Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Tổng Bí thư: Học tập, làm theo Bác phải thấm vào tim, trong từng hành động

(Thanh tra) - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo” Bác. Ảnh: Đ.X

Sáng 12/6, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, triển khai Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. 

Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là "tài sản tinh thần vô giá"

Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta. 

“Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta, trước hết là các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước và cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện, cống hiến, phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân”, Tổng Bí thư nói.

Nói lại một cách vắn tắt về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, người đứng đầu Đảng đánh giá, thời gian qua mà gần nhất là việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, khá toàn diện, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội.

Theo Tổng Bí thư, việc thực hiện Chỉ thị 05 còn không ít hạn chế cần được khắc phục, làm tốt hơn nữa. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tham quan, nghe giới thiệu Triển lãm "Những tấm gương bình dị mà cao quý”. Ảnh: Đ.X 

“Chúng ta vui mừng với thành tích, kết quả đã làm được nhưng nhiều cái vẫn còn hình thức, nặng chạy theo thành tích, che giấu khuyết điểm, không thẳng thắn đấu tranh”, Tổng Bí thư nhấn mạnh và lưu ý, “chỉ báo cáo thành tích thì không thể tiến bộ được”.

Không nói suông, học thuộc lòng, càng không được sáo rỗng

Nhắc lại sau 35 năm đổi mới, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, nhưng theo Tổng Bí thư, thuận lợi, thời cơ đan xen với khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp, cấp bách hơn đối với công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, hòng lật đổ Đảng ta, chế độ ta. 

Từ đó, Tổng Bí thư yêu cầu, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị cần phát huy những kết quả đã đạt được trong những năm qua, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trong đó, chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Giải thích cụ thể, theo Tổng Bí thư, học tập Bác là học tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức cách mạng và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính. Làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự thấm nhuần tư tưởng của Bác, thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm…

Làm theo Bác là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, chứ “không chỉ nói suông, không chỉ học thuộc lòng, càng không sáo rỗng” mà phải thấm vào tim, trong từng hành động.

Tổng Bí thư nêu rõ, phải hiện thực hoá bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đề cao chức trách, đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta. Ảnh: Đ.X 

Đồng thời, giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn, trên nền tảng, kim chỉ nam là tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin trong mọi hành động.

Nêu gương, dám nghĩ, dám làm có hiệu quả thì dân tin

Thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập và làm theo Bác là nêu gương. Theo Tổng Bí thư, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo.

“Phải thể hiện được tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể, theo tinh thần Bác đã dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, Tổng Bí thư phát biểu và cho rằng, “cứ làm, có hiệu quả thì dân tin”.

Tổng Bí thư cũng lưu ý, quá trình thực hiện ba nhiệm vụ nêu trên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược; “chồng” là quan trọng, cấp bách. Đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”.

“Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân không trong sáng nào”, Tổng Bí thư thư nêu rõ. 

Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Người đứng đầu Đảng mong rằng, sau hội nghị việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, ngày càng đi vào chiều sâu, ngày càng thiết thực hiệu quả, phấn đầu đưa nước ta vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thực hiện được tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu.

Hương Giang

 

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Không gì có thể phủ nhận tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Tất Thành

QĐND Online – Gần đây, có một số người chỉ dựa vào thư của Nguyễn Tất Thành viết ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống Pháp xin vào học Trường Thuộc địa (École Coloniale) ở Paris và sự từ chối của giám đốc trường này để rồi quy chụp rằng “Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan, để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân…”.

Đó là lập luận với ý đồ xấu nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Là một nhà nghiên cứu lịch sử, PGS, TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có bài viết gửi Báo Quân đội nhân dân Điện tử phản bác quan điểm sai trái trên. 



