẽ hở và sự chưa đồng bộ, chưa toàn diện trong chủ trương, quyết sách lãnh đạo phát triển Thủ đô, các thành phần cơ hội chính trị cố tình suy diễn, quy chụp với dụng ý xấu. Giả danh trí thức và mượn danh những người “yêu Hà Nội”, họ “hiến kế” xây dựng Thủ đô với hàng loạt nội dung đi ngược với chủ trương, chính sách về phát triển Hà Nội. Sự bịa đặt này không thể lòe bịp được người dân.

Bài 1: Mượn danh “yêu Hà Nội” để ném đá giấu tay

Trong hàng loạt luận điệu xuyên tạc, các thế lực thù địch quy kết nguyên nhân cốt lõi kìm hãm sự phát triển của Hà Nội là do năng lực lãnh đạo của Đảng bộ TP Hà Nội chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ. Đây có phải là sự thật?

Sự vu khống kệch cỡm

Thời gian gần đây, lợi dụng việc triển khai xây dựng đường Vành đai 4-Vùng Thủ đô đang được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, các thế lực thù địch cố tình tung tin giả, gieo rắc tin đồn trong cộng đồng. Một số thành phần chống phá cố tình bày tỏ "sự đồng cảm" với người dân Thủ đô khi liên tục “bị xoay như chong chóng với hàng loạt cơ sở hạ tầng, dự án hỗn độn, ngổn ngang...”. Họ đưa ra nhiều bức ảnh tư liệu của Hà Nội những năm trước rồi suy diễn “Thủ đô yên bình nay còn đâu? Đang đi lên hay là giẫm đạp sự phát triển?”...

Một số người còn đóng vai “diễn giả” để phân tích “hệ quả sau 15 năm Hà Nội thâu tóm Hà Tây”, rồi chỉ điểm hàng loạt khuyết tật, dấu hiệu bất an trong tiến trình phát triển của Thủ đô. Họ quy kết rằng, tất cả những dị tật ấy là do đội ngũ cán bộ chưa đủ năng lực lãnh đạo; trong khi có cán bộ ở Hà Nội vừa không có tâm, vừa chưa đủ tầm.

Ảnh minh họa: VGP

Xin khẳng định ngay: Những lập luận nêu trên là sự quy kết hồ đồ, bịa đặt, hòng cố tình bôi đen, hạ bệ vai trò, vị trí, uy tín của tập thể Đảng bộ TP Hà Nội; phủ định, phủ nhận sạch trơn những đóng góp của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố qua các thời kỳ.

Chẳng cần phải có trình độ cao siêu, một người dân bình thường của Hà Nội cũng cảm nhận rõ về sự đổi thay, phát triển từng ngày của Thủ đô. Đổi thay tích cực của Hà Nội không chỉ được đông đảo người dân cả nước ghi nhận, tự hào, mà còn được bạn bè quốc tế biết đến như một điểm hẹn hòa bình, là mảnh đất linh thiêng ngàn năm văn hiến, điểm đến du lịch hấp dẫn của du khách khắp năm châu.

Hà Nội còn được cả nước ghi nhận là địa phương có sự phát triển năng động, sáng tạo, với nỗ lực bứt phá mạnh mẽ, đang hướng tới các tiêu chí ngày càng cao của Thủ đô văn minh, hiện đại. Trong 15 năm kể từ ngày mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội luôn duy trì tăng trưởng cao hơn và đóng góp tích cực vào tăng trưởng cả nước. Bình quân giai đoạn 2011-2022, GRDP của Hà Nội tăng gấp 1,12 lần so với mức tăng chung cả nước (cả nước tăng 5,94%/năm). Quy mô GRDP năm 2022 (theo giá cố định năm 2010) đạt 772,2 nghìn tỷ đồng, gấp 2,17 lần so với năm 2010. Thu nhập tính theo GRDP tăng lên, bình quân đầu người năm 2022 đạt 141,8 triệu đồng, gấp 1,45 lần cả nước và gấp 3,5-3,8 lần so với năm 2008. So với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, mặc dù Hà Nội chỉ bằng 21,2% và 1% tương ứng về diện tích; 41,7% và 8,1% về dân số nhưng Hà Nội đóng góp tương ứng 47,46% và 12,59% về GRDP; 52,48% và 17,07% về thu ngân sách nhà nước, 14,19% và 4,61% kim ngạch xuất khẩu; 29,77% và 10,77% kim ngạch nhập khẩu.

Từ thực tiễn đổi mới, mỗi người đều có thể cảm nhận được sự khác biệt giữa Hà Nội trước thời điểm chưa mở rộng và Hà Nội hôm nay. Sự phát triển mang tính bứt phá, xóa nhòa dần đi hình ảnh khó khăn của những vùng miền núi, nông thôn xa. Từ các chương trình công tác của Thành ủy, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, Hà Nội trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới.

Đến nay, 16/18 huyện, thị xã đạt chuẩn nông thôn mới; 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới; 111 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Nhờ đó, khu vực nông thôn Hà Nội có bước chuyển mình và phát triển theo hướng văn minh, hiện đại; tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được cải thiện rõ rệt, nhiều vùng được nâng cao.

Không thể đổi trắng thay đen

Cố tình phủ định sạch trơn những thành quả đạt được của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Thủ đô bằng cách đưa ra những lập luận võ đoán, các thế lực thù địch chủ ý tung ra nhiều hình ảnh được cắt ghép, chỉnh sửa về cảnh người dân xếp hàng để chờ đợi đăng ký học cho con, rồi cảnh ùn tắc giao thông, ngập lụt lúc mưa bão, cảnh một số người dân chờ đợi giải quyết thủ tục hành chính. Từ đó họ quy kết rằng mọi tồn tại, khuyết điểm trong mọi lĩnh vực đều do lỗi từ sự yếu kém của hệ thống chính trị .

Thực tế là sự phản biện đanh thép rằng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị TP Hà Nội được khẳng định qua bức tranh toàn cảnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Thủ đô; vai trò cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp được tăng cường, kinh tế-xã hội giữ vững nhịp tăng trưởng cao, đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên.

Điểm nổi bật là sau hơn 2 năm Hà Nội triển khai thí điểm mô hình chính quyền đô thị đã mang lại kết quả tích cực, tổ chức bộ máy chính quyền ở cấp phường (và tương đương) được tinh gọn, không tổ chức HĐND phường, UBND phường là cơ quan hành chính thuộc UBND quận. Tổ chức bộ máy chính quyền ở các quận, thị xã hoạt động nhanh nhạy, thông suốt hơn; cơ quan hành chính các cấp chủ động trong điều hành, quyết định nhanh những vấn đề cấp bách, nảy sinh mới tại địa bàn, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính nhà nước. Đặc biệt, phương thức lãnh đạo của đảng ủy phường đối với chính quyền phường không chung chung mà được cụ thể, sát với nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Quyền dân chủ và giám sát của nhân dân được bảo đảm, phát huy hơn bằng hình thức giám sát trực tiếp hoặc thông qua chương trình giám sát của các tổ chức chính trị-xã hội...

Cùng với đó, Hà Nội đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền theo hướng sâu sát, cụ thể “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ hiệu quả”, “một việc, một đầu mối xuyên suốt”. Việc phân cấp và ủy quyền từ thành phố xuống cơ sở được tăng cường, nhất là các lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng, đấu giá đất, vệ sinh môi trường... gắn với trách nhiệm cụ thể. Từ sau Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, thành phố tập trung rà soát để giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng kéo dài.

Cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh, đạt kết quả quan trọng. Bên cạnh công khai, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính, Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Hằng năm, các sở, ngành, quận, huyện, thị xã đều được chấm điểm, xếp hạng cụ thể về chỉ số cải cách hành chính, tạo động lực đổi mới, sáng tạo.

Bên cạnh đó là hàng loạt giải pháp quan trọng khác như việc 100% cơ quan, đơn vị thuộc thành phố thực hiện “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan TP Hà Nội”; thực hiện hệ thống lập kế hoạch và đánh giá định kỳ (tuần, tháng, quý, năm) tới từng cá nhân theo vị trí việc làm; xây dựng bộ chỉ số đánh giá cải cách hành chính cấp xã, cấp phòng; tổ chức các phiên giải trình của HĐND các cấp giúp nâng cao năng lực cũng như ý thức, trách nhiệm cụ thể của mỗi cán bộ, công chức; đồng thời đẩy mạnh kiểm tra công vụ, xử lý nghiêm các trường hợp nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Chính nhờ đó mà chỉ số cải cách hành chính và chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính tạo động lực quan trọng để thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ.

