Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại hội Đảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại hội Đảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 6, 2021

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc bản chất công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng

(TG) - Xuyên suốt 91 năm xây dựng và phát triển của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được chú trọng; được các cấp uỷ, các tổ chức cơ sở Đảng và mọi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định, góp phần quan trọng vào thành công của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. 

Ảnh minh họa


BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ LÀ MỘT NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT

Bảo vệ chính trị nội bộ là một nhiệm vụ quan trọng, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ; đồng thời, là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng luôn trong sạch vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Vì thế, những luận điệu sai trái, phản động mà các thế lực thù địch suy diễn, quy kết hồ đồ rằng: Đảng phải tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ là do những ''phức tạp không nhỏ" trong nội bộ; do tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ngày càng gia tăng; do nội bộ mất đoàn kết vì sự "tranh giành ghế và các phe nhóm"; do các cơ quan tuyên truyền, tuyên giáo của Đảng "tung hỏa mù" để ngụy trang cho sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên… cần phải được nhận diện đúng là rất quan trọng và cần thiết.

Trước hết, phải khẳng định rằng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ không phải là việc làm nhằm "bới lông tìm vết" mà chính là quá trình thực hiện nghiêm các nguyên tắc về xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; theo đúng Điều lệ Đảng và văn kiện các kỳ Đại hội Đảng trên tinh thần kết hợp giữa “chống và xây”, “xây và chống”, "lấy phòng ngừa là chính" để xây dựng từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn liền với sự ra đời, phát triển của Đảng, chứ không phải chỉ khi có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, thì Đảng mới tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ.

Tuy nhiên, xuất phát từ sự biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước; từ sự gia tăng các hoạt động chống phá của thế lực thù địch vào Đảng Cộng sản Việt Nam, vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vào việc thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được đẩy mạnh; được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát.

Đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ, hệ thống các văn bản quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ qua các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đã được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong đó, phải kể đến các văn bản sau: Quyết định 42-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương (Bộ Chính trị ban hành ngày 15/7/2002); Chỉ thị số 39-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ Chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay” (Bộ Chính trị khóa XI ban hành ngày 18/8/2014); Quy định số 126-QĐ/TW “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” (Bộ Chính trị khóa XII ban hành ngày 28/2/2018) thay thế Quy định số 57-QĐ/TW ngày 3/5/2007 của Bộ Chính trị khóa X “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” và Hướng dẫn số 19-HD/BTCTW ngày 12/9/2019 của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiện một số điều trong Quy định số 126-QĐ/TW…

Có thể thấy, bên cạnh những nội dung được ghi rõ trong Điều lệ Đảng, trong văn kiện mỗi kỳ Đại hội Đảng như Nghị quyết Đại hội XII đã khẳng định: "Bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng; xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhất là phát ngôn, tuyên truyền, tán phát tài liệu trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”(1), trong những nhiệm kỳ gần đây, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm hơn, góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Từ nội dung các văn bản nêu trên, có thể thấy công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ có thêm những nội dung mới, cụ thể, chặt chẽ hơn mà còn chuyển trọng tâm từ việc xem xét các vấn đề lịch sử sang nắm bắt và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay, gắn với việc phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ".

Đồng thời, cũng từ nội dung trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, có thể thấy, đối với mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu. Cùng với đó, việc tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ - một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng chính là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên để Đảng luôn trong sạch và vững mạnh, đoàn kết và thống nhất; đồng thời, đảm bảo sự chủ động trong việc phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ và những nhân tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị, xã hội do các thế lực thù địch, phản động thực hiện nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa đang xây dựng ở Việt Nam.

Hai là, vì có tầm quan trọng như vậy, cho nên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đó chính là nền tảng quan trọng cho việc giữ vững an ninh chính trị của Đảng, Nhà nước. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được triển khai thường xuyên, liên tục trong cả hệ thống chính trị; từ Trung ương đến địa phương gắn với văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, Điều lệ Đảng, với các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng; với việc kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội.

Cụ thể, trong những năm qua, việc thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" (Chỉ thị 03) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05), Kết luận 01 của Bộ Chính trị khóa XIII về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" (Kết luận 01) và các Quy định về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương… đã góp phần quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; nâng cao bản lĩnh chính trị và nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên để chủ động phòng và đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch…

Vì thế, việc các thế lực thù địch cho rằng, bảo vệ chính trị nội bộ là do "sự suy thoái trong Đảng gia tăng" không chỉ là sự xuyên tạc về chức năng, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, mà còn phủ nhận "sạch trơn" những thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhằm chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, cần phải được nhận diện đúng!