Do thiếu phương pháp luận khoa học, nhất là quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm toàn diện, họ đã lấy cái cá biệt thay cho cái toàn thể, lấy một hiện tượng thay cho bản chất. Đó là thuật ngụy biện, dẫn đến những kết luận sai lầm và mang nặng tính chủ quan. Nhưng điều tệ hại hơn, những kết luận đó được không ít những người khác lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc, gây hoài nghi về tấm lòng giúp dân, cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, nhằm “hạ bệ thần  tượng Hồ Chí Minh”, làm lung lạc niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

Đã có nhiều bài viết phản bác luận điểm trên, thiết nghĩ không cần phải bàn thêm. Nhưng khảo cứu lại điều kiện lịch sử lúc đó, tôi muốn làm sáng tỏ thêm một vấn đề căn cơ hơn: Vì sao Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước? Xin tóm tắt như sau:

Trước hết, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Bến Nhà Rồng trong một bưu thiếp thời thuộc địa. Ảnh tư liệu 

Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục và anh dũng, với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy”. Nhiều phong trào yêu nước và con đường cứu nước theo các khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra liên tiếp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhưng đều không thành công. Sự nghiệp cứu nước lâm vào một “tình hình đen tối tưởng như không có đường ra”, đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải tìm một con đường cứu nước mới.

Đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do. Độc lập tự do là khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước, thôi thúc nhiều người ra đi tìm đường cứu nước, trong đó có Nguyễn Tất Thành.

Thứ hai, do sự hấp dẫn của văn minh nhân loại, nhất là khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của cách mạng Pháp.

Sinh ra và lớn lên trong một nhà Nho giàu lòng yêu nước, Nguyễn Tất Thành sớm chịu ảnh hưởng của gia đình và truyền thống văn hoá của quê hương xứ Nghệ, có sự am hiểu về Nho giáo. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá phương Đông, nhưng ở Nguyễn Tất Thành không có sự chối bỏ, hay mâu thuẫn với văn hoá phương Tây. Với tư duy văn hoá mở, Nguyễn Tất Thành cảm nhận được sự phong phú của các nền văn hóa, hướng tới một thế giới năng động và sáng tạo, nhất là nơi có khoa học, kỹ thuật phát triển và những tư tưởng mới.

Tháng 9-1905, vào tuổi 13, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân phụ Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở Vinh. Tại đây, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO – BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI và “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[1]. Trong thời gian làm thầy giáo ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết (1910), Nguyễn Tất Thành được đọc Tân thư trong gia đình cụ Nguyễn Thông, tiếp cận với các thuyết nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng, bác ái do những triết gia và văn hào Pháp khởi xướng như J.J. Rousseau, Ch. De Montesquieu, Fr. Voltaire… Nguyễn Tất Thành được đọc một số tờ báo phát hành sang Việt Nam, nên “nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao”[2].

Ý tưởng đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại từng bước lớn lên trong tâm trí Nguyễn Tất Thành, thể hiện sự mong muốn tiếp thu giá trị văn hoá nhân loại, là bước khởi động để đưa Việt Nam hội nhập vào các trào lưu tiến bộ của thời đại.

Thứ ba, nhờ trí tuệ và sự nhạy cảm về chính trị chính trị, Nguyễn Tất Thành nhận thấy sự cần thiết phải tìm một con đường mới.

Nguyễn Tất Thành nhận thấy hạn chế trong phong trào cứu nước của các vị tiền bối. Phong trào Đông Du tan rã, chứng tỏ không thể dựa vào Nhật để đánh Pháp, điều đó chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Thất bại của phong trào Duy tân cũng cho thấy việc trông chờ vào thiện chí cuả người Pháp để được trao trả nền độc lập cũng chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”. Khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn, “nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến". Chính vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của các vị tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không theo con đường của họ.

Được theo phụ thân đi nhiều nơi gặp những người cùng chí hướng để bàn luận về thời cuộc, Nguyễn Tất Thành có điều kiện mở rộng tầm nhìn, tầm suy nghĩ, thấy rõ sự thống khổ của nhân dân, nên “sớm có  chí đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào” và không khỏi băn khoăn khi thấy nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân không thành công. Làm thế nào để cứu nước là câu hỏi sớm được đặt ra trong tâm trí người thiếu niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

Năm học 1908-1909, Nguyễn Tất Thành vào học Trường Quốc học Huế, tận mắt chứng kiến cảnh thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận của những sĩ phu yêu nước về con đường cứu nước.

PGS, TS Vũ Quang Hiển. 

Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên. Họ đi tay không, chỉ đòi giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”.  Vì những hoạt động yêu nước, Nguyễn Tất Thành bị người Pháp để ý theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Sắc cũng bị chính quyền thuộc địa khiển trách vì để con trai có những hoạt động bài Pháp. Nguyễn Tất Thành được chứng kiến thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, nhà trường ca ngợi chế độ thực dân phong kiến; được nghe kể về hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước…  

Một lần trả lời nhà văn Mỹ Anna Luyxơtơrông, Nguyễn Ái Quốc nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”[3].

Thứ tư, một quyết định lịch sử của cá nhân Nguyễn Tất Thành

Được chứng kiến thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp, từ lòng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, năm 1911 Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

Trước khi đi, Tất Thành bàn với một người bạn thân: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”. Khi người bạn hỏi “lấy đâu ra tiền mà đi?”, Nguyễn Tất Thành vừa nói, vừa giơ hai bàn tay một cách tự tin và kiên quyết: “Đây, tiền đây… chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”[4].

Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba được một thuỷ thủ dẫn lên tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville), một con tàu lớn của hãng Sácgiơ Rêuyni (Charge Réuni), vừa chở khách, vừa chở hàng, gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận làm phụ bếp trên tàu. Chuyến đi được xác định.

Ngày 5-6-1911, con tàu Amiral Latouche Tréville nhổ neo, rời bến cảng Sài Gòn đi Marseille. Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, cuộc hành trình đi tìm chân lý của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu. Đó là chuyến đi một mình, không theo một tổ chức nào, cũng không có nguồn tài trợ của bất cứ ai. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc vượt qua các đại dương đầy sóng gió, tự lao động để kiếm sống, đến với nhân loại cần lao đang tranh đấu ở nhiều châu lục và quốc gia trên thế giới, ở cả phương Đông và phương Tây, cả các nước tư bản và thuộc địa.

Một thời kỳ mới trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - thời kỳ khảo nghiệm và tìm kiếm chân lý cứu nước bắt đầu.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911) không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, mà là một quyết định lịch sử, khởi đầu từ ý tưởng “làm quen với nền văn minh Pháp” xuất hiện từ thuở thiếu thời, khi được nghe các vị tiền bối luận bàn về phương thức cứu nước, cứu dân; được thôi thúc bởi thực tiễn phong trào yêu nước của nhân dân và sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Sự kiện đó thể hiện thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén của Nguyễn Ái Quốc trước những thử thách khắc nghiệt của vận nước và sự biến chuyển của thời đại. Đó là quyết định mang tính nhân văn sâu sắc, nhằm vươn tới một chân trời mới, đưa đất nước hội nhập vào trào lưu tiến hoá của nhân loại, hướng tới giải phóng triệt để con người khỏi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần.

Bản lĩnh Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, ngay từ quá trình tìm đường cứu nước, đã khởi đầu một hướng đi mới cho dân tộc Việt Nam, mà Ô. Manđenxtam cảm nhận “như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”[5].

PGS, TS VŨ QUANG HIỂN, Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] Đây là lời kể với nhà văn Liên Xô Ôlíp Manđenxtam vào năm 1923 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 477).

[2] Đây là lời Nguyễn Ái Quốc trả lời phỏng vấn của phóng viên Giôvanni Giécmanéttô (báo L’UNITÀ của Đảng Cộng sản Italia (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t. 1, tr. 465).

[3] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr. 25-26.

[4] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb, Chính trị quốc gia và Nxb. Trẻ, Hà Nội, 2005, tr. 13-14.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdđ, t. 1, tr. 463.

 

Thứ Năm, 20 tháng 5, 2021

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và kết quả thực tiễn

QĐND - LTS: Quá trình chuẩn bị Tọa đàm “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và kết quả thực tiễn”, Báo Quân đội nhân dân và Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (hai đơn vị phối hợp thực hiện) đã nhận được nhiều tham luận có nội dung sâu sắc, đánh giá khá toàn diện kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05).