Các chỉ số đánh giá kết quả hoạt động của chính quyền thành phố năm 2022 từng bước được cải thiện: Chỉ số cải cách hành chính xếp thứ 3/63 tỉnh, thành phố, đạt gần 90% (tăng 7 bậc so với năm 2021); chỉ số hài lòng về sự phục vụ của các cơ quan hành chính đạt hơn 80,1%.

Dẫn chứng như vậy để thấy, sự nỗ lực, tinh thần đổi mới quyết liệt, lấy người dân là trung tâm phục vụ của hệ thống chính trị thành phố đã góp phần quan trọng trong kiến tạo sự phát triển mạnh mẽ của Thủ đô hôm nay. Thực tế hoàn toàn khác xa, thậm chí là trái ngược với bức tranh mà kẻ xấu cố tình bịa đặt, tô vẽ, bôi đen.

Tất nhiên, không thể phủ nhận, trong quá trình hoạt động, hoàn thiện, bất cứ bộ máy của hệ thống chính trị nào đều khó có thể tránh được những tồn tại cần khắc phục. Hệ thống chính trị của TP Hà Nội cũng không nằm ngoài quy luật đó. Điều quan trọng là tinh thần cầu thị, quyết tâm khắc phục tồn tại bằng những giải pháp phù hợp, hiệu quả. Ở từng giai đoạn, hệ thống chính trị các cấp của thành phố đã thẳng thắn chỉ rõ hạn chế, khuyết điểm, nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề ra giải pháp quyết liệt khắc phục.

Có những việc có thể khắc phục ngay; cũng có những việc do nhiều khó khăn khách quan tác động, cần lộ trình để tháo gỡ và đó là tồn tại để các phần tử cơ hội nhắm vào, tập trung chống phá, bịa đặt, vu khống hòng đánh lái dư luận. Bởi vậy, không chỉ cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong tuyên truyền, định hướng dư luận mà mỗi người dân Thủ đô cần tỉnh táo, nêu cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; sáng suốt nhận diện, đấu tranh với những phần tử mượn danh “yêu Hà Nội” để ném đá giấu tay, cố tình bôi nhọ, phá hoại công cuộc đổi mới, phát triển của Thủ đô.

“Cần nhận thức sâu sắc, đầy đủ vị trí, vai trò, vị thế của Thủ đô đặc biệt quan trọng. Hà Nội là Thủ đô, trái tim của cả nước, Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người, bộ mặt của quốc gia, thành phố vì hòa bình. Hà Nội có lịch sử ngàn năm văn hiến, nền văn hóa lâu đời, truyền thống cách mạng vẻ vang; tiêu biểu cho truyền thống văn hiến và anh hùng, hòa bình và hữu nghị của dân tộc Việt Nam” (Tổng Bí thư NGUYỄN PHÚ TRỌNG).

(còn nữa)

TẤN TUÂN - ĐÀO THẠNH

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2023

Sao lại hình thức?

[QĐND] Các ông ơi, mấy hôm vừa rồi các trang mạng "lề trái" lại rêu rao rằng việc Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm vừa qua là “hình thức”, “mị dân”. Tôi đọc tức anh ách mà chưa đủ lý lẽ để phản bác luận điệu phản động này một cách thực sự thuyết phục.

Nghe ông Huy, Phó bí thư chi bộ thôn bày tỏ bức xúc trong lúc ngồi uống trà vào chiều cuối tuần, ông Trung, nguyên Bí thư chi bộ thôn, vốn là người hiểu biết sâu, giải thích:

- Các thế lực thù địch, bất mãn thì việc gì Đảng, Nhà nước ta làm, chúng cũng tìm mọi cách để suy diễn, xuyên tạc, chống phá các ông ạ. Rõ ràng ai cũng biết việc Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là chủ trương rất đúng đắn đã được thực tế chứng minh là có hiệu quả. Qua lấy phiếu tín nhiệm, giúp các đồng chí cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm biết uy tín của mình trước tập thể, từ đó phát huy ưu điểm, phấn đấu khắc phục hạn chế, thiếu sót để hoàn thiện mình hơn, hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Đồng thời, kết quả lấy phiếu tín nhiệm cũng là cơ sở để Đảng, Nhà nước đánh giá cán bộ sát đúng hơn, tiến hành công tác cán bộ trong hệ thống chính trị chặt chẽ, hiệu quả hơn.

Quốc hội thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu, phê chuẩn.

- Nhưng qua lấy phiếu tín nhiệm không có cán bộ nào bị mất chức nên các trang "lề trái" cho rằng việc lấy phiếu tín nhiệm chỉ hình thức, không thực chất.

Thấy ông Huy vẫn băn khoăn, ông Trung tiếp tục lý giải:

- Chúng ta phải khẳng định, tuyệt đại đa số cán bộ được đánh giá đúng qua lấy phiếu tín nhiệm. Việc không cán bộ nào có tín nhiệm quá thấp phải mất chức thì không có nghĩa là việc lấy phiếu hình thức mà đây cũng là điều đáng mừng, chứng tỏ chưa có cán bộ uy tín quá thấp. Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết và những lợi ích thiết thực của việc lấy phiếu tín nhiệm. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 96-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, nhấn mạnh: “Những cán bộ có tín nhiệm thấp phải kịp thời xem xét đưa ra khỏi quy hoạch, cho từ chức, miễn nhiệm hoặc bố trí công tác khác thấp hơn chức vụ đang đảm nhiệm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm". Chúng ta đều biết, mỗi lần lấy phiếu tín nhiệm chính là dịp để cán bộ “tự soi”, “tự sửa” về phẩm chất, năng lực, uy tín của bản thân; qua đó cảnh tỉnh, báo động đối với những cán bộ có tín nhiệm thấp. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm được Quốc hội công khai ngay sau khi bỏ phiếu kín. Vì vậy, nhân dân sẽ giám sát, lên tiếng nếu “có vấn đề". Mỗi lá phiếu tín nhiệm là lá phiếu của niềm tin mà mỗi đại biểu, mỗi người dân gửi gắm vào đội ngũ cán bộ-ông Trung giải thích cặn kẽ.

- Tôi cũng hay theo dõi, cứ đến mỗi dịp này là những kẻ phản động, xuyên tạc, chống phá lại lợi dụng mạng xã hội hoặc các diễn đàn trên internet để đưa tin thất thiệt, dẫn dắt dư luận, gây chia rẽ nội bộ, tạo sự hoài nghi, ngờ vực trong nhân dân về đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Vì vậy, mình đọc thông tin cần tỉnh táo và có chính kiến để phản bác lại, đồng thời giải thích cho người dân. Có đúng không các ông? Ông Trung nhấn mạnh thêm.

- Bác Trung giải thích thật thuyết phục. Chúng ta cũng phải góp tiếng nói để bà con hiểu rõ, tránh bị kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc chống phá - ông Huy gật gù bày tỏ sự tán đồng.

TRẦN CHIẾN 

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2023

Đừng để thất bại ngay từ trong suy nghĩ

[QĐND] Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện một số TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ Quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành Công an để bắt đầu làm lại?”...

Không biết quan điểm của bạn về mấy TikToker nói trên như thế nào, còn đối với tôi-một sĩ quan trẻ đang công tác trong Quân đội, tôi cho rằng đó là suy nghĩ tầm thường của một bộ phận thanh niên không có bản lĩnh, lập trường, phai nhạt về lý tưởng, đạo đức cách mạng... nên sinh ra tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”.

Tầm thường từ tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”

Trên thực tế, đã có người rời bỏ hàng ngũ Quân đội, Công an để được “làm chính mình” (theo tự nhận của một số TikToker). Nhưng mơ ước của những “anh hùng bàn phím” đã nhanh chóng vụn vỡ, khiến họ thất bại thảm hại, để rồi cay đắng thừa nhận rằng, bệnh “đứng núi này trông núi nọ” chẳng thể nào vươn tới đỉnh cao.

Tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ” xuất hiện ở mọi lứa tuổi, giới tính, công việc... nhưng thường tập trung vào nhóm người phải làm việc trong môi trường vất vả, nhiều áp lực, thu nhập thấp. Tuy nhiên, điều kiện công tác, vị trí việc làm chỉ là nhân tố khách quan, còn nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng nêu trên là do sự bồng bột, thiếu kiên định, ngại rèn luyện; chưa suy nghĩ thấu đáo đã quyết định nóng vội khiến cho bản thân phải trả giá đắt.