Ba là, những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần: 1) Làm cho công tác đấu tranh, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, bảo vệ tổ chức và cán bộ, đảng viên trước những diễn biến phức tạp của tình hình và âm mưu, hoạt động chống phá nội bộ của các thế lực thù địch đạt hiệu quả rõ rệt; để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc hơn về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cũng nhận thức sâu sắc hơn về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay và âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. 2) Để mỗi cấp ủy, mỗi người cán bộ, đảng viên chân chính nhận diện rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những suy nghĩ và hành động sai trái, đi ngược với lợi ích của Đảng, của nhân dân và cả sự xâm nhập của tư tưởng phản động, lối sống thực dụng, các biểu hiện tiêu cực tác động vào mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, từ đó biết tự bảo vệ mình và kịp thời báo cáo tổ chức xem xét, giải quyết những vướng mắc nảy sinh theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 3) Làm cho các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện vi phạm về chính trị nội bộ; thực hiện thẩm định tiêu chuẩn chính trị nhân sự phục vụ yêu cầu công tác cán bộ, phục vụ Đại hội Đảng các cấp và kết nạp đảng viên; công tác thẩm tra, xác minh và kết luận đối với những trường hợp có dấu hiệu vi phạm về tiêu chuẩn chính trị… được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Hơn nữa, việc thường xuyên nắm bắt, quản lý chặt chẽ tình hình chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh kết luận về tiêu chuẩn chính trị nhân sự; sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác cán bộ để chủ động ngăn ngừa, kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu bịa đặt, vu khống, nói xấu nhằm chia rẽ, hạ uy tín của tổ chức đảng, đảng viên; việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng về bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ… đã cho thấy sự vu khống của các thế lực thù địch khi cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành bảo vệ chính trị nội bộ là nhằm "bảo vệ quyền lợi cho Đảng" thật sự lố bịch, hoàn toàn sai sự thật. Đồng thời, qua đó cũng khẳng định rằng, việc xuyên tạc bản chất công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng là vì cán bộ, đảng viên ngày càng suy thoái, càng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", cho nên càng ngày Đảng Cộng sản Việt Nam càng phải tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ chính là một âm mưu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Những luận điệu bịa đặt, bôi đen này nếu không được chỉ ra, được nhận diện đúng, để từ đó nâng cao cảnh giác thì ắt sẽ là một trong những nguyên nhân tạo ra những kẽ hở, "vết nứt" để các phần tử xấu, phản động lợi dụng, tác động vào công tác chính trị nội bộ; thậm chí lôi kéo, mua chuộc, chuyển hóa những người có tư tưởng bất mãn, lệch lạc, suy thoái, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; dẫn đến phá hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng nói riêng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung.

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ LÀ NHIỆM VỤ CỦA CẢ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Cũng cần phải nói rằng, trong những năm qua, bên cạnh những kết quả đạt được không thể phủ nhận trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thì vẫn còn một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc, thiếu thống nhất về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; nhất là, vẫn còn "một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"(2). Trong khi đó, công tác tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc, thực chất, ở nhiều nơi còn hình thức. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu trong mọi mặt công tác chưa thuyết phục, chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị… Những hạn chế này đòi hỏi Đảng phải nhìn thẳng vào thực trạng để chú trọng hơn về công tác tư tưởng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đảm bảo để công tác tư tưởng luôn đi trước một bước, kịp thời và thuyết phục. Đồng thời, Đảng phải tiếp tục nỗ lực khắc phục những hạn chế trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với xây dựng Đảng, để Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII đã khẳng định. 

Thực tế là, công tác bảo vệ chính trị nội bộ là một nội dung, gắn với xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Cho nên, việc cho rằng chống tham ô, tham nhũng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng; việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hơn chục năm nay "vẫn trơ ra như đá, như nước đồ đầu vịt", là “công dã tràng”, luôn là "chuyện xưa mà rất mới" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tung trên mạng xã hội là sự xuyên tạc, vu khống, kích động nhân tâm cần phải bác bỏ!.

Thực tế là, Đảng cũng là một thực thể xã hội. Trong nội bộ Đảng, có đại đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu, tiền phong; song đi liền cùng đó, cũng không thiếu những "con sâu làm rầu nồi canh", những người suy thoái, biến chất như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Cán bộ ta nhiều người "cúc cung tận tụy", hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”(3). Cho nên, bất kỳ ở đâu và lúc nào, mỗi tổ chức cơ sở Đảng trong cả hệ thống chính trị cũng phải thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, chỉnh đốn tổ chức gắn với bảo vệ chính trị nội bộ trên tinh thần "không sợ có khuyết điểm", "chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi"(4) để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh từ chi bộ, làm cho Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời, để kịp thời phát hiện và đưa ra khỏi Đảng những người đã rời xa lý tưởng cách mạng, thiếu rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt… Vai trò và ý nghĩa sâu sắc của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là như thế, chứ không phải "là giữ cho Đảng khỏi vỡ từ trong lòng chế độ" như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Sự thật này cũng cho thấy, việc chỉ nhìn hiện tượng mà quy kết bản chất khi nhận định tình trạng cán bộ, đảng viên "cứ thi nhau chuyển hóa tư tưởng, tự tìm đường thoát ra khỏi ao tù tư duy một chiều, giáo điều và bảo thủ cộng sản của Đảng" và "xem ra công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng kéo dài bao nhiêu thì càng có thêm nhiều cán bộ, đảng viên xấu xuất hiện để làm khổ dân, nhưng đồng thời cũng lộ ra thất bại của Đảng" của các thế lực thù địch chính là sự suy diễn vừa hồ đồ vừa vô căn cứ, cần phải bác bỏ!

Tựu trung lại, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện theo quan điểm “kiên quyết, thận trọng, khách quan, toàn diện” kết hợp với phương châm “tích cực, chủ động phòng ngừa, tự bảo vệ mình là chính” là nhằm mục đích xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng các cấp, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò và nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”, Quy định số 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, hướng dẫn số 19-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, hướng dẫn thực hiện một số Điều trong Quy định số 126-QĐ/TW gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII; với Chỉ thị 03, Chỉ thị 05, Kết luận 01; với Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về "Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền" và các Quy định 47, 55, 08 về nêu gương… để xây dựng Đảng. Đồng thời, cần phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên chân chính gắn với việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm… để nhằm tự bảo vệ mình và bảo vệ tổ chức.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần được triển khai thực hiện sâu sắc, toàn diện, hiệu quả. (Trong ảnh: Các đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng) _Ảnh: TTXVN


Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp không chỉ phải kịp thời nắm bắt tình hình chính trị nội bộ, những vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự cấp ủy… mà còn phải chủ động phối hợp và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan để nắm tình hình, giải quyết những vụ, việc mới phát sinh, nhất là những cơ quan, địa phương, đơn vị có đơn, thư tố cáo, khiếu kiện kéo dài gây mất đoàn kết, thống nhất nội bộ. Việc giải quyết những vấn đề thuộc về tình hình chính trị nội bộ cần đúng quy định, đảm bảo tính minh bạch, khách quan, khoa học, tránh suy diễn chủ quan để không chỉ góp phần củng cố khối đoàn kết, thống nhất nội bộ, tạo ra được sự đồng thuận cao trong nội bộ mà còn không để cho các đối tượng xấu, cơ hội có điều kiện lợi dụng tình hình nhằm bôi đen, xuyên tạc, vu khống, kích động, gây ảnh hưởng sự ổn định nội bộ nói riêng, ổn định xã hội nói chung.