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, cuộc tọa đàm không thể thực hiện theo kế hoạch, Báo Quân đội nhân dân và Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, Tổng cục Chính trị, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các địa phương trên địa bàn cả nước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài quân đội... đã quan tâm động viên, gửi tham luận tới tọa đàm. Trong số báo hôm nay, Báo Quân đội nhân dân tiếp tục trích đăng một số tham luận gửi tới tọa đàm.

Đồng chí ĐÀO HỒNG LAN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh:

Phát triển toàn diện, tiền đề vững chắc

Sau 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và các chuyên đề hằng năm học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã góp phần đưa tỉnh Bắc Ninh phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, làm tiền đề cho thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 20, nhiệm kỳ 2020-2025 đề ra.

Nhất là, trong năm 2020, mặc dù ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng kinh tế tỉnh Bắc Ninh đạt tăng trưởng dương (riêng quý I-2021 đạt 8,16%); quy mô nền kinh tế đứng thứ 8 toàn quốc; giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1,3 triệu tỷ đồng, đứng đầu toàn quốc; thu ngân sách nhà nước đạt hơn 30.500 tỷ đồng, đứng thứ 9 toàn quốc; tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; phát triển 16 khu công nghiệp tập trung; thu hút đầu tư nước ngoài lũy kế đạt gần 20 tỷ USD, đã thu hút 1.650 dự án FDI còn hiệu lực, với 33 quốc gia và vùng lãnh thổ đến làm việc tại tỉnh Bắc Ninh. Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh, chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) cấp tỉnh đứng thứ 4/63 tỉnh, thành phố; hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới vào năm 2020; hạ tầng kinh tế-xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư, diện mạo đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới, TP Bắc Ninh được công nhận là đô thị loại I; tỉnh Bắc Ninh được xếp loại đơn vị hành chính loại II và cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng văn minh, hiện đại; quan tâm chăm lo đồng bộ, hài hòa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và thực hiện tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, hộ nghèo giảm còn 1,04%. Các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa-xã hội được quan tâm với nhiều chính sách an sinh xã hội đi trước và cao hơn mức bình quân cả nước. Quốc phòng, an ninh được bảo đảm. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ, đoàn thể và hệ thống chính trị được tăng cường.

Thời gian này, Bắc Ninh tập trung chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

--------------

PGS, TS NGUYỄN XUÂN TRUNG, Trưởng khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực I:

Phong cách lãnh đạo, quản lý - Một nét đặc sắc tạo nên nhân cách Hồ Chí Minh

Phong cách lãnh đạo, quản lý của Hồ Chí Minh là một nét đặc sắc tạo nên nhân cách Hồ Chí Minh-mẫu mực của một lãnh tụ chính trị và nhà khoa học chân chính, thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn cao cả và triết lý hành động vì con người của một nhà văn hóa lớn.

Phong cách lãnh đạo, quản lý của Hồ Chí Minh thể hiện sự nhất quán, thống nhất trong việc bảo đảm các mục tiêu, nguyên tắc cơ bản của Đảng, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và những phát sinh trong thực tiễn của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý “phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là tính Đảng”. Đây là phẩm chất chính trị cơ bản, đầu tiên và quan trọng nhất đối với mỗi người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong tư tưởng cũng như thực tiễn công tác lãnh đạo, quản lý, Hồ Chí Minh luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuân thủ những vấn đề có tính cương lĩnh, quan điểm, mục tiêu của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người xác định: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”. Người đã khéo léo xử lý mối quan hệ tưởng chừng đối lập giữa tính kiên định về nguyên tắc, lý tưởng, niềm tin và tính linh hoạt, uyển chuyển trong phương pháp tư duy và hành động. Cốt lõi của quan điểm này chính là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Phong cách lãnh đạo, quản lý của Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ ở các nội dung: Kết hợp giữa nhiệt tình cách mạng với tính khách quan, khoa học; thống nhất giữa lý luận với thực tiễn; sâu sát với cơ sở, gần gũi với quần chúng nhân dân; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; khéo dùng người, trọng dụng nhân tài.

--------------

Thiếu tướng NGUYỄN QUỐC TUẤN, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3

Ba trọng tâm lãnh đạo, chỉ đạo học tập và làm theo Bác

Quân khu 3 là địa bàn chiến lược quan trọng của đất nước cả trong thời bình và thời chiến. Quá trình đồng hành cùng dân tộc, Quân khu 3 vinh dự hơn 50 lần đón Bác về thăm. Đây là tình cảm đặc biệt Bác dành cho Đảng bộ, quân và dân quân khu. Để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự lan tỏa sâu rộng và đạt hiệu quả, Cục Chính trị quân khu đã tham mưu với Thường vụ Đảng ủy, Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, cách làm, trong đó chú trọng 3 vấn đề, đó là:

Một là, xác định việc học tập và làm theo Bác là nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức đảng trong Đảng bộ quân khu. Hai là, xây dựng hoàn chỉnh bộ tiêu chí là đích phấn đấu; lựa chọn khâu đột phá là cụ thể hóa việc học tập, làm theo thành chương trình hành động, khắc phục khâu yếu, tạo sự chuyển biến rõ nét cho cơ quan, đơn vị; tổ chức đăng ký, phấn đấu là cơ sở pháp lý, xây dựng quyết tâm, tạo lập tính tự giác cho cá nhân học tập, làm theo; nhân rộng điển hình tiên tiến để tạo sức lan tỏa, đồng thuận, phấn đấu hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ được giao. Căn cứ tiêu chí chung, quân khu chỉ đạo xây dựng hoàn chỉnh tiêu chí, chuẩn mực theo hướng ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, phù hợp với từng cương vị, chức trách của tập thể, cá nhân; đồng thời khi lựa chọn khâu đột phá yêu cầu phải bảo đảm làm chuyển biến những hạn chế, yếu kém của cơ quan, đơn vị. Ba là, chỉ đạo tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng; xây dựng các mô hình, cách làm sáng tạo. Quân khu phát động nhiều đợt sinh hoạt chính trị về tổ chức sinh hoạt “tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”; giáo dục, quản lý chấp hành pháp luật, kỷ luật bảo đảm an toàn trong đơn vị. Đặc biệt, Cục Chính trị đã tham mưu, chỉ đạo xây dựng thành công các mô hình làm theo Bác hiệu quả (toàn quân khu đã xây dựng 16 mô hình). Thực hiện Chỉ thị 05, Chỉ thị 87 góp phần để Đảng bộ và LLVT Quân khu 3 luôn hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ.

---------------

Thiếu tướng VÕ VĂN HƯNG, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5

Gắn kết thi đua chặt chẽ, kết quả rõ nét

LLVT Quân khu 5 đã gắn kết chặt chẽ việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87 của Thường vụ QUTƯ với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng, cùng với đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới và các đợt sinh hoạt chính trị “Sống vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì người thân, gia đình, bè bạn”, “Giữ vững và phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” trong LLVT quân khu.

Kết quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo sức lan tỏa, xây dựng cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ có ý chí, quyết tâm cao, khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Biểu hiện cụ thể là: Trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nắng nóng gay gắt kéo dài gây hạn hán, thiếu nước sinh hoạt xảy ra nghiêm trọng trên diện rộng ở các tỉnh phía Nam, Tây Nguyên; bão lụt, sạt lở đất, cháy rừng ở các địa phương...,  LLVT quân khu luôn quán triệt, thấu suốt quan điểm “giúp dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn bảo đảm lực lượng, phương tiện để giúp nhân dân. Đặc biệt, cuối năm 2017 xảy ra bão số 12 và năm 2020 bão số 9 tràn qua các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, các cơ quan, đơn vị LLVT quân khu đã huy động hàng nghìn lượt bộ đội cùng dân quân tham gia ứng cứu, di dời người và tài sản đến nơi an toàn; chung tay dựng lại nhà cửa, tu sửa đường sá, cầu cống, kênh mương thủy lợi, giúp bà con kịp đón Tết Nguyên đán. Cũng trong năm 2020, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, LLVT quân khu vừa phải thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm vừa bảo đảm phòng, chống dịch bệnh, tổ chức cách ly công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước. Cán bộ, chiến sĩ đã không quản ngại gian khổ, chủ động khắc phục khó khăn, bảo đảm phục vụ nhân dân chu đáo, tận tụy, góp phần làm tỏa sáng hình ảnh cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

--------------

Đại tá, PGS, TS VÕ VĂN HẢI, Phó viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng:

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân (QPTD), an ninh nhân dân (ANND), xây dựng LLVT nhân dân là định hướng xuyên suốt cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định rõ: “Củng cố quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.

Trong những năm tới, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp củng cố QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Trong đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau: Một là, thường xuyên quán triệt, nâng cao chất lượng và hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về QPTD, ANND, xây dựng LLVT nhân dân vào sự nghiệp xây dựng QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Hai là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền QPTD, ANND, xây dựng LLVT vững mạnh. Ba là, tập trung xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt trong xây dựng nền QPTD; trước mắt, phải nỗ lực và quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã xác định, đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bốn là, kết hợp chặt chẽ việc xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận ANND vững chắc. Năm là, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 05, Chỉ thị 87 gắn với việc triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

---------------

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN HỮU LẬP, Chủ nhiệm khoa Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị:

Tiên phong, gương mẫu, sâu sát, lắng nghe

Trên cơ sở nắm vững những cơ hội, thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kế thừa những thành tựu đạt được sau 35 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu chủ trương “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước” để phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm thống nhất tư tưởng, ý chí, quyết tâm và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo nên sự cộng hưởng về sức mạnh, hướng mọi hoạt động vào hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đã xác định.

Muốn thực hiện nhiệm vụ này, trước hết cần phải tiếp tục củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào tính đúng đắn của con đường phát triển đất nước và vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo đó, cán bộ, đảng viên phải luôn tích cực, chủ động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực sự tiên phong, gương mẫu, tiêu biểu về đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, luôn sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, luôn sáng tạo trong triển khai thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, cần coi trọng việc hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát huy vai trò của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, chất lượng của đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của mọi chủ trương, đường lối. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực tư duy tốt, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân lên trên hết; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có phương pháp làm việc khoa học, có phong cách lãnh đạo, quản lý phù hợp, hiệu quả. 

--------------

Đại tá, ThS NGÔ ĐÌNH PHIẾM, Tạp chí Quốc phòng toàn dân:

Tự giác rèn luyện bản thân

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương mẫu mực, sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, phong cách của người cán bộ, đảng viên suốt đời “phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”. Người còn là “mực thước” về sự thống nhất giữa nói và làm; tự giác rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đây là nội dung rất quan trọng trong học tập và làm theo Bác Hồ hiện nay. Bởi, cán bộ, công chức làm việc công, không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

Thực tiễn cho thấy, mặt trái của nền kinh tế thị trường hiện nay đã sinh ra nhiều tác động có hại, coi trọng giá trị đồng tiền một cách mù quáng. Nó kích thích thói ích kỷ, tư lợi, đặt lợi ích cá nhân và gia đình lên trên lợi ích của tập thể và xã hội, rất dễ dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Nguyên nhân chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân-kẻ “giặc nội xâm”; do cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức; tự phê bình, phê bình chưa nghiêm túc; nói chưa đi đôi với làm. Việc một số cán bộ, đảng viên đã suy thoái đạo đức “bất liêm, bất chính” và bị xử lý kỷ luật, kể cả bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng vừa qua là một minh chứng rõ nhất về công tác đấu tranh chống “giặc nội xâm” là khó khăn, phức tạp, quyết liệt hơn so với đánh giặc ngoại xâm. Muốn chống “giặc nội xâm” hiệu quả thì việc làm thiết thực đầu tiên là mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải tự giác rèn luyện bản thân, ra sức thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giải pháp hữu hiệu là cùng với việc tự học tập để nâng cao trình độ mọi mặt thì còn phải: Giữ nghiêm kỷ luật, chống quan liêu; đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; gần gũi dân, hiểu dân, học hỏi dân và thường xuyên tự phê bình và phê bình; lấy hiệu quả công việc, sự tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên. 

THẮNG HẢI (lược trích)

 

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

“Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”

(TG) - Là một người tiên tri tiên lượng, nhà dự báo chiến lược thiên tài, sau khi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7/1935), trả lời nhà văn I.Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này, Nguyễn Ái  Quốc nói: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”(1)...

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (nước Pháp), tháng 12-1920 (Ảnh tư liệu)


1.
 Với một khả năng thấy trước, tiên đoán khoa học của bậc kỳ tài về tình hình thế giới và trong nước đang từng bước có những chuyển biến mau lẹ, Người thấy phải sớm về nước để tranh thủ và chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân vùng lên giải phóng. 

Trong hai năm làm việc ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa và học ở lớp nghiên cứu sinh do Viện mở (từ khoảng tháng 6/1936 đến tháng 6/1938), Nguyễn Ái Quốc luôn luôn nung nấu kế hoạch về nước. Ngày 6/6/1938, Nguyễn Ái Quốc (Lin) viết Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản. Thư nhắc đến ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc Người bị bắt giữ ở Hồng Công, đó là mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của Người. Thư đề nghị phân Người đi đâu đó, giao cho Người làm một việc gì có ích. Thư nhấn mạnh: “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(2).

Hai ngày sau, ngày 8/6/1938, Nguyễn Ái Quốc được Phòng Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản gửi báo cáo Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản đề nghị giải quyết dứt điểm cho về nước. Tháng 10/1938, Nguyễn Ái  Quốc đáp xe lửa từ ga Iarôxlápxki rời Mátxcơva đi về phương Đông.

Con đường trở về Tổ quốc từ tháng 10/1938 của Nguyễn Ái Quốc gian nan, vất vả. Trong vai Thiếu tá bát lộ quân, với bí danh Hồ Quang, Người di chuyển từ Diên An, Tây An đến Quế Lâm qua Trùng Khánh… Từ cuối tháng 7/1939 đến đầu năm 1941, Nguyễn Ái  Quốc tiếp tục di chuyển nhiều nơi trên đất Trung Quốc và có nhiều hoạt động tích cực. Người có báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương (từ năm 1936 đến năm 1938). Người làm việc ở Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây), Quý Dương (tỉnh Quý  Châu), Côn Minh (Vân Nam)… Từ đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu liên hệ được với nhiều đồng chí Việt Nam đang ở Trung Quốc và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. 

Tháng 6/1940, Nguyễn Ái  Quốc đã giới thiệu Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh Dương Hoài Nam) đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khoảng 20 ngày sau, nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (20/6/1940), Người triệu tập một cuộc họp và phân tích “việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(3). Người điện ngay cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp nói không đi Diên An học tập nữa mà phải tìm cách về nước. Khi đi Trùng Khánh, Người dặn đi dặn lại Vũ Anh và các đồng chí ở Côn Minh lo chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay. Khi biết Nhật vào Đông Dương, Người nhận định:“Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(4).

Từ tháng 10/1940, khi được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc có ý định tổ chức lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng, tổ chức đường liên lạc về nước, phát triển xuống Thái Nguyên và tiếp xúc với toàn quốc. Đầu tháng 1/1941, Người bắt đầu tổ chức lớp học, trực tiếp huấn luyện chính trị.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Một ngày trước đó (ngày 27/1, tức mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ), trong khi chuẩn bị về nước, Nguyễn Ái  Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc).

2. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục dịch (đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người giao nhiệm vụ cho Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 Đảng Cộng sản Đông Dương. Những hoạt động trên, đặc biệt là việc Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn.

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc cùng với Đảng ta đề ra chủ trương đúng đắn, thay đổi chiến lược, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là cấp thiết, hàng đầu

Xuất phát từ nhận định tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, vấn đề dân tộc, Hội nghị phân tích sâu sắc mối quan hệ vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, bộ phận và toàn thể, chỉ rõ “trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau”(5). Xác định “cần phải thay đổi chiến lược”(6), Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(7). Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng xác định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(8).

Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đề ra sáng kiến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh)

 Căn cứ vào tình hình thay đổi, sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận Việt Minh thuộc về chiến thuật vận động. Vấn đề cốt yếu là đánh đuổi được Pháp - Nhật, thực hiện cho được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh ở một số huyện như Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm đó, tại Hội nghị Trung ương 8, Người khẳng định tính thiết thực, bổ ích của một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong dân tộc Việt Nam. Mặt trận Việt Minh đã liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị để mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. 

Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng được Nguyễn Ái  Quốc chỉ rõ phải phản ánh được chính sách cứu quốc, mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu, mà hạt nhân là tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc.

“Cứu quốc” tức là quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi của toàn thể dân tộc.

Với sáng kiến thành lập Mặt trận Việt Minh, Hội nghị Trung ương 8 khẳng định: “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”(9). Việt Minh đưa ra chính sách 10 điểm được coi như “tiền Hiến pháp” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ Mười chính sách của Việt Minh phản ánh nguyện vọng chung của toàn dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và mọi tầng lớp nhân dân. 

“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

 

(Trích bài thơ Mười chính sách của Việt Minh)

 

Sau Hội nghị Trung ương 8, ngày 6/6/1941, Nguyễn Ái  Quốc có thư Kính cáo đồng bào. Trong thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(10).

Mười năm sau, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), Hồ Chí Minh nhận định: “Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân… Vì thế mà Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát với dân, cho nên Việt Minh phát triển rất mau và rất mạnh. Vì mặt trận phát triển mạnh mà Đảng phát triển cũng khá”(11).

“Không có chuyển hướng chiến lược do Cụ Hồ đề nghị thì không có Việt Minh; không có Việt Minh thì không có Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Xem đó thì rõ tầm quan trọng của sự chuyển hướng chiến lược là to lớn dường nào”(12)

-  GS. Trần Văn Giàu

Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc về nước cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Cần phải khẳng định rằng sự kiện 80 năm trước Nguyễn Ái Quốc về nước (28/1/1941) mang tầm vóc to lớn và ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Đánh giá sự kiện ngày 28/1/1941 phải gắn chặt với suy nghĩ và hành động của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian trên đường về nước.

Nguyễn Ái Quốc là con người hành động, lý luận gắn với thực tiễn. Quan điểm của Người rõ ràng: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng. Ví dụ đại đoàn kết”(13). Việc Nguyễn Ái Quốc sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết định trở về nước vì “không muốn sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bện cạnh, ở bên ngoài của Đảng” là minh chứng hùng hồn cho quan điểm lý luận Mác - Lênin thống nhất với thực tiễn cách mạng Việt Nam của Người.

Việc trở về nước của Nguyễn Ái Quốc cùng với thư Kính cáo đồng bào và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 mà Nguyễn Ái Quốc là linh hồn, đã tạo nên sự thống nhất cao độ, bền vững giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm, đường lối của Đảng. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng làm nên kỳ tích lịch sử, cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “biến người nô lệ thành người tự do”, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân, tạo điều kiện cho dân tộc ta theo kịp các nước trên hoàn cầu, bước tới đài vinh quang để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau ngày nước nhà độc lập./.

PGS. TS. Bùi Đình Phong

_____________________________________________________________

(1) (3) (4) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, H, 2016, t.2, tr.60, 99, 102.
 (2) (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, t.3, tr.117, tr.230.
 (5) (6) (7) (8) (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.7, tr.113,118,119, 113,127.
(12) Trần Văn Giàu: Mấy vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, in trong sách Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, H, 1993, t.2, tr.41.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.368.

 

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...