Thực tiễn đã chứng minh, con người ta phải “có làm thì mới có ăn”. Vậy mà, một số bạn trẻ vẫn đắm mình trong lối sống ảo, thích hưởng thụ nhưng lười lao động; muốn làm giàu nhanh nhưng tư duy kinh tế trống rỗng. Chính vì vậy mà họ không ngại vay mượn bằng mọi giá để liều mình “lao như thiêu thân”, đầu tư vào các tài khoản mã hóa, ứng dụng kiếm tiền ảo, các sàn giao dịch chứng khoán trên mạng chưa được cơ quan quản lý nhà nước cấp phép... Mặc dù lãnh đạo, chỉ huy các cấp và cơ quan chức năng đã thường xuyên tuyên truyền, cảnh báo, nhưng họ vẫn dửng dưng để ngoài tai, đem niềm tin đặt vào những lời chèo kéo của đám “cò mồi”, hệ quả là bị “sập bẫy” và không có đường lui. Cực chẳng đã, bố mẹ vốn đã nhọc nhằn, vất vả lo toan cuộc sống mưu sinh, nay lại còng lưng gánh nợ, thậm chí bán đất, bán nhà để trả nợ cho con. Không những thế, vì coi thường pháp luật mà không ít người đã vướng vào vòng lao lý, tù tội.

Bộ đội giúp dân gặt lúa. Ảnh minh họa: TTXVN 

Quân đội là môi trường đặc thù với muôn vàn gian lao nhưng rất đỗi vinh quang. Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn giữ vững bản chất, truyền thống, luôn được dân trọng, dân mến, dân tin. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ an tâm tư tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó; giữ vững và phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Tuy nhiên, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường và ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội; cùng với đó là tư tưởng ngại khó, ngại khổ nên trong một bộ phận nhỏ sĩ quan trẻ đã có biểu hiện “đứng núi này trông núi nọ” với suy nghĩ “rời bỏ hàng ngũ Quân đội để làm lại từ đầu”. Đó là điều vô cùng đáng trách, đi ngược lại với lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, tình cảm của đồng chí, đồng đội; tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Trong cuộc sống, ai cũng có mơ ước, khát vọng riêng của đời mình. Song, điều đó không đồng nghĩa quay lưng lại với sự nghiệp mà chính bản thân đã lựa chọn để đi theo tiền tài, danh vọng hư vô. Hơn nữa, được phục vụ lâu dài trong Quân đội hay Công an từ lâu đã trở thành khao khát của biết bao lớp thanh niên, thậm chí có những bạn trẻ phải lận đận thi hết lần này, lần khác vẫn chưa thành công thì một số ít sĩ quan trẻ-những người đã được đào tạo bài bản lại hoài nghi, dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, cổ xúy cho những hành động sai trái. Nói cách khác, “đứng núi này trông núi nọ” là sự thất bại ngay từ trong tư tưởng của chính những người vẫn tự cho là mình khôn ngoan, sáng suốt.

Môi trường nào cũng có quy tắc, quy định riêng

Tục ngữ có câu: “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, từ gia đình-“tế bào của xã hội” đến cộng đồng quốc tế, ở đâu cũng có quy tắc, quy định riêng. Theo đó, để tồn tại, phát triển, mỗi cá nhân nhất thiết phải tôn trọng, chấp hành và tuyệt đối không được phép tự ý vượt quá những “lằn ranh đỏ” mà tổ chức đặt ra. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, tự do mà mỗi người có được là “tự do trong khuôn khổ” chứ không phải “tự do vô tổ chức, vô kỷ luật”. Vậy nên, bất cứ ai cho rằng “rời bỏ hàng ngũ Quân đội, Công an để được làm chính mình” chỉ là sự mơ hồ ảo tưởng, một suy nghĩ viển vông, vô căn cứ.

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thiêng liêng, cao cả. Để hoàn thành trọng trách được Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều phải trải qua quá trình rèn luyện đặc biệt với những đòi hỏi rất cao cả về trí lực lẫn thể lực. Vậy nên, kỷ luật và ý thức tổ chức kỷ luật là hai thành tố không thể thiếu, luôn song hành, trở thành nét đặc trưng riêng của Bộ đội Cụ Hồ. Trong đó, "kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”, còn ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh là nét đẹp cao quý trong phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng và những người tự do nhất chính là những người tự giác chấp hành kỷ luật nghiêm minh nhất. Ý chí sắt đá, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, gian khổ cũng giống như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” từ lâu đã thấm sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Ngược lại, đối với những người “cả thèm chóng chán”, “dễ làm khó bỏ” thì dẫu có đi đâu, làm gì cũng sẽ có chung một kết quả, đó là sự thất bại.

Là chính mình-hiểu sao cho đúng?

Quân đội là “trường học lớn” của tuổi trẻ. Từ “ngôi trường” ấy đã có biết bao tấm gương sáng về tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, biết khắc phục khó khăn, thử thách để vươn lên, đem về vinh quang cho Tổ quốc, tiêu biểu trong thời gian gần đây nhất như: Nữ kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên, vận động viên bắn súng Hoàng Xuân Vinh, vận động viên điền kinh Nguyễn Văn Lai, cùng với đó là nhiều gương mặt trẻ lăn xả vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, giáo dục, phát triển kinh tế, giúp dân xóa đói, giảm nghèo... Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng thường xuyên quan tâm, khuyến khích, động viên những cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ bằng những chế độ, chính sách cụ thể, thiết thực, như: Thăng quân hàm trước niên hạn; đề bạt, bổ nhiệm chức vụ công tác; luân chuyển thực tế; đào tạo, bồi dưỡng... và Đề án “Thu hút, trọng dụng nhân tài trong Quân đội” đang triển khai xây dựng là một minh chứng điển hình. Vậy nên, sống trong quân ngũ không thể có chuyện “không được là chính mình”.

Đến đây, tôi chợt nhớ tới câu chuyện “muốn được làm chính mình” của nhân vật Hiếu trong bộ phim “Cuộc chiến không giới tuyến”. Bởi thích tự do làm những điều mình muốn, Hiếu đã tìm mọi cách để không tham gia quân ngũ. Để rồi, chưa kịp thành công, chàng trai trẻ ấy đã để lại cho gia đình “một đống nợ”. Nghe bà nội của Hiếu tâm sự cùng con gái, chắc hẳn rất nhiều khán giả đã không cầm được lòng mình: “Đời tao, nhìn theo bố mày đi công tác, rồi lại đến lượt nhìn anh mày đi công tác... thứ tao quen nhất chỉ là cái bóng sau lưng thôi”. Song, dẫu đã chịu muôn vàn nỗi đau, sự thiệt thòi, nhưng bà vẫn mạnh mẽ, can trường, chủ động động viên, thậm chí yêu cầu Hiếu-người cháu trai duy nhất ở bên cạnh bản thân lúc xế chiều phải cố gắng nối nghiệp ông cha. Trong đôi mắt ngấn lệ, bà khẳng khái: “Đấy, cho cháu muốn làm gì thì làm, giờ thì cháu làm ra một đống nợ! Còn nhập ngũ, cháu đã vào ngày nào đâu mà biết không hợp? Cháu phải vào để Quân đội dạy cho cháu cách làm một con người... chứ bà không sống mãi mà lo cho cháu được đâu”. Để rồi, sau quãng thời gian tân binh ngắn ngủi, chàng trai khờ dại, non nớt ngày nào đã rắn rỏi, trưởng thành. Không những vậy, Hiếu còn giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, sự thiêng liêng, cao cả khi được cống hiến cho Tổ quốc. Bởi thế, anh đã tiếp tục viết đơn xin được đi học để phục vụ lâu dài trong Quân đội.

Trong tiểu thuyết nổi tiếng “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Xô viết Nikolai Alekseevich Ostrovsky có đoạn: “Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, lúc đó thép trở nên không hề biết sợ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta cũng đã dạy: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”. Do đó, có thể thấy được giá trị và ý nghĩa của tinh thần kiên trì, bền bỉ trong rèn luyện bản lĩnh, trí tuệ đối với sự trưởng thành, phát triển cũng như chặng đường thành công của mỗi con người.

Từ văn học, nghệ thuật, điện ảnh... cho đến cuộc sống, giá trị cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ lại càng được khẳng định rõ nét. Điển hình như câu chuyện về gia đình ông Huỳnh Văn Đó, ở xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, là du kích Nam Bộ, có con trai Huỳnh Văn Kết là cựu Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, thương binh hạng 1/4. Ông Kết có hai con trai công tác trong lực lượng vũ trang: Anh trai Huỳnh My là Trung úy công an, còn em Huỳnh Văn Hợp đang học năm thứ hai Trường Sĩ quan Chính trị. Đáng chú ý, dẫu đã một lần dang dở mơ ước vì lý do sức khỏe nhưng Huỳnh Văn Hợp vẫn không từ bỏ khao khát được trở thành người sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; quyết tâm lặn lội từ Nam ra Bắc lần 2 để đi theo con đường mình đã chọn. Nếu không phải là người kiên định, nếu không có lòng quả cảm, liệu chàng trai ấy có đủ can đảm để đi theo con đường mà ông, cha, anh đã lựa chọn, nhất là khi bản thân đã chứng kiến những cơn đau mà mỗi khi trái gió trở trời bố vẫn phải nghiến răng chịu đựng sau những cống hiến thời trai trẻ?