Đồng thời, cùng với việc cần phải tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là việc phát huy hơn nữa vai trò của từng tập thể, của người đứng đầu cấp ủy trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp, toàn diện của cấp ủy trong công tác này, để công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại mỗi tổ chức Đảng góp phần làm cho Đảng trong - sạch - vững - mạnh từ cơ sở./.

TS. Văn Thị Thanh Mai 
TS. Trần Thị Bình

------------------------------------------- 

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự thật, H, 2016, tr.207-208

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2021, t.1, tr.92

(3) (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.4, tr.20, 20. 

 

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

“Dân thụ hưởng” - một trong những điểm mới quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII

(TG) - “Dân thụ hưởng” là một trong những điểm mới quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII trong tổng thể phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại nhất của Đảng và của dân tộc ta trong năm 2021.

Lấy dân làm gốc là bài học truyền thống trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tầm quan trọng của việc lấy dân làm gốc trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Người từng nhấn mạnh: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(1). Người cũng đã đặt nền tảng tư tưởng cho phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mà Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng, phát triển ngày càng sâu sắc.

Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn 35 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung một nội dung mới quan trọng và vô cùng ý nghĩa, đó là “Dân thụ hưởng”, với phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(2). Điều này cho thấy, Đảng ta luôn chú trọng đặt quyền lợi của người dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối của mình với mục đích cuối cùng là người dân được thụ hưởng thành quả.

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NGƯỜI DÂN

Khái niệm “dân thụ hưởng” thể hiện sự quan tâm thiết thực đến đời sống của người dân, nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển. Đồng thời, khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn các lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người hăng hái cống hiến, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của xã hội. Mối quan hệ biện chứng giữa thụ hưởng và cống hiến nếu được thực hiện được đúng sẽ tạo ra một xung lực mới trong quá trình phát triển đất nước. Từ đóhoàn thiện và hiện thực hóa thêm một bước tư tưởng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân

Khi nói dân thụ hưởng nghĩa là đang nhấn mạnh việc thực hiện hóa nội dung “có làm có hưởng”. Đồng thời, nhấn mạnh đến sự bao trùm, đến đa số nhân dân, mọi giai cấp, mọi tầng lớp đều có cơ hội bình đẳng về mặt thụ hưởng thành quả của sự phát triển; chứ không chỉ là một số nhóm xã hội hay những tầng lớp có ưu thế hơn. Hơn thế, khi nói dân thụ hưởng không phải chỉ đơn thuần là Đảng muốn hướng đến ý nghĩa sâu xa, bao quát, mà đó chính là việc thỏa mãn các lợi ích chính đáng, đa dạng trong xã hội của người dân, để biến lợi ích trở thành động lực cho sự phát triển. Đây là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực hoàn thiện các chủ trương, đường lối của Đảng trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước.

Đảng ta từ khi thành lập đến naytrong tất cả các cương lĩnh đều lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân, giải phóng giai cấp. Từ cương lĩnh lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba rồi các văn kiện đại hội đều đặt nhân dân là mục tiêu để phấn đấu. Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(3). Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(4). Đây chính là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta.

Tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta nêu quan điểm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình”(5)Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ cần phải xây dựng cơ chế cụ thể trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, làm chủ trực tiếp bằng hình thức tự quản, bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhấn mạnh: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”(6). Văn kiện Đại hội XII cũng khẳng định: “vai trò của nhân dân đã được phát huy trong việc bảo đảm việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát(7).

Có thể thấy, việc bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Ngay ở Điều 1 Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Ðiều 2), “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3)...

THỰC TIỄN THỰC HIỆN DÂN CHỦ THỜI GIAN QUA

Thời gian qua, nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác kiểm tra, giám sát được tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đạt được những kết quả quan trọng. Thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính có sự nỗ lực, sáng tạo đáng ghi nhận. Công tác đối thoại, tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được quan tâm, chú trọng hơn. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có nhiều tiến bộ. Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, tổ hòa giải ở cơ sở nhiều nơi hoạt động khá hiệu quả, phát huy được dân chủ trực tiếp của nhân dân tại địa bàn dân cư.

"Nhà nước tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt các chủ trương, chính sách; nắm được những thủ tục hành chính giải quyết các công việc liên quan; biết được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về sử dụng đất đai, dự toán, quyết toán ngân sách... Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được cụ thể hóa trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội."

Ở cơ sở, người dân đã chủ động bàn bạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình.… tạo khí thế phấn khởi, khích lệ các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua, góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn, giành được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; nâng cao vị thế đất nước ta trên trường quốc tế.

Việc bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong mối tương quan so sánh với nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước, thực tiễn dân chủ ở Việt Nam vẫn còn có những hạn chế, bất cập, cả ở việc nhận thức, thực hành, phát huy dân chủ và giám sát và phản biện xã hội; chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp.