Từ một vài ví dụ điển hình, chúng ta càng cảm thấy khâm phục những tấm gương dám hy sinh vì non sông gấm vóc bao nhiêu, lại càng bất bình với một số người, dẫu chưa đóng góp được gì cho Tổ quốc nhưng đã vội đề cao giá trị của bản thân họ bấy nhiêu!

Dù ở thời chiến hay thời bình, Bộ đội Cụ Hồ luôn sẵn sàng nhận về mình những công việc khó khăn nhất. Còn nhớ, trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ cố gắng làm và làm hết mình... Cái gì khó quá thì cứ giao cho Quân đội”. Qua đó khẳng định ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng với lời thề: “Thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí”.

Mỗi người là chính mình hay không là chính mình không phải do môi trường quyết định, mà phụ thuộc vào bản lĩnh và ý chí của chính họ. Nếu đã chọn lực lượng vũ trang làm điểm khởi đầu của sự nghiệp thì các bạn hãy luôn tự hào và quyết tâm đi hết con đường ấy một cách vinh quang nhất. Dẫu biết rằng bảo vệ Tổ quốc vừa là trách nhiệm, vừa là bổn phận của tất cả mọi người, nhưng Quân đội, Công an tuyệt nhiên không ép buộc bất cứ ai phải phục vụ lâu dài trong môi trường ấy. Vậy nên, trước khi quyết định bất cứ một việc gì, các bạn hãy suy nghĩ thật kỹ, đừng để “đứt gánh giữa đường”. Còn tư tưởng “rời bỏ hàng ngũ Quân đội, Công an để được làm chính mình” nếu không phải là hành động "câu view" của những TikToker chuyên “kiếm tiền bẩn” thì cũng chỉ là viện cớ của một sự thất bại-thất bại ngay từ trong suy nghĩ.

VŨ VĂN QUỐC

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2023

Xây dựng nền đối ngoại toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”

[CAND] Toàn văn bài viết quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có bài viết: "Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam””. Báo CAND trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Thongloun Sisoulith và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia Hun Sen tại cuộc gặp cấp cao Việt Nam-Lào-Campuchia, tháng 9/2021. (Ảnh: TTXVN)

Lịch sử loài người và các tư tưởng lớn về chính trị quốc tế, đặc biệt là phương pháp luận của chủ nghĩa Marx-Lenin đã chứng minh thế giới là một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất của các mặt đối lập, với những mối quan hệ lớn mà sự vận động và phát triển tuân theo quy luật biện chứng. Trong đó, các quốc gia, dân tộc đều phải giải quyết mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa bản sắc, lợi ích của quốc gia - dân tộc và mong muốn cùng tồn tại hòa bình, hợp tác và phát triển, bởi các quốc gia, dân tộc là bộ phận không thể tách rời khỏi thế giới, không thể tồn tại biệt lập mà phải hội nhập, hợp tác, giao lưu.

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ giang sơn gấm vóc, bảo vệ văn hóa, con người Việt Nam đã hun đúc, bồi đắp, kết tinh nên bản sắc riêng, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Ngoại giao Việt Nam phản ánh bản sắc của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ bang giao với thế giới và thông qua tương tác với bên ngoài để làm giàu thêm bản sắc của mình, rất độc đáo, sáng tạo, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về công tác đối ngoại, ngoại giao, trong gần 40 năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng: phá thế bị bao vây, cấm vận, tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thuận lợi cho công cuộc đổi mới; tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Đối ngoại, ngoại giao đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy tinh thần trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới. Tuy nhiên, công tác đối ngoại, ngoại giao của chúng ta thời gian qua cũng còn một số hạn chế; có việc chưa làm được hoặc làm chưa tốt, rất cần nhìn nhận, đánh giá để chúng ta rút ra bài học kinh nghiệm, định rõ phương hướng, cách thức làm tốt hơn trong thời gian tới.

Trước hết, phải khẳng định, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển của mình đều phải xử lý hai vấn đề cơ bản: đối nội và đối ngoại. Hai vấn đề này có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thế và lực cho nhau, trong đó nội lực đóng vai trò quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(1). Bởi vậy, trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường để bảo vệ giang sơn, giành lại độc lập, chủ quyền, ông cha ta luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại, lấy hòa bình, hòa hiếu và hữu nghị làm cốt lõi, đề cao lòng nhân ái, vị tha và bao dung, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc độc đáo của nền ngoại giao Việt Nam đầy hào khí, giàu tính nhân văn. Truyền thống và bản sắc của ngoại giao Việt Nam thể hiện ở sự kiên định về mục tiêu và nguyên tắc; linh hoạt và uyển chuyển trong mọi hoạt động ngoại giao; kiên trì thực hiện phương châm giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Tinh thần yêu nước và ý chí vươn lên giành tự do, độc lập, yêu chuộng hòa bình và đấu tranh cho hoà bình, thủy chung và hoà hiếu, gây dựng và củng cố hữu nghị, đấu tranh cho lẽ phải, công lý và chính nghĩa đã tạo nên hồn cốt và khí phách của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập năm 1945 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam chính thức trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác đối ngoại đã kết hợp đồng bộ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; cùng với quốc phòng, an ninh, kinh tế và các lĩnh vực trong hệ thống chính trị đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện những hoạt động đối ngoại đảng đầu tiên và là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc, vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Marx-Lenin, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại, nắm bắt quy luật vận động của lịch sử thế giới, với góc nhìn khách quan, nhiều chiều, Người đã có những đánh giá và dự báo đúng đắn về cục diện và xu thế phát triển của tình hình thế giới, gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với dòng chảy của thời đại, liên kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản quốc tế đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kết hợp của văn hóa Đông - Tây, với tư tưởng phải “luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”, “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “giúp bạn là tự giúp mình”, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại. Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại giao “tâm công”, thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và đạo lý. Đặc biệt, cách ứng xử khéo léo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ với các nước lớn nhằm bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong bối cảnh đất nước ở thế “ngàn cân treo sợi tóc” chính là bài học vô giá về sự uyển chuyển trong sách lược của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã kiên định vận dụng, phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đạt những thành tựu quan trọng, toàn diện, đóng góp tích cực và hiệu quả vào công cuộc xây dựng đất nước.

Thế giới ngày nay đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường so với dự báo. Bên cạnh những thuận lợi cũng xuất hiện nhiều vấn đề mới, chưa có tiền lệ. Đại hội XIII của Đảng đã nhận định: “Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn”(2). Đại dịch COVID-19 cùng với xung đột Nga - Ucraina, căng thẳng tại một số khu vực tiếp tục tác động tiêu cực đến sự phát triển của kinh tế - chính trị thế giới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn có phần gay gắt, phức tạp hơn, khiến nguy cơ xung đột tăng cao. Thế giới có xu hướng đa cực, phân tuyến rõ ràng trên nhiều mặt, tác động tới tập hợp lực lượng, liên kết quốc tế và cục diện quốc tế nói chung. Nguy cơ chạy đua vũ trang, phổ biến và cạnh tranh vũ khí hạt nhân, cạnh tranh trên không gian và trên vũ trụ quay trở lại, cùng với sự gia tăng các vấn đề an ninh phi truyền thống, gây tâm lý lo ngại và căng thẳng trên toàn cầu.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương ngày càng có vị trí quan trọng cả về kinh tế cũng như chính trị, an ninh, song cũng tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, bất đồng, có thể nảy sinh thành điểm nóng xung đột quốc tế. Các nước trên thế giới có xu hướng quan tâm, gia tăng hiện diện và hợp tác với khu vực, mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng có thể tạo ra các nhân tố phức tạp mới đối với môi trường an ninh và phát triển của khu vực, trong đó có cả Việt Nam.

Ở trong nước, tác động của tình hình thế giới và hậu quả nặng nề của đại dịch COVID-19, cùng với các vấn đề biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ,... khiến cho nền kinh tế - xã hội của nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra đòi hỏi cả hệ thống chính trị, các ngành, các lĩnh vực phải có nỗ lực cao, quyết tâm rất lớn, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ, mở rộng quan hệ hợp tác.

Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ngày 31/10/2022. (Ảnh: Tư liệu)

Bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động, phức tạp, khó dự báo, đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, xử lý hài hòa, khéo léo các vấn đề phức tạp, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, trong đó ngành đối ngoại, ngoại giao có vị trí nòng cốt và giữ vai trò tiên phong. Do vậy, việc nhìn nhận công tác đối ngoại, ngoại giao của Đảng trong những năm qua cũng là dịp để chúng ta cùng nhau đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức; để từ đó đề ra những giải pháp cần tập trung thực hiện trong thời gian tới, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bước phát triển tư duy lý luận của Đảng về đối ngoại trong công cuộc đổi mới đất nước

Kế thừa tư tưởng, nghệ thuật, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã không ngừng đổi mới, phát triển tư duy về đối ngoại, ngoại giao, phục vụ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Sự đổi mới tư duy lý luận giúp chúng ta nhìn nhận, đánh giá đúng các quy luật phát triển, các xu thế lớn trong sự vận động của thế giới, các lực lượng trên trường quốc tế; nhận diện rõ các đối tác, đối tượng trong quan hệ đối ngoại; lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam; định vị Việt Nam trên trường quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả; tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và tranh thủ các điều kiện bên ngoài thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm 1986, trước những biến động lớn của tình hình quốc tế và để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị khóa VI khởi đầu cho quá trình đổi mới tư duy về đối ngoại, chủ trương xây dựng “một nền đối ngoại rộng mở”. Bước chuyển quan trọng đó là tiền đề cho những đột phá trong hoạt động đối ngoại, là cơ sở xây dựng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Từ đó, Đảng ta từng bước đổi mới nhận thức, tư duy đối ngoại: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(3) (Đại hội VII); “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(4) (Đại hội IX); “tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”(5) (Đại hội X); “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(6) (Đại hội XI); “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(7) (Đại hội XIII).

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, Đảng ta kiên định chủ trương hội nhập quốc tế theo lộ trình, vừa có trọng tâm, vừa có trọng điểm. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, lần đầu tiên, Đảng ta đưa ra thuật ngữ “hội nhập kinh tế” và nhấn mạnh: “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”(8). Đến Đại hội X, Đảng ta nêu rõ: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”(9). Đại hội XI và Đại hội XII của Đảng đều xác định: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(10). Bổ sung, phát triển các nghị quyết chuyên đề về hội nhập kinh tế(11), Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế, xác định các vấn đề lớn liên quan đến hội nhập quốc tế của Việt Nam, từ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo đến các nội dung cơ bản và định hướng, giải pháp lớn thực hiện hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung và phát triển từ “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(12) (Đại hội XIII).

Trong hội nhập quốc tế, trước hết là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương năng động, chúng ta đã kiên định mục tiêu đối ngoại và có những bước đi phù hợp trong giải quyết mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Đây là phương thức tốt nhất để thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, là một trong những phương hướng cơ bản để phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.

Cùng với kiên định mục tiêu, con đường phát triển đất nước, cần phải luôn luôn giữ vững vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với công tác đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng nhất để phát huy hiệu quả và sức mạnh tổng hợp của đối ngoại. Điều đó vừa có cơ sở lý luận vững chắc, vừa được chứng minh bằng thực tiễn sinh động của lịch sử. Đại hội X của Đảng (2006) nhấn mạnh: “bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại”(13). Sức mạnh của đối ngoại Việt Nam được xây dựng trên cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời kết hợp hài hòa, thống nhất giữa các trụ cột, binh chủng, lực lượng tham gia công tác đối ngoại, để từ đó kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, mọi cơ quan, địa phương, doanh nghiệp đều tham gia công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy Đại hội IX của Đảng (2001) nêu rõ nhiệm vụ: “phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân”(14), đồng thời “hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện có kết quả nhiệm vụ công tác đối ngoại”(15).

Định hướng này đã được cụ thể hóa thông qua nhiều văn bản của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đại hội X của Đảng (2006) đã định hướng tăng cường phối hợp giữa “chính trị và kinh tế đối ngoại”, giữa “đối ngoại, quốc phòng và an ninh” và giữa “thông tin đối ngoại và thông tin trong nước”(16). Đại hội XI của Đảng (2011) yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa “ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa”(17). Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 6/7/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI đề ra phương hướng đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân. Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 18/2/2019 của Bộ Chính trị khóa XII nêu rõ nhiệm vụ tăng cường và nâng cao hiệu quả đối ngoại đảng trong tình hình mới.

Tại Đại hội XIII (2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định chủ trương “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(18) và “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại”(19). Ngày 5/1/2022, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, đề ra yêu cầu, nhiệm vụ cho công tác đối ngoại nhân dân trong triển khai thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam, ngày 10/9/2023. (Ảnh: TTXVN)

Sự đổi mới tư duy của Đảng trong công tác đối ngoại còn được thể hiện ở việc ứng xử linh hoạt, mềm dẻo, đa dạng về phương thức, biện pháp trước thực tiễn phức tạp và nhiều biến động của tình hình quốc tế, đặc biệt trong kiến tạo điểm đồng, xử lý bất đồng để đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu với các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh cục diện Chiến tranh lạnh chấm dứt, Đại hội VII của Đảng (1991) đã đề ra chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.

 

Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX (2003) và khóa XI (2013) là các dấu mốc quan trọng về đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng. Đảng đã xác định rõ hơn các lợi ích quốc gia - dân tộc cần được bảo vệ, cũng như nhận diện rõ hơn về “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ quốc tế. Nhờ cách ứng xử mềm dẻo, khôn khéo, sáng tạo mà vẫn giữ vững mục tiêu bất biến, với bản lĩnh, sự can trường, chúng ta đã mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế với những thành công vượt bậc, đồng thời đưa quan hệ đối ngoại, ngoại giao với các nước đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, tạo ra cục diện đối ngoại thuận lợi cho Việt Nam.

Những kết quả nổi bật của đối ngoại, ngoại giao trong những năm qua

Thực tiễn đã chứng minh, đường lối đối ngoại, ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, giúp tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ, mở ra cục diện mới thuận lợi cho công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước, nâng cao thế và lực của Việt Nam. Đến nay, với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(20).

Một là, đối ngoại, ngoại giao dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý của Nhà nước đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sự đoàn kết của cả hệ thống chính trị, tạo nên cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hoá, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Các kênh đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại Quốc hội và đối ngoại nhân dân đều hết sức khởi sắc. Đảng ta đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính...

Từ một nước bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài.

Hai là, đối ngoại, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, các lĩnh vực, phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đối ngoại đã kiên cường giữ vững cái gốc “bất biến” là độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt “vạn biến” trong sách lược với tinh thần lấy hòa hiếu làm đầu, giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác để tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên bộ, chúng ta đã xây dựng được một đường biên giới dài gần 5.000 km hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Trên biển, chúng ta đã đạt được các thành tựu quan trọng như ký kết Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc và đang tiếp tục phân định vùng biển chồng lấn với các nước láng giềng... Có thể nói, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, đối ngoại, ngoại giao đã góp phần xử lý hài hòa, cân bằng mối quan hệ với các nước cũng như các vấn đề phức tạp trên biển, tuyến biên giới. Đối ngoại, ngoại giao đã và đang đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia.

Ba là, đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng trong việc huy động các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội. Cho đến nay, chúng ta đã cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả. Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng của khu vực và thế giới, như: Liên hợp quốc (UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA), Đại hội đồng Liên minh nghị viện thế giới (IPU), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... Ta đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 90% GDP thế giới, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương (trong đó có 17 FTA). So với những năm đầu của thời kỳ đổi mới, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đến nay đã đạt gần 800 tỉ đôla Mỹ, gấp khoảng 130 lần; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 440 tỉ đôla Mỹ, tăng 22 lần. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm. Năm 2022, tăng trưởng kinh tế đạt 8,02%, là nước tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Lần đầu tiên GDP Việt Nam vượt 400 tỉ đôla Mỹ, thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế, thương mại toàn cầu suy giảm, kinh tế Việt Nam vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định: Việt Nam là một điểm sáng trong “bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh phục hồi và phát triển, công tác đối ngoại, ngoại giao tiếp tục phát huy vai trò trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, tạo lập và làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, với nhiều đối tác. Đó là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng vững chắc để phát triển đất nước.

Bốn là, đối ngoại, ngoại giao đã đóng góp tích cực vào giữ gìn hòa bình, hợp tác và phát triển của thế giới, nâng cao vai trò, vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Đối ngoại, ngoại giao đã góp phần quảng bá hình ảnh, thành tựu của Việt Nam, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước tới bạn bè quốc tế. Việt Nam đã tham gia giải quyết nhiều vấn đề quốc tế, đề xuất các sáng kiến, giải pháp hợp lý, dựa trên luật pháp quốc tế, được cộng đồng quốc tế đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Bạn bè quốc tế tín nhiệm, đề cử Việt Nam gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)... Quốc hội Việt Nam tham gia và đóng góp tích cực trong các tổ chức Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA), Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới (IPU). Các tổ chức nhân dân Việt Nam tích cực tham gia các phong trào hòa bình, diễn đàn nhân dân khu vực và quốc tế như Hội đồng Hòa bình thế giới (WPC), Diễn đàn nhân dân ASEAN (APF)... Việt Nam đã cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, thể hiện hình ảnh một đất nước Việt Nam thân thiện, yêu chuộng hòa bình, nhân văn, sẵn sàng chung tay giải quyết các vấn đề mà cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt.