Công tác tuyên truyền, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa kịp thời và thực chất; nhiều nơi thực hiện còn mang tính hình thức, chậm trễ. Cơ chế công khai các nội dung liên quan ở nhiều địa phương, cơ sở còn chưa đầy đủ. Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân tham gia bàn và quyết định các vấn đề của địa phương, giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ở một số nơi còn thiếu thực chất. Việc thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu vực dân doanh còn nhiều hạn chế, vướng mắc; có lúc, có nơi còn tình trạng vi phạm dân chủ, gây bức xúc, khiếu kiện đông người, vượt cấp. Việc nắm tình hình và xử lý các vi phạm quyền làm chủ của nhân dân chưa kịp thời. Số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến các cơ quan chức năng còn cao; việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo chưa được như mong muốn; chưa khắc phục được tình trạng chính quyền ở không ít nơi chưa đối thoại với công dân...

"Bên cạnh những bức xúc dẫn đến khiếu kiện, xuất phát từ tình trạng tiêu cực, quan liêu của bộ máy công quyền ở một số nơi, thì vẫn còn một bộ phận người dân lợi dụng dân chủ để yêu cầu, đòi hỏi không chính đáng, không đúng pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, thậm chí bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia biểu tình, gây rối, tụ tập đông người, làm mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, vi phạm pháp luật."

Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, có thể nói việc phát huy dân chủ ở không ít nơi vẫn còn mang tính hình thức. Theo đó, quá trình thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Khi việc thực hiện dân chủ còn những khiếm khuyết, thiếu thực chất và chưa đầy đủ, thì đó sẽ là một rào cản lớn đối với sự phát triển của đất nước. Đó còn là sự lãng phí nguồn lực nội sinh - không thể mở rộng cơ hội để huy động một cách triệt để, hiệu quả các nguồn lực, trước hết là trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân tham gia vào sự phát triển. Sự hạn chế về dân chủ còn khiến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là sức mạnh tinh thần và văn hóa khó tránh khỏi bị phân tán, lãng phí.

Nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập vẫn là do chưa thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương, phương châm của Đảng, chưa phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân vào mọi “ngõ ngách” của đời sống, dẫn đến việc hiểu và thực hiện chưa thống nhất.

Nghị quyết Đại hội XIII đã bổ sung, cụ thể thêm một bước tư tưởng phục vụ nhân dân trong đường lối chủ trương của Đảng. “Dân hưởng thụ” chính là sự phát triển về chủ trưởng, quan điểm của Đảng, có ý nghĩa thiết thực, quan trọngTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “…trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(8). Theo đó, xây dựng và phát huy nguồn lực con người là động lực quan trọng, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ tới. Nói cách khác, nhân dân được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình đưa chủ trương quyết sách của Đảng vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới là khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Để “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(9), đảm bảo người dân được thụ hưởng, cần chú trọng những yếu tố và điều kiện sau đây:

Một là, để quan điểm, chủ trương “dân giám sát và dân thụ hưởng” của Đảng được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn cần quyết tâm rất lớn từ nhận thức đến hành động của cả hệ thống chính trị. Nhận thức phải thống nhất từ trên xuống dưới, nhất là đối với cơ sở.

Phương châm “dân thụ hưởng” chỉ trở thành hiện thực khi mối quan hệ giữa người dân và chính quyền trở thành dịch vụ công ích minh mạch, chứ không phải “xin - cho” hay “ban phát”. Theo đó, cần có hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho cấp ủy, tổ chính quyền các cấptạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, các hội hợp pháp phối hợp chặt chẽhoạt động thuận lợi. Ban Dân vận cấp cơ sở tham mưu cho cấp ủy đảng các bộ ngành quan tâm rà soátquán triệt và thực hiện nghiêm túc những nội dung liên quan đến phát huy quyền làm chủ của nhân dânthực hiện quy chế dân chủ, đẩy mạnh phương châm “dân thụ hưởng”.

Hai là, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(10). Thực hiện công bằng xã hội phải gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo đảm nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, tạo hành lang pháp lý để kiến tạo mô hình hệ thống an sinh xã hội với các trụ cột cơ bản (phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro).

Ba làphải có chế tài cụ thể để đảm bảo điều kiện thực thi “dân giám sát, dân thụ hưởng”. Theo đó, nếu không làm hoặc làm sai thì phải chịu trách nhiệm. Thậm chí, nếu gây khó dễ cho vai trò giám sát, lợi ích của dân, gây ảnh hưởng đến lợi ích, quyền lợi chính đáng của dân thì phải bị xử lý trách nhiệm và đền bù thỏa đáng. Chỉ có như vậy mới khắc phục được tình trạng chế tài chưa đủ mạnh, chưa đủ tính răn đe; dẫn đến đường lối đúng, chủ trương hay nhưng lại bị “méo mó, biến dạng” khi đưa vào thực tiễn cuộc sống.

Cần phát huy quyền làm chủ của người dân gắn quyền lợi với trách nhiệm. Khuyến khích, nâng cao nhận thức cho người dân, tạo điều kiện thúc đẩy việc lắng nghe, trao đổi, đối thoại. Củng cố cơ chế khiếu nại, tố cáo cho hiệu quả. Cần có hình thức trọng tài bảo vệ quyền của người dân khi bị ảnh hưởng.

Bốn làbồi dưỡng, giáo dục, củng cố, phát huy năng lực, tư duy hiện đại và thái độ vì dân phục vụ, tận tụy và cống hiến của đội ngũ công chức, viên chức trong bộ máy công quyền. Cán bộ, công chức phải thực sự cầu thị, coi trọng ý kiến, phản ánh của người dân cũng như gần gũi, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và bức xúc của người dân để đối thoại, tiếp thu, phản hồi, xử lý nhanh nhạy, kịp thời và hiệu quả. “Dân thụ hưởng” phải được bắt đầu từ việc “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(11) của đội ngũ công chức, viên chức. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị phải luôn thấm nhuần bài học: Đảng ta lấy lợi ích của nhân dân để định hướng mục tiêu lãnh đạo, lấy sự ủng hộ của nhân dân làm chỗ dựa cho hành động; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo kết quả.

Năm làtiếp tục đẩy mạnh có chất lượng việc sắp xếp tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả bộ máy hành chính, công quyền, trong đó tập trungXây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước(12). Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, tăng cường phân công, phân cấp; mạnh dạn trao quyền tự chủ cho địa phương, cơ sở, nhấn mạnh trách nhiệm và phát huy sáng tạo của người đứng đầu. Bảo đảm sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trên cơ sở Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước, và của cán bộ, công chức, viên chức(13) để mọi người dân đều được thụ hưởng công bằng, bình đẳng./.

TS.Nguyễn Ngọc Ánh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

_______________________

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.13, tr.164.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.2, tr.249, 248.

(3) (4) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.12, tr.402, 498.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, tr.72-73.

(6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIINxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr.38, 169.

(8) (9) (10) (12) (13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.1, tr.27-28, 172-173, 28, 118, 118.

 

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các sự kiện quan trọng của đất nước

Chiều 28/4, tại Hà Nội, Bộ Công an tổ chức Hội nghị giao ban để đánh giá tình hình, kết quả công tác Công an tháng 4/2021. Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì Hội nghị.

Cùng dự Hội nghị có các đồng chí trong Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ và Công an TP Hà Nội.

Bộ trưởng Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị.

Trình bày Báo cáo tình hình, kết quả công tác Công an tháng 4/2021 và nhiệm vụ công tác Công an tháng 5/2021, Trung tướng Tô Ân Xô - Chánh Văn phòng Bộ Công an nêu rõ: Trong tháng, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã tập trung chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội...

Nổi bật, lực lượng Công an nhân dân đã nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước những chủ trương, giải pháp phù hợp, bảo đảm an ninh, lợi ích quốc gia, thực hiện có hiệu quả các chính sách đối ngoại, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; tích cực triển khai các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; đẩy mạnh thực hiện cao điểm phòng, chống xuất nhập cảnh trái phép, liên tục bóc gỡ các đường dây tổ chức xuất nhập cảnh trái phép tại các địa phương, góp phần tích cực phòng, chống dịch bệnh COVID-19; chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm; giải quyết hiệu quả các vấn đề nổi lên về an ninh xã hội.

Toàn cảnh Hội nghị.

Công an các đơn vị, địa phương đã triển khai quyết liệt các kế hoạch, biện pháp công tác đấu tranh với tội phạm, nhất là đấu tranh trấn áp mạnh tội phạm có tổ chức, liên quan “tín dụng đen”, siết nợ, đòi nợ thuê, tội phạm cướp, cướp giật, đánh bạc... 

Cụ thể, tháng 4/2021, lực lượng Công an đã điều tra, khám phá 3.009 vụ phạm tội về trật tự xã hội, bắt giữ gần 6.500 đối tượng; triệt phá 155 băng, nhóm tội phạm; bắt giữ, xử lý gần 500 vụ, gần 3.000 đối tượng đánh bạc, tổ chức đánh bạc; đã phát hiện hơn 2.200 vụ, hơn 3.000 đối tượng phạm tội về ma túy, thu giữ hơn 200 kg heroin, cần sa và hàng trăm nghìn viên ma túy tổng hợp.

Bên cạnh đó, lực lượng Công an cũng đã tập trung thực hiện kết luận của đồng chí Tổng Bí thư -  Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo; đẩy nhanh tiến độ điều tra các vụ án kinh tế liên quan chức vụ, tham nhũng, nhất là các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo. Đồng thời, toàn lực lượng Công an cũng đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Dự án sản xuất, cấp, quản lý Căn cước công dân; qua đó đã xuất hiện nhiều gương điển hình, nhiều hình ảnh đẹp của người chiến sỹ Công an, được các tầng lớp nhân dân ghi nhận, đánh giá cao... 

Trong tháng, đã có 15.660 tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng vì có thành tích xuất sắc trên các mặt công tác; 53 lượt tập thể, cá nhân lập thành tích xuất sắc được lãnh đạo Bộ Công an khen thưởng đột xuất...

Các đại biểu tham dự Hội nghị.

Phát biểu kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Tô Lâm ghi nhận, biểu dương tinh thần nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn của cán bộ, chiến sỹ Công an các đơn vị, địa phương trong tháng qua.

Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh, thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến nhanh, phức tạp; tình hình dịch bệnh COVID-19 tiềm ẩn nhiều nguy cơ; tình hình tội phạm hình sự đặt ra nhiều thách thức, tác động ảnh hưởng đến an ninh, trật tự; tháng 5/2021 cũng là tháng diễn ra nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước... Do đó, Công an các đơn vị, địa phương cần tăng cường nắm chắc tình hình, bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng của đất nước, trọng tâm là bảo đảm an ninh, trật tự bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xây dựng phương án đấu tranh, phản bác, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động...

Bộ trưởng Tô Lâm lưu ý, Công an các đơn vị, địa phương nhất là các địa phương có đường biên giới cần tiếp tục nâng cao cảnh giác, phối hợp tốt với các đơn vị chức năng của Bộ Công an thực hiện tốt công tác quản lý xuất, nhập cảnh, đấu tranh có hiệu quả với các hành vi xuất nhập cảnh trái phép, là nguy cơ lây lan dịch bệnh COVID-19.

Trên lĩnh vực phòng, chống tội phạm, Công an các đơn vị, địa phương cần làm tốt hơn nữa công tác phòng ngừa tội phạm; tăng cường các giải pháp kiềm chế, kéo giảm phạm pháp hình sự; chú trọng và nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác, tin báo tội phạm... Đẩy nhanh tiến độ kết thúc điều tra, đề nghị truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo theo kế hoạch, khẩn trương đưa ra xét xử đối với các vụ án trọng điểm, dư luận xã hội quan tâm.

Bộ trưởng Tô Lâm cũng biểu dương sự nỗ lực, cố gắng của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội trong thực hiện Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Dự án sản xuất, cấp, quản lý Căn cước công dân; nhấn mạnh việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo đảm tiến độ thực hiện các dự án này; đồng thời yêu cầu Công an các đơn vị, địa phương làm tốt hơn công tác tuyên truyền, phối hợp tuyên truyền, phản ánh đậm nét hình ảnh gắn bó giữa lực lượng Công an với người dân, để vừa nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, đồng thời làm sâu sắc hình ảnh đẹp của người chiến sỹ Công an trong lòng nhân dân...

Trần Xuân

 

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

Tính khoa học, hiện thực của Văn kiện Đại hội XIII - Sự thật khách quan bác bỏ các luận điệu xuyên tạc

(TG) - Hệ thống quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đại hội XIII, với những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, phong phú, sinh động là tất yếu bảo đảm tính khoa học, hệ thống, vừa toàn diện, vừa lịch sử, cụ thể và khả thi.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã được tiến hành 35 năm và đạt “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, đất nước ta chưa bao giờ có “cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế” như hiện nay. Vì vậy, Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045. Các văn kiện Đại hội, theo đó, phải vừa đề ra quan điểm chỉ đạo mang tính tổng kết thực tiễn, khái quát, hệ thống hóa lý luận; vừa cụ thể hóa thành các chủ trương, giải pháp phát triển đất nước trong từng giai đoạn, trên từng vấn đề...
Tuy nhiên, sau khi Đại hội diễn ra thành công rất tốt đẹp, các văn kiện Đại hội được thông qua và công bố, thì những thế lực thù địch và thành phần bất mãn, ấu trĩ lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, rằng các quan điểm và giải pháp của Đại hội XIII đưa ra “dày như gai mít”, chồng chéo, cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được. Vậy, bản chất của luận điệu này là gì?
Xét về logic hình thức, luận điểm phản động trên chỉ nhìn nhận một vài lát cắt của vấn đề, đi vào từng ý tiểu tiết, cố tình cô lập với chỉnh thể, vi phạm phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử. Chẳng hạn, khi cho rằng các quan điểm và giải pháp mà Đại hội đưa ra là dày đặc, chồng chéo, họ chỉ mới xem xét trên từng vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng - an ninh, từng nội dung, giải pháp cho mỗi vấn đề đó mà chưa đồng thời đặt trong tính toàn diện, hệ thống, tính lịch sử - quá trình của toàn bộ các quan điểm, vấn đề cần xem xét. Muốn đúc rút kinh nghiệm của 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII (2006-2021), nhận định, dự báo về tình hình, xu thế hiện tại và tương lai phát triển của đất nước, tất yếu phải đánh giá thành tựu và hạn chế của giai đoạn này. Tiếp đó, khi đề ra quan điểm, chủ trương, giải pháp phát triển của giai đoạn 5 năm 2021-2026, định hướng đến 2030, tầm nhìn đến 2045, đương nhiên cần kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm, chủ trương, giải pháp đã có. Tương tự như vậy, quan điểm, chủ trương, giải pháp trên từng lĩnh vực phải vừa phù hợp với nhận thức về vấn đề chung, khái quát là mô hình và con đường quá độ lên CNXH của đất nước, vừa phải thể hiện tính kế thừa, phát triển trong tư duy của Đảng ở mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử.
Xét về nội dung, luận điệu “các quan điểm và giải pháp của Đại hội XIII cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được” đang giải thích sai hoặc cố tình đánh tráo luận đề về một số vấn đề cơ bản trong các văn kiện của Đại hội. Điển hình là việc họ cho rằng đã “kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn”(1), tức là con đường độc lập dân tộc gắn với CNXH thì không thể áp dụng “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, bởi đó là sản phẩm đặc thù, là “con đẻ” của chủ nghĩa tư bản. Họ cho rằng, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một mô hình “không giống ai” khi kết hợp khiên cưỡng, bằng cách áp đặt chủ quan ý chí của Nhà nước Việt Nam vào quá trình hình thành, vận động và phát triển của kinh tế thị trường - vốn phải hoàn toàn tuân thủ các quy luật kinh tế…(!).
Trên cơ sở thực tiễn lịch sử nhân loại và kinh nghiệm của chính Việt Nam, Đảng ta đã đúc rút những kết luận hết sức quan trọng: Việt Nam quá độ lên CNXH “bỏ qua” hình thái kinh tế - xã hội TBCN “tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại(2). Kinh tế thị trường vốn không phải là sản phẩm riêng có của CNTB mà là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường thực chất là kinh tế hàng hóa ở trình độ phát triển cao, có mầm mống từ giai đoạn cuối của xã hội chiếm hữu nô lệ; CNTB phát triển kinh tế thị trường lên trình độ cao chứ không sinh ra nó. Như vậy, để xây dựng thành công CNXH, Đảng xác định quan điểm phát triển “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện tư duy biện chứng, kế thừa, đổi mới và phát triển. Đồng thời, từ quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là tại Đại hội XIII, Đảng cũng đã dần bổ sung, phát triển nhận thức về “định hướng XHCN” trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay; chỉ ra hệ thống chủ trương, giải pháp để từng bước hiện thực hóa, phát huy tác dụng của mô hình kinh tế ấy.

Trên cơ sở "điểm mặt, chỉ tên" những luận điệu nêu trên, để bác bỏ nó, chúng ta cần làm rõ các căn cứ cơ bản sau:


Thứ nhất, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, đường lối của Đại hội XIII nói riêng được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, đặc biệt là thực tiễn của sự nghiệp đổi mới 35 năm qua.

Về lý luận, đó là sự “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” về mô hình và con đường quá độ lên CNXH; về xây dựng Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; về phát huy dân chủ, “dân là gốc”; về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; về phát triển hài hòa kinh tế - văn hóa - xã hội - bảo vệ môi trường, đề cao mục tiêu vì con người. Đó còn là sự kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện tập trung ở các quan điểm: “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3);“chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số…, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư…(4).

Về thực tiễn, những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong sự nghiệp đổi mới, cụ thể là trong nhiệm kỳ khóa XII chứng tỏ hệ thống quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng qua nhiều kỳ đại hội đã có tính khả thi rất cao, phát huy được giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn của mình. Đại hội XIII đánh giá đó là những thành tựu “rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật”. Cụ thể, trong 35 năm đổi mới, kinh tế nước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 6%/năm). Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, kinh tế vĩ mô được ổn định vững chắc. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, được tiến hành toàn diện, đồng bộ, hiệu quả trên tất cả các mặt. Trước tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chúng ta đã chủ động xử lý thành công các tình huống, không để bị động, bất ngờ, giữ vững an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trật tự, an toàn xã hội. Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu. Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động mạnh đến tình hình thế giới và trong nước, gây nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội, Việt Nam vẫn đạt kết quả, thành tích quan trọng, được thế giới ghi nhận, ngưỡng mộ. Đặc biệt, chúng ta đã kịp thời khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan của COVID-19 trong cộng đồng; giảm thiểu những tổn thất, thiệt hại do dịch bệnh gây ra, đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân; thực hiện thành công “mục tiêu kép” - vừa khống chế, ngăn chặn đại dịch, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống và an toàn cho người dân. Những điều này khiến Việt Nam trở thành “điểm sáng” trong bức tranh kinh tế toàn cầu và thể hiện rõ rệt tính ưu việt, nhân văn của chế độ XHCN.

Thứ hai, các quan điểm, chủ trương, giải pháp được Đại hội XIII đưa ra không phải trên “mảnh đất trống” về nhận thức mà dựa trên sự kế thừa, phát triển những quan điểm chỉ đạo, giải pháp đã có từ nhiều kỳ đại hội trước đó. Nhiều vấn đề mang tính nguyên tắc luôn được thể hiện trong các văn kiện Đảng một cách nhất quán: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên định đường lối đổi mới của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; chủ trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị XHCN, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia… Vì vậy, không thể nói rằng: những quan điểm, giải pháp được Đảng đề ra trước đây đã mang lại hiệu quả thiết thực, đến Đại hội XIII tiếp tục kế thừa, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới lại không thể thực hiện được.


Thứ ba, các quan điểm, chủ trương, giải pháp mà Đại hội XIII đưa ra đã được thể hiện trong Dự thảo Văn kiện Đại hội, được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh sửa nhiều lần; được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách nghiêm túc, tính toán từng từ, từng câu. Dự thảo Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp” nên sau khi được thông qua tại Đại hội và bổ sung, chỉnh sửa càng được nâng tầm giá trị(5). Biểu hiện cụ thể là:


1) Các quan điểm, chủ trương, giải pháp được Văn kiện Đại hội trình bày theo phương pháp chủ yếu là lịch sử kết hợp với logic, bảo đảm tính khoa học, phù hợp thực tiễn. Nội dung được chia tách thành từng mảng vấn đề bám sát lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình, con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Điều này khiến người đọc, người nghiên cứu nhận thức rõ sự “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” trong đường lối của Đảng và dễ theo dõi, quán triệt, thực hiện…


Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hội XIII là một minh chứng sinh động. Cấu trúc cơ bản của Báo cáo được thể hiện theo trục lịch sử: Từ tổng kết, đánh giá “kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và cơ đồ đất nước sau 35 năm đổi mới” đến “tầm nhìn và định hướng phát triển” trong các giai đoạn tới (bao gồm nội dung dự báo tình hình, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, định hướng chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển 10 năm 2021-2030). Sau khi trình bày mục tiêu, quan điểm, định hướng phát triển khái quát trên tất cả các lĩnh vực của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Báo cáo đi vào phân tích chủ trương, giải pháp trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Đó là các thành tố thuộc từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng: từ mô hình tăng trưởng đến thể chế kinh tế; từ giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, trong đó chú trọng vấn đề tài nguyên, môi trường đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại; từ củng cố, phát huy nền tảng, động lực của hệ thống chính trị là khối đại đoàn kết toàn dân tộc đến xây dựng, hoàn thiện các thiết chế của hệ thống chính trị là Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên… Cuối cùng, Báo cáo chính trị chốt lại “Những nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII” để cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nắm vững và chú trọng thực hiện.


2) Văn kiện Đại hội có văn phong súc tích, từ ngữ chắt lọc, mỗi nhận định, đánh giá, nội dung bổ sung đều có căn cứ, lý do xác đáng, thể hiện tư duy kế thừa, đổi mới, phát triển.


Ví dụ, trong nhận định, đánh giá về nhiệm kỳ Đại hội XII và tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội khẳng định: Chúng ta đã đạt nhiều thành tựu “rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật”. Gắn với đánh giá đó, Văn kiện dẫn giải, phân tích căn cứ thực tiễn xác đáng là thành tựu trên từng lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng, có số liệu thống kê định lượng chứng minh. Kết hợp với những nhận xét, đánh giá của đại diện chính phủ các nước trên thế giới/các tổ chức quốc tế, của truyền thông và dư luận quốc tế, khẳng định của Đại hội XIII càng tăng thêm giá trị thuyết phục. Hoặc, Đại hội bổ sung mối quan hệ cơ bản cần chú trọng bảo đảm là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế, đảm bảo kỷ cương xã hội; nhấn mạnh một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm là “quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; tăng cường bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu”(6). Đây là sự kế thừa quan điểm về các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình quá độ lên CNXH, đồng thời cập nhật những diễn biến mới của tình hình kinh tế - xã hội, thực trạng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường gia tăng ở trong nước và xu thế phát triển chung của thế giới.


Điển hình là quan điểm của Đảng về “kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Khái niệm này trong Văn kiện Đại hội XIII thể hiện rõ nét quá trình tư duy mang tính kế thừa, bổ sung, phát triển của Đảng. Tại Đại hội IX, Đảng ta lần đầu tiên nêu khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” - là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và “chịu” sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH. Đến Đại hội X và XI, Đảng chỉnh sửa chữ “chịu” thành “được” trong “được sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH”. Đại hội XII bổ sung, điều chỉnh thêm một bước khái niệm cho phù hợp yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế thị trường ở nước ta: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7). Điểm mới ở đây là sự nhấn mạnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trước hết cần “vận hành đầy đủ, đồng bộ” theo các quy luật của kinh tế thị trường, giảm thiểu, đi đến xóa bỏ sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính, mang tính chất chủ quan, duy ý chí của các cơ quan quản lý nhà nước, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật kinh tế như: Quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh… Điều này thể hiện sự thay đổi toàn diện, triệt để tư duy của Đảng về kinh tế thị trường theo hướng coi kinh tế thị trường là cơ chế vận hành của toàn bộ nền kinh tế, quyết định việc phân bổ mọi nguồn lực đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất, kinh doanh.

Một nét mới nữa trong khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” tại Đại hội XII là luận điểm: “Bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Nhận thức này góp phần giải quyết sự khó khăn, vướng mắc giữa lý luận với thực tiễn, khi mà thành phần kinh tế nhà nước, công cụ chủ yếu để Nhà nước ta điều tiết nền kinh tế theo định hướng XHCN trên thực tế chưa tạo ra đa số việc làm cho xã hội cũng như đóng góp tỉ trọng ưu thế trong cơ cấu GDP so với thành phần kinh tế tư nhân. Cùng với đó, Đảng định hình rõ nét hơn thế nào là “thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” theo hướng coi trọng vai trò “định hướng, dẫn dắt, thúc đẩy” các thành phần kinh tế khác hoạt động vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” hơn là căn cứ chủ yếu vào tỉ trọng đóng góp của thành phần kinh tế này trong cơ cấu GDP. Một vài thuật ngữ khi lý giải về các tiêu chí của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng được bổ sung, điều chỉnh: Quan hệ sản xuất “tiến bộ, phù hợp” thay cho “công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”, “chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, an sinh xã hội” thay cho "phúc lợi xã hội"…


Tại Đại hội XIII, khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” được xác lập như sau: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(8). Xuất phát từ thực tiễn quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, ngày càng sâu rộng, hiệu quả của đất nước và yêu cầu hiện đại hóa nền kinh tế, bắt kịp và vận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng ta bổ sung đặc điểm “là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế” khi định danh mô hình “kinh tế thị trường định hướng XHCN” của Việt Nam; còn lại, về cơ bản, khái niệm này kế thừa nhận thức của các kỳ Đại hội trước.

3) Các quan điểm, chủ trương trong Văn kiện Đại hội có tính toàn diện, tính khái quát và hệ thống hóa cao, phản ánh mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH. Đại hội không chỉ tập trung bàn về quá trình và kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới; mà còn đặc biệt tập trung phản ánh quá trình, kết quả và mục tiêu, định hướng của công tác tổ chức xây dựng Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn đã qua cũng như thời gian tới. Từ đó, lý luận của Đảng về mô hình và con đường quá độ lên CNXH ở nước ta, về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền - vấn đề trọng tâm, xuyên suốt, mang tính nguyên tắc và có giá trị chỉ đạo chiến lược trong đường lối của Đảng “ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(9).

Với chủ đề: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(10), Đại hội XIII trở thành biểu tượng kết tinh của ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(11) như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trước lúc đi xa...

Chúc mừng thành công của Đại hội XIII, trong đó có thành công của công tác nhân sự và công tác soạn thảo, thông qua các Văn kiện, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội, lãnh đạo nhiều nước trên thế giới, bạn bè quốc tế đã gửi điện, thư chúc mừng Đảng Cộng sản Việt Nam. Điện chúc mừng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc viết: “Kể từ Đại hội thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chú trọng tăng cường công tác xây dựng Đảng, dẫn dắt nhân dân Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới. Đứng trước tác động của dịch bệnh COVID-19, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy vai trò lãnh đạo kiên cường, phòng chống dịch bệnh hiệu quả, duy trì tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, thể hiện ưu thế của chế độ XHCN...”. Thư của Tổng thống Mỹ Joe Biden có đoạn: “Năm qua đánh dấu kỷ niệm 25 năm quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Quan hệ đối tác toàn diện mạnh mẽ, đầy sức sống mà hai nước chúng ta đã và đang cùng nhau xây dựng là dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tôi luôn tự hào ủng hộ mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ...”. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đánh giá: “Dưới sự lãnh đạo của ngài, Việt Nam đã phát triển vượt bậc trong thập niên vừa qua. Đại hội Đảng lần thứ XIII đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn then chốt mới của quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam”… Như vậy, chính đại diện chính phủ của các nước lớn, các nước trong khu vực và bạn bè quốc tế đã thay chúng ta khẳng định thành công của sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cũng chính là khẳng định giá trị, ý nghĩa đường lối của Đảng mà Văn kiện Đại hội XIII là sự kế thừa, bổ sung, phát triển và dần hoàn thiện./.

 

Thiếu tướng, PGS. TS. Phan Xuân Tuy
Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân
_____________________

(1) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr.10, 46, 37, 19, 52, 102, 128, 25, 14.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006 tr.179.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2009, t.2, tr.512.

  

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...