Các nữ quân nhân của Đội Công binh số 1 lên đường làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Abyei và Nam Sudan. (Nguồn: Dân trí)

Năm là, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn cầu, đối ngoại, ngoại giao đã phát huy vai trò tiên phong, nhanh nhạy trong việc kết nối, triển khai “ngoại giao vắcxin” hiệu quả, củng cố niềm tin, sự đồng thuận của nhân dân trong nước, đồng bào ta trên khắp thế giới đối với sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Thông điệp ngoại giao về tinh thần đoàn kết, nhân văn của dân tộc Việt Nam “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã tạo được ấn tượng tốt đẹp với cộng đồng quốc tế. Chính sách “ngoại giao vắcxin” được Nhà nước triển khai quyết liệt, với sự nỗ lực, cố gắng của các cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao đã đem lại hiệu quả thiết thực, tất cả vì mục tiêu cao nhất là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Nhờ đó, chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ chân thành, tận tình của bạn bè quốc tế và sớm vượt qua đại dịch.

Trong khó khăn, thách thức, công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã góp phần truyền tải thông điệp về một quốc gia thân thiện, sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ và sẻ chia với cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn luôn lấy con người làm trung tâm, luôn sẵn lòng hỗ trợ bất cứ ai, dù mang quốc tịch nào.

Những cố gắng, kết quả nổi bật nói trên của đối ngoại, ngoại giao đã góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau gần 40 năm đổi mới, nhờ đó vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Mặc dù đạt được nhiều thành quả to lớn, song chúng ta cũng cần nhìn thẳng các mặt còn hạn chế để khắc phục, tiếp tục phấn đấu và hoàn thiện mình để đạt được những thành tựu to lớn hơn.

Một là, công tác đối ngoại, ngoại giao có lúc còn bị động, chưa kịp thời trong phát hiện và xử lý các biến động mới ở khu vực và quốc tế có tác động đến Việt Nam. Công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, dự báo tình hình tuy đã có nhiều tiến bộ, song có lúc còn thiếu tính chủ động, thiếu sự phối hợp liên thông, đồng bộ giữa các cơ quan tham mưu chủ chốt.

Hai là, quan hệ với một số đối tác, kể cả đối tác chiến lược, toàn diện chưa sâu sắc, còn “điểm nghẽn” cản trở việc phát huy tiềm năng hợp tác. Hiệu quả hội nhập quốc tế vẫn chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng, chưa tận dụng được hết các lợi ích của hội nhập. Nhận thức và năng lực hội nhập chưa đồng đều giữa các ban, bộ, ngành, các địa phương và người dân. Việc triển khai thực hiện các thỏa thuận quốc tế mà nước ta đã tham gia còn chậm do thiếu sự đôn đốc sát sao hoặc do chậm được cụ thể hóa. Công tác đào tạo cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế còn chưa ngang tầm với những yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Ba là, chúng ta còn chưa thật sự tự tin thể hiện xứng tầm với thế và lực mới của đất nước, chưa thực sự mang tâm thế mới của Việt Nam trong ứng xử đối ngoại và xử lý các mối quan hệ song phương cũng như đa phương trước những điều chỉnh nhanh chóng về chiến lược và quan hệ của các nước lớn. Chưa phát huy đầy đủ tinh thần quyết liệt chủ động tiến công trong những vấn đề liên quan đến lợi ích chiến lược, chưa có suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tới tầm khu vực và quốc tế.

Bốn là, công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ làm công tác đối ngoại có lúc, có trường hợp còn chưa hiệu quả và chưa hợp lý. Cá biệt có cán bộ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về đạo đức, lối sống, thậm chí vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành, suy giảm niềm tin của nhân dân.

Năm là, công tác thông tin đối ngoại chưa thực sự sáng tạo, hiệu quả để thích ứng với thời đại, có lúc còn để một số đối tác hiểu lầm, nghi ngại ta, hiểu chưa đầy đủ, chưa được thông tin cập nhật thường xuyên về chủ trương, đường lối của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới của Việt Nam. Ở trong nước, việc thông tin cho nhân dân về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta chưa đầy đủ để tạo sự đồng thuận, ủng hộ chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Từ thực tiễn thành công và hạn chế của công tác đối ngoại, ngoại giao thời gian qua, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, bài học bao trùm và bất biến là luôn luôn bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước đối với công tác đối ngoại, ngoại giao. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta luôn luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; huy động, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để lãnh đạo công tác đối ngoại của đất nước phù hợp với tình hình thế giới trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, bổ sung các quan điểm, chủ trương, biện pháp lớn về đối ngoại, ngoại giao.

Thứ hai, luôn luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Nguyên tắc bất biến của chúng ta là bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; còn sách lược mềm dẻo, khôn khéo, song rất quyết liệt; linh hoạt, đổi mới, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên cường; “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Thứ ba, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Đối ngoại, ngoại giao Việt Nam luôn phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế, trong đó sức mạnh dân tộc thể hiện ở sức mạnh tổng hợp cả về vật chất lẫn tinh thần.

Thứ tư, đối ngoại, ngoại giao là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Do vậy, phải khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý chí vươn lên phát triển đất nước, củng cố sự đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ khát vọng hùng cường của đất nước trong giai đoạn phát triển mới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước: đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Cùng với quá trình hội nhập, hoạt động đối ngoại cũng ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Tình hình đó đòi hỏi sự gắn kết và phối hợp nhịp nhàng giữa các ban, bộ, ngành, các cấp; các tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế; Trung ương và địa phương; ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, ngoại giao quốc phòng, an ninh; giữa quan hệ song phương với hoạt động tại các diễn đàn đa phương với trọng tâm, trọng điểm rõ ràng, nhất quán về đối tác cũng như về địa bàn, diễn đàn và lĩnh vực.

Thứ năm, chú trọng xây dựng tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về trình độ, năng lực, nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống. Cán bộ đối ngoại, ngoại giao phải vững vàng về chính trị, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; không bị cám dỗ của lợi ích vật chất, luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác trước sự tác động, lôi kéo của các thế lực thù địch, chủ động phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thời đại ngày nay và yêu cầu đặt ra đối với công tác đối ngoại, ngoại giao

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới”(21). Việt Nam ngày nay đã là một quốc gia chủ động, tích cực hội nhập toàn diện, sâu rộng với thế giới. Do đó, việc hiểu đúng, đủ, toàn diện tình hình thế giới và vị trí của Việt Nam trong thế giới là hết sức cần thiết nhằm nhận rõ những cơ hội, thách thức, trên cơ sở đó triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của đất nước.

Việc đánh giá đúng các xu hướng, dòng chảy của thời đại luôn luôn là một câu hỏi lớn, thường trực cho công tác đối ngoại. Trong thời đại ngày nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, dù nguy cơ chiến tranh và xung đột luôn luôn tiềm ẩn và diễn biến phức tạp. Thời đại ngày nay cũng là thời đại của toàn cầu hóa và liên kết, của chủ nghĩa đa phương và luật pháp quốc tế, với nhiều khó khăn, thách thức; trong đó, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Những đặc điểm thời đại đó, với những cơ hội và thách thức đan xen, là tiền đề để Việt Nam tiếp tục triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Trong bối cảnh đó, với cách nhìn biện chứng, khoa học, chúng ta nhìn nhận và tin tưởng rằng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là khát vọng lớn của nhân loại, là xu thế và mục tiêu hướng tới của đại bộ phận các dân tộc trên thế giới(22). Nhân loại tiến bộ sẽ tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ cho bình đẳng dân tộc, dân chủ xã hội và phát triển con người. Đa số các quốc gia trên thế giới sẽ tiếp tục bảo vệ lợi ích quốc gia chính đáng của mình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và các chuẩn mực quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi. Phát triển bền vững, hài hoà với bảo vệ môi trường, hướng tới phục vụ quyền lợi lâu dài của đại đa số người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau, thượng tôn pháp luật đang trở thành các giá trị chung của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ, có vị trí địa chiến lược quan trọng trong những chuyển dịch hiện nay của thời đại. Trong thế giới biến động và khó lường, thách thức luôn luôn đan xen với cơ hội, rủi ro luôn luôn đi kèm với thời cơ. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, chúng ta vẫn tin tưởng vào bản lĩnh và ý chí của dân tộc, kế thừa và phát triển sáng tạo các bài học đối ngoại của ông cha ta, nhất là nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh trong việc tận dụng cơ hội, hóa giải thách thức, “biến nguy thành cơ”, phát huy tốt vai trò của nền ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Trải qua chặng đường cách mạng hơn 90 năm qua, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập và lãnh đạo cách mạng, Việt Nam luôn luôn kiên định mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam hướng tới là nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Nền văn hóa mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng là một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nền đối ngoại mà chúng ta khẳng định là nền đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Hai mục tiêu 100 năm mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là bước cụ thể hóa mục tiêu trên của dân tộc. Đây cũng sẽ là các cột mốc quan trọng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, đáp ứng kỳ vọng ngày một tăng của cộng đồng quốc tế đối với đất nước ta, dân tộc ta, với vai trò và trách nhiệm đóng góp ngày một nhiều hơn, có ý nghĩa hơn đối với sự phát triển, sự phồn vinh và tiến bộ của nhân loại.

Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành một quốc gia đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, có quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; là một nước phát triển hài hoà, hoàn thành đầy đủ các mục tiêu phát triển bền vững cơ bản của Liên hợp quốc; hội nhập toàn diện, sâu rộng, có vị thế, uy tín và được các quốc gia khác tôn trọng trên trường quốc tế. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để hiện thực hóa mục tiêu hùng cường của dân tộc, Việt Nam xác định “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(23), góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác cùng phát triển, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam chủ động, tích cực đóng góp cho các vấn đề chung của khu vực và thế giới, phù hợp với năng lực của Việt Nam. Việt Nam sẽ cùng các nước ASEAN xây dựng một Cộng đồng vững mạnh, đoàn kết, có vai trò trung tâm trong các cơ chế đối thoại và hợp tác ở khu vực; cùng xây dựng một khu vực hoà bình, không có xung đột; cùng đấu tranh chống áp đặt, cường quyền; kiểm soát tốt bất đồng; giải quyết hòa bình các tranh chấp nảy sinh. Việt Nam luôn luôn kiên định thực hiện “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”(24), “không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(25). Việt Nam kiên quyết, kiên trì “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(26).

Đó chính là mục tiêu để xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Đại hội XIII đã xác định đối ngoại, ngoại giao là giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Tiên phong trước hết cần thể hiện trong tư duy, nhận thức; tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tiên phong trong kiến tạo cơ hội để thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc; tiên phong trong kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là gắn kết sức mạnh cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước.

Nguyên tắc nhất quán của đối ngoại là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc chính là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phát triển, không ngừng nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước.

Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa. Độc lập, tự chủ đồng nghĩa với việc mọi quyết định phải trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc và các nguyên tắc chung của cộng đồng quốc tế. Cần kết hợp sức mạnh đất nước và điều kiện quốc tế thuận lợi để tạo cục diện có lợi cho môi trường an ninh, phát triển của đất nước, xác định nguồn lực bên trong là cơ bản, quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng, cần thiết. Độc lập, tự chủ là cơ sở để huy động ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo sức mạnh tổng hợp, qua đó giúp củng cố độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ được hiểu một cách biện chứng, linh hoạt, trong đó hội nhập quốc tế là chấp nhận có nghĩa vụ, ràng buộc nhất định, nhưng luôn bảo đảm sự độc lập, tự chủ của quốc gia trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa - xã hội,...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân cùng kiều bào thăm đền Ngọc Sơn, thành phố Hà Nội, ngày 26/1/2019. (Ảnh: TTXVN)

Phương châm triển khai công tác đối ngoại, ngoại giao là vận dụng nhuần nhuyễn và khéo léo bài học “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược tùy theo vấn đề, tùy từng thời điểm và đối tượng hay đối tác. Kiên trì mục tiêu “bất biến” là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; kiên định mục tiêu xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. “Vạn biến” trong phương cách thực hiện mục tiêu; đồng thời linh hoạt, năng động thích ứng với môi trường khu vực và quốc tế, với các xu thế toàn cầu mới và trong tìm kiếm biện pháp hóa giải các thách thức từ bên ngoài. Theo đó, đối ngoại cần liên tục theo sát những biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế; kiên định lập trường, nguyên tắc, song cũng linh hoạt thích ứng, chủ động kiến tạo cơ hội trước sự thay đổi của tình hình.

Phương thức thực hiện công tác đối ngoại, ngoại giao là sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước; sự gắn kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nền ngoại giao Việt Nam toàn diện có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, tổ chức xã hội, địa phương, doanh nghiệp và nhân dân, triển khai trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội... với các đối tác, địa bàn, khu vực.

Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam trong thời gian tới

Một là, không ngừng đổi mới tư duy về đối ngoại. Đổi mới tư duy về đối ngoại trước hết là sự kế thừa và phát triển truyền thống ngoại giao của dân tộc, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với sự phát triển nhận thức về đối ngoại qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và gắn với thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế của từng thời kỳ, chọn lọc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Đổi mới tư duy đúng và kịp thời sẽ giúp tạo dựng và nắm bắt cơ hội, đổi mới tư duy chậm thì sẽ dẫn đến trì trệ, thậm chí biến thành thách thức.

Đổi mới tư duy về đối ngoại còn là việc bổ sung, linh hoạt điều chỉnh những nội hàm quan trọng của đối ngoại như nhận thức về thế giới, định vị đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, quan hệ đối tác - đối tượng, vai trò và phương thức triển khai đối ngoại... Các nội hàm này không bất biến, mà có sự chuyển hóa linh hoạt đòi hỏi phải luôn luôn đổi mới, nắm bắt những biến động nhanh chóng, bất ngờ để có đối sách ứng phó phù hợp. Đổi mới tư duy về đối ngoại còn là việc vượt ra khỏi những lĩnh vực, tư duy lạc hậu, mạnh dạn tìm hướng đi mới, cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như đối ngoại số, đối ngoại công nghệ, đối ngoại môi trường...

Hai là, chú trọng, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “tầm nhìn phải rộng”, “suy nghĩ phải sâu”, “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công”(27). Do đó, công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược phải luôn đi trước để nắm bắt đúng xu thế phát triển của tình hình, tạo thế chủ động cho đất nước, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ. Nghiên cứu, dự báo phải nhanh nhạy phát hiện các vấn đề mới, nhận diện thời cơ và thách thức, từ đó tham mưu, tìm ra hướng đi thuận lợi cho đất nước.

Nghiên cứu, dự báo, tham mưu trước hết phải biết mình, định vị được vị thế của đất nước trong cục diện thế giới, nhận thức rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình, giá trị và vị trí chiến lược của đất nước trong chính sách của các nước khác. Đánh giá, dự báo chiều hướng vận động của cục diện thế giới, nhất là những biến chuyển trong cục diện thế giới sau những biến cố lớn, quan hệ giữa các nước láng giềng, nước lớn, khu vực, các xu thế phát triển, cố gắng phát hiện các vấn đề mới, xu thế mới, từ đó đề xuất với Đảng và Nhà nước những chủ trương, quyết sách phù hợp. Các cơ quan tham mưu cần phối hợp chặt chẽ để đánh giá, tham mưu một cách toàn diện, khách quan, nhiều chiều, tổng thể và sâu sắc, nhất là trong những vấn đề đối ngoại hệ trọng.

Ba là, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là nhiệm vụ trọng yếu của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó có sự đóng góp tích cực, thường xuyên, với vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước. Điều đó đòi hỏi công tác đối ngoại, ngoại giao phải luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt, mềm mại nhưng kiên quyết, linh hoạt và thận trọng; có kế sách chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, đồng thời giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, kiên trì tìm kiếm, đề xuất các giải pháp cơ bản, lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Để giữ vững hòa bình, ổn định, trước hết cần coi trọng đưa quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững; đồng thời, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác đặc biệt, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các đối tác quan trọng khác và bạn bè truyền thống, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Trong các mối quan hệ quốc tế, tiếp tục nêu cao tinh thần hòa hiếu của dân tộc, giữ gìn chữ “đồng” và chữ “tín”, phát huy các điểm đồng về lợi ích và hợp tác chân thành, tin cậy, thực hiện nghiêm túc các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Có như vậy, Việt Nam mới giữ được các quan hệ đối ngoại bền chặt, củng cố vững chắc cục diện đối ngoại thuận lợi, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, tạo điều kiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bốn là, đối ngoại tiếp tục đi đầu trong việc huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Đất nước ta đang đứng trước những biến chuyển hết sức sâu rộng của nền kinh tế thế giới, nếu không vượt qua được những thách thức mới và phức tạp, việc hoàn thành mục tiêu “trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vào giữa thế kỷ XXI sẽ rất khó khăn, thậm chí nguy cơ tụt hậu sẽ càng xa hơn. Đối ngoại, ngoại giao cần phát huy hiệu quả các mối quan hệ chính trị tốt đẹp, tranh thủ tối đa các yếu tố quốc tế thuận lợi, tận dụng nội dung, hình thức mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để xác lập vị trí thích hợp và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất quốc tế, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, công nghệ, tri thức phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(28), ngoại giao kinh tế phải lấy phục vụ làm phương châm hành động, lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm. Các cơ quan đối ngoại cần quan tâm kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi, mở đường, đồng hành, hỗ trợ người dân, địa phương và doanh nghiệp tranh thủ tối đa cơ hội, lợi ích và giảm thiểu rủi ro, vượt qua thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Năm là, phát huy tối đa thế và lực mới để nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước. Vị thế, uy tín của đất nước không chỉ dựa vào sức mạnh vật chất mà cả “sức mạnh mềm”, đó là đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và bản sắc văn hóa truyền thống, là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, là đường lối đối ngoại hòa bình, nhân văn, nhân ái, nghĩa tình, tâm công, xử lý các vấn đề quốc tế hài hòa, có lý, có tình, tôn trọng luật pháp quốc tế, là sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới, v.v..

Với thế và lực mới, chúng ta cần tiếp tục đóng góp tích cực hơn nữa vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế; mở rộng quan hệ và đẩy mạnh hợp tác với các lực lượng chính trị, xã hội và nhân dân các nước, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ. Chủ động, tích cực tham gia xây dựng, định hình các cơ chế, chuẩn mực luật pháp quốc tế, cải tổ các định chế quản trị toàn cầu và khu vực, coi đây là chỗ dựa vững chắc cho đối ngoại Việt Nam trên trường quốc tế. Chủ động tham gia các sáng kiến mới phù hợp với luật pháp quốc tế và lợi ích của Việt Nam. Thúc đẩy hợp tác đa phương trong các lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều lợi ích, đóng góp thiết thực, trách nhiệm với công việc chung của nhân loại, nhất là trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể như ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác Tiểu vùng Mêkông..., tiêu biểu như cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Đẩy mạnh đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại và ngoại giao văn hóa để thế giới hiểu đầy đủ, đúng đắn đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam, công cuộc đổi mới, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, hiểu biết và yêu mến đất nước, văn hóa và con người Việt Nam với hàng nghìn năm văn hiến, lan tỏa các giá trị tư tưởng,đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ra thế giới. Với tinh thần người Việt Nam ở nước ngoài là máu thịt, là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, cần tiếp tục quan tâm, chăm lo, hỗ trợ cho cộng đồng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng ổn định, phát triển, có địa vị pháp lý vững chắc ở nước sở tại và gắn bó với quê hương, đất nước.

Sáu là, kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại toàn diện về bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và trí tuệ, hiện đại về phong cách, phương pháp làm việc, có năng lực đổi mới sáng tạo, đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới. “Mang chuông đi đánh xứ người” là công việc rất khó khăn, vất vả, đòi hỏi những phẩm chất đặc biệt của người làm công tác đối ngoại, ngoại giao. Tại Hội nghị cán bộ ngoại giao lần thứ III (tháng 1-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ ngoại giao cần phải học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng; cần phải biết giữ bí mật; cần phải tiết kiệm đúng cách; cần phải chú ý đoàn kết nội bộ; cần cố gắng nắm bắt tình hình nước sở tại và tình hình quốc tế nhanh và chính xác”(29). Những lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là định hướng xuyên suốt để cán bộ làm công tác đối ngoại phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại là một đội ngũ đặc biệt: tin cậy về phẩm chất, nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, khôn khéo trong đàm phán và tinh tế trong ứng xử. Do vậy, cần phải rèn luyện phong cách: suy nghĩ kỹ càng, hành động linh hoạt, kỹ năng thành thạo; về năng lực phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ giỏi. Cán bộ làm công tác đối ngoại phải thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị và tư tưởng vững vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với lợi ích của dân tộc, tỉnh táo trước sự tác động, cám dỗ, lôi kéo của các thế lực thù địch, chủ động tích cực phòng ngừa không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vướng vào tham nhũng, tiêu cực. Các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn luôn ghi nhớ rằng, phía sau mình là Đảng, là Nhà nước, là đất nước và nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, cán bộ đối ngoại, ngoại giao còn phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc, có kỹ năng ngoại giao hiện đại và phong cách ứng xử liên văn hóa. Chúng ta phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đủ năng lực để làm việc tại các tổ chức quốc tế và khu vực, các cơ quan trọng tài, tư vấn quốc tế. Chú trọng đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi trên một số lĩnh vực trọng yếu. Bên cạnh đó, các thể chế, chính sách, pháp luật và nguồn lực cho hoạt động đối ngoại, ngoại giao cũng cần được hoàn thiện, sắp xếp, kiện toàn bộ máy của các cơ quan đối ngoại, ngoại giao cả ở trong nước và nước ngoài tinh gọn, khoa học, hợp lý và hiệu quả.

***

Đất nước ta dù còn khó khăn, nhưng tương lai xán lạn đang nằm trong bàn tay và khối óc của mỗi người dân Việt Nam. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đồng lòng, quyết tâm cao nhất thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đảng ta luôn dành cho công tác đối ngoại, ngoại giao sự quan tâm đặc biệt, trong đó có sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, cũng như tiếp tục đầu tư thỏa đáng cả về nguồn lực con người và nguồn lực vật chất. Đảng xác định đối ngoại, ngoại giao là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và sẽ tiếp tục quan tâm sát sao, tạo các điều kiện phù hợp hơn nữa về thể chế, nguồn lực một cách tương xứng với nhiệm vụ và trọng trách của đối ngoại, ngoại giao thời gian tới.

Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa tư tưởng của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một nền ngoại giao độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Vững ở gốc là nguyên tắc vì lợi ích quốc gia - dân tộc để phục vụ, là đường lối đối ngoại độc lập - tự chủ, lấy thực lực làm gốc, lấy đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để tạo thế, lập thời; lấy phương pháp luận chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng soi đường, chỉ lối. Đường lối đó đã mở ra cho đất nước vận hội phát triển mới, có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đường lối đó tiếp tục là nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển với các mục tiêu trong những thập niên sắp tới.

Chắc ở thân là những phương thức tạo nên sức mạnh, trong đó sức mạnh đoàn kết là nhân tố sống còn; đại đoàn kết trong nước là căn bản, đoàn kết quốc tế là nhân tố bổ trợ hết sức quan trọng. Sức mạnh tổng hợp của đối ngoại có được dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... Sức mạnh của Việt Nam còn ở tính chính danh, chính nghĩa, cách ứng xử nhân văn, thủy chung, thượng tôn pháp luật và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

Uyển chuyển ở cành là phong cách, nghệ thuật ứng xử linh hoạt, nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, đặc biệt trong các hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, có sự mâu thuẫn giữa những xu thế khác nhau, giữa đòi hỏi phải hài hòa cái chung và cái riêng, nhằm giữ vững bản sắc, giá trị đất nước và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam phù hợp với những giá trị chung của nhân loại. Đó là cách ứng xử “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “biết dừng, biết biến” của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Trước những biến chuyển lớn của thời đại, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam càng thể hiện rõ ràng bản sắc “cây tre Việt Nam”: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát huy mạnh mẽ lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, để vinh quang đời đời thuộc về dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng.

Tôi tin tưởng rằng, trong thời gian tới, dù phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, các thế hệ cán bộ đối ngoại, ngoại giao vẫn thể hiện được trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức và cốt cách của nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh và kế thừa, tiếp thu truyền thống đối ngoại của dân tộc Việt Nam, tiếp tục nhận được sự tin tưởng, ủng hộ và đáp ứng được sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

-------------------------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.4, tr. 147

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 105 - 106

(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 49

(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 60, tr. 146

(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 65, tr. 154

(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 236

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 101

(8) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 55, tr. 330

(9) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 65, tr. 209

(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 236; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 79

(11) Nghị quyết số 01-NQ/TW, ngày 18/11/1996 của Bộ Chính trị về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000 và Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế

(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 101

(13) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 65, tr. 212

(14), 15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 60, tr. 209

(16) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 65, tr. 212

(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 139

(18), (19) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 162, 157

(20) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 104

(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 265

(22) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 105

(23) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 101

(24), (26) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 101

(25) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 25

(27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 326

(28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 51

(29) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, t. 9, tr. 6

Theo Tạp chí Cộng sản

Toàn văn Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khoá XIII

[CAND] Sáng 18/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành ...