Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

Nghịch tử và nỗi đau bậc sinh thành

Sinh con ra, nuôi nấng chăm bẵm từ thuở lọt lòng, có bậc cha mẹ nào không thương con. Ấy vậy nhưng có những người con lại đối xử tàn tệ với bậc sinh thành cũng như người thân trong gia đình. Và trong một phút không làm chủ được mình, có ông bố bà mẹ đã buộc lòng "xuống tay" với những đứa con bất hiếu. Điều đáng buồn là những vụ án đau lòng ấy không hiếm trong những năm gần đây, báo động cho sự xuống cấp của đạo đức trong gia đình...

1. Đầu tháng 11/2020 vừa qua, Viện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội đã ra bản Cáo trạng truy tố bị can Nguyễn Văn Đức phạm tội Giết người trong một vụ án hết sức đau lòng. Năm tháng trước, vụ án xảy ra trên địa bàn xã Hồng Hà (huyện Đan Phượng, Hà Nội) từng gây xôn xao dư luận khi người cha vì quá phẫn uất trước hành vi ứng xử vô đạo đức của con trai đối với bố mẹ và con dâu nên đã dùng đinh ba đâm nhiều nhát vào anh ta. Dù thoát chết, song cậu con trai bị tổn hại đến 99% sức khỏe, vẫn nằm liệt giường sau nhiều tháng điều trị. Cả hai cha con họ sau đó đều tỏ ra rất hối hận, song đã không thể lấy lại những gì đã mất...

Luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng văn phòng Luật sư Nguyễn Anh, Đoàn Luật sư TP Hà Nội) - người tham gia trợ giúp pháp lý cho bị can ngay sau khi xảy ra vụ án chia sẻ: "Tôi vô cùng đau lòng trước thảm cảnh gia đình. Một bên cha già cả đời lam lũ, vất vả vì gia đình bị khởi tố, bắt tạm giam và một bên là cậu con trai bất hiếu nằm liệt giường liệt chiếu".

Cũng theo luật sư Thơm, bị can Nguyễn Văn Đức (sinh năm 1953, trú tại Cụm 5, xã Hồng Hà) vốn là một nông dân thuần chất. Cả cuộc đời lam lũ lao động lo cuộc sống để nuôi dạy bốn người con. Cũng như biết bao ông bố bà mẹ khác, khi sinh được Nguyễn Văn Tú, vợ chồng ông Đức đều vô cùng vui mừng, hy vọng về một cậu con trai giỏi giang, có chí.

Luật sư Nguyễn Anh Thơm và Nguyễn Văn Tú cùng người nhà Tú.


Ấy thế nhưng Tú đã phụ lại tấm lòng của cha mẹ. Mặc dù được cả nhà yêu thương chăm bẵm song Tú lại tỏ ra ngỗ ngược. Cách đây nhiều năm, Tú được bố mẹ lo lấy vợ, xây nhà dựng cửa song anh ta vẫn không tu chí làm ăn. Ba năm trước, ông Đức đã vay gần 400 triệu đồng để mua xe ô tô cho Tú lái taxi. Tuy nhiên vì quá ham mê cờ bạc, Tú nhiều lần "cắm" xe để cho bố và vợ phải đi chuộc. Ngay cả chiếc xe máy ở nhà, Tú cũng mang đi tiệm cầm đồ và hai lần gia đình phải mang tiền đi chuộc. Không những nghiện cờ bạc, chơi bời mà Tú còn chung chạ với nhiều người đàn bà khác. Sau mỗi lần bỏ nhà ra đi, lúc quay về nhà thì Tú lại gây sự với vợ. Bố mẹ can ngăn, khuyên bảo thì Tú luôn bỏ ngoài tai, hành hung, chửi bới bố mẹ thậm tệ.

Ông Đức còn nhớ vào tháng 2/2020, ông bị Tú cầm xẻng, gậy đánh nên phải chạy lên công an xã trình báo. Một tháng sau Tú đấm mẹ tím mắt và cầm gậy tre vụt sượt mang tai bầm tím. Có lần ông Đức bị Tú dùng ghế gỗ đánh vào đầu phải khâu hàng chục mũi. Trước ngày xảy ra vụ án, Tú còn công khai dắt bạn gái về nhà và đuổi đánh vợ...

Những hành động trái luân thường đạo lý xảy ra trong một thời gian dài đã khiến cho người cha già không thể giữ nổi bình tĩnh. Đỉnh điểm là vào chiều tối ngày 14/6/2020 thì thảm kịch đã xảy ra.

Khi đó Tú đi chơi về nhà thấy vợ đang nấu cơm trong bếp, Tú đi vào bếp mở nồi cơm thấy ít nên dùng chân đá nồi và chửi mắng vợ thậm tệ. Bị chồng đuổi, người vợ kêu "Bố mẹ ơi, nó đánh con". Thấy vậy, ông Đức và vợ chạy sang nhà Tú bảo ban khuyên giải thì Tú chửi lại bố mẹ. Thế rồi Tú cầm ấm tích ở trên bàn thờ giơ lên định ném về phía ông Đức. Do quá bức xúc trước hành vi ngỗ ngược, bất hiếu và thương con dâu bị đối xử tàn tệ, ông Đức đã cầm cây gậy đinh ba đâm nhiều nhát vào người Tú khiến Tú ngã sấp xuống nền nhà. Cậu ta được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Đức và may mắn thoát chết. Sau đó ông Đức đến công an xã đầu thú và giao nộp gậy đinh ba sử dụng gây án.

Hành vi phạm tội của bị can Nguyễn Văn Đức đã bị Cơ quan công an đề nghị Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội truy tố về tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật hình sự.

Cũng theo Luật sư Thơm, có thể thấy trong vụ án này bị hại đã vi phạm nghiêm trọng luật hôn nhân gia đình, đạo đức xã hội, bạo hành bố mẹ, vợ con nên cần thiết giảm nhẹ nhất hình phạt cho người cha già lam lũ cả cuộc đời cho gia đình. Hành vi phạm tội của bị can thuộc trường hợp giết người theo Khoản 2 Điều 123 BLHS là có cơ sở và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Thậm chí, có thể xem xét đánh giá hành vi phạm tội của bị can còn có dấu hiệu của tội Giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh theo Điều 125 BLHS với hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Sau khi hồ sơ vụ án chuyển lên VKSND TP Hà Nội theo quy định, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ lỗi của người bị hại nên Viện kiểm sát đã quyết định truy tố bị can Nguyễn Văn Đức về tội Giết người theo Khoản 2 Điều 123 BLHS (hình phạt từ 7 đến 15 năm tù).

2. Cũng không thể chịu đựng nổi những hành động vô luân của nghịch tử, ông Nguyễn Bá Mắn (trú tại xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ, Hà Nội) trong một phút không làm chủ được mình đã gây ra cái chết cho cậu con trai Nguyễn Bá Lực. Hai năm trước chúng tôi đã có mặt ở Chương Mỹ và ghi nhận những tâm sự đầy xót xa của cặp vợ chồng nông dân nghèo mà phải chịu nhiều khổ đau.

Ông Mắn tâm sự: "Đêm 15/9/2017, chúng tôi đang ngồi xem tivi thì thằng Lực mò về. Vừa bước vào nhà, nó liền lập tức gây sự: "Thằng già này, bật tivi đ. gì mà to thế?". Biết nó đang say (hầu như tối nào nó cũng đi uống bia rượu đến say mềm), chúng tôi chỉ im lặng, không nói gì. Rồi nó ngó ra vườn bên kia, bảo: "Con mẹ Hoa đâu rồi? Hôm nay tao phải cho nó chết". (Tối hôm qua nó đã đánh bà Hoa hàng xóm một trận rồi, làng xóm phải can mãi mới được). Thấy vậy, vợ tôi mới khuyên răn: "Thôi con đi ngủ đi, đêm rồi. Có việc gì để sáng mai…".

Ông Nguyễn Bá Mắn đã được cơ quan pháp luật thấu hiểu và áp dụng mức án rất nhân đạo.


"Chẳng ngờ, bà Định (vợ ông Mắn - PV) chưa nói dứt câu thì bị nó túm ngay lấy áo, lôi ra giữa nhà, vừa chửi vừa nghiến răng kèn kẹt. Tôi vội chạy vào can cũng bị nó gạt ra ngoài. Vợ chồng tôi van xin rối rít nó cũng không nghe. "Hôm nay tao phải cho hai thằng già này chết" - Lực rít lên rồi chạy vào bếp tìm hung khí.

Sợ quá, ông Mắn vội chạy ra cổng định trốn, không ngờ Lực đã chốt cổng từ lúc nào. Khi hai vợ chồng ông Mắn đang ở sân thì Lực từ bếp chạy ra, tay cầm một cái cán cuốc. Gã vung lên vụt tới tấp vào người mẹ đẻ, khiến cho cán cuốc gãy đôi. Trước hoàn cảnh ấy, ông Mắn vội lao vào đỡ đòn cho vợ vừa du đẩy Lực. Do trời mưa lâm thâm, sân trơn cùng chút lực tàn của ông Mắn đã đẩy ngã được Lực. Khi thấy gã đang lồm cồm bò dậy, ông Mắn cầm lấy một phần cán cuốc gãy đánh vào gáy Lực mấy cái.

Lực chết trên đường đưa đến bệnh viện. Công an TP Hà Nội sau đó đã khởi tố vụ án Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Khoản 1 Điều 126 BLHS 2015, khởi tố bị can đối với ông Mắn. Tuy nhiên xét hoàn cảnh, sức khỏe yếu nên ông Mắn được tại ngoại.

Cũng theo lời kể của vợ chồng ông Mắn, hàng chục năm qua hai ông bà đã phải chịu bao nỗi khổ sở, đau đớn, điều tiếng vì Lực. Hai ông bà cũng ra sức khuyên răn, giáo dục, nhờ chính quyền địa phương vào cuộc… song Lực vẫn chứng nào tật nấy. Gã hành hạ ông bà, hắn trở thành "hung thần" mỗi lần thiếu tiền mua ma túy, mỗi đêm hắn say rượu ngật ngưỡng về nhà.

"Vợ chồng tôi sinh được 4 đứa con, 3 trai một gái. Lực là đứa thứ hai, cầm tinh con lợn. Lúc nhỏ Lực cũng là đứa biết nghe lời, biết giúp bố mẹ làm việc nhà. Học kém nên Lực không thích đến trường, cố mãi mới học xong bậc THCS. Gia đình chẳng có điều kiện nhưng vẫn cố cho nó học nghề để kiếm sống. Nó không chịu rèn luyện, tu chí mà cứ trượt dài mãi" - ông Mắn kể.

Cuối những năm 1980, ở làng có nghề phụ làm mây tre đan. Lực cũng tham gia học nghề, và làm được những sản phẩm tốt, đạt yêu cầu. Thế rồi Lực yêu và cưới một cô gái cùng xã. Hai vợ chồng được ông Mắn cho một mảnh đất, ra ở riêng. Cả hai vẫn tiếp tục làm nghề thủ công. Năm 1993, đứa con trai đầu lòng ra đời.

Cưới nhau một thời gian thì vợ chồng Lực thường xuyên lục đục. Bởi Lực thường xuyên say rượu, rồi về nhà đánh vợ chửi con. Lực cũng không làm mây tre với vợ nữa, mà chuyển sang nghề cắt tóc, làm công cho một tiệm ở trên thị trấn. Trong thời gian này, gã nhiễm rất nhiều thói hư tật xấu, khiến cho người vợ không thể chịu nổi. Khi cậu con trai lên 6 tuổi, vợ Lực làm đơn ly hôn, và được tòa chấp nhận. Cháu bé được ông bà Mắn cưu mang.

Nguyễn Bá Lực


Lực tiếp tục trượt dài. Nghiện ma túy, rồi gây án, Lực bị kết án 7 năm tù giam. Trong suốt chừng ấy năm, cứ một hai tháng người cha già lại tay xách nách mang đi thăm nuôi con, hết trại Bình Đà (Thanh Oai) lại đi Ba Vì,… Sau khi ra tù, Lực đôi lần khiến ông bà Mắn mừng… hụt, khi tuyên bố sẽ làm lại cuộc đời. Lực xin tiền bố mua bộ đồ nghề cắt tóc, mang ra đầu ngõ hành nghề. Nhưng được đúng một tuần, Lực vứt hết để quay về con đường nghiện ngập lêu lổng.

Ở quê chán, Lực được một người cùng làng rủ vào Vũng Tàu làm ăn. Được vài tháng, Lực chuồn ra sau khi gây ra một vụ đánh lộn trong đó. Rồi Lực lại xin tiền bố mẹ, đi sang Trung Quốc làm ăn. Đi được hai đợt thì gã cũng chán, lại mò về nhà. Hơn 40 tuổi đầu, Lực vẫn ăn bám bố mẹ. Gã đã nhúng quá sâu vào con đường nghiện ngập, không có lối ra.

"Càng ngày Lực càng quá đáng khi mà đi đâu thì chớ hễ về đến nhà là gây sự. Hết chửi nhau đánh nhau với hàng xóm, Lực đánh cả bố mẹ. Có lần tôi đang nấu nướng trong bếp, nó xin tiền mua ma túy. Thấy tôi bảo không có, nó hất luôn cả mâm cơm ra sân. Rồi ngày nào cũng bắt tôi phải đi mua rượu về cho nó uống. Nếu không mua là nó đấm nó đá, người tôi thâm tím, mặt thi thoảng lại sưng lên bằng quả ổi" - bà Định kể.

Sự ngang ngược, tai quái của Lực khiến cho chính đứa con trai của anh ta cũng không chịu nổi. Cháu xin ra Hà Nội làm để khỏi phải thấy mặt bố. Mấy người anh em của Lực, khi biết chuyện gã đánh bố mẹ thì cũng nặng nhẹ khuyên bảo. Song gã chỉ ưa nói chuyện bằng tay chân, đánh luôn cả anh, em.

"Chúng tôi nuôi nó, nuôi cả con nó mà thằng Lực không biết điều. Bao đau đớn, uất ức dồn nén khiến không làm chủ được mình, đã gây ra cái chết cho nó. Chúng tôi vô cùng đau, đớn, day dứt" - ông Mắn nói.

Theo luật sư bảo vệ quyền lợi của bị cáo, xét hành vi của người bị hại đã cấu thành tội phạm nên hành vi của bị can Mắn chống lại nhằm bảo vệ tính mạng cho bản thân và người vợ là thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Mặt khác, xét về tương xứng hai bên thì thấy, bị can Mắn và vợ đều là người bố, mẹ tuổi già, sức yếu nên việc chống lại người con bất hiếu là cần thiết.

Tháng 9/2018, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử vụ án. HĐXX rất nhân văn khi nhận định ông Mắn thành khẩn, nhân thân bị cáo tốt, tuổi cao, gia đình là hộ nghèo, phạm tội lần đầu, nhiều tình tiết giảm nhẹ... nên tuyên phạt 12 tháng tù treo. Có lẽ đó cũng là niềm an ủi cho vợ chồng người nông dân nghèo mà thiếu may mắn.

M.Tiến M. Trí

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay

(TG) - Sinh ra từ Nhân dân; sống và hoạt động cách mạng trong lòng dân; cuối đời lại muốn trở về với Nhân dân, Hồ Chí Minh khảm trong di sản của mình hạt ngọc lung linh tỏa sáng, đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Tư tưởng đó mãi mãi soi sáng công việc của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là công tác dân vận.


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “DÂN LÀ GỐC”
Ở nước ta, chủ nghĩa yêu nước có trước chủ nghĩa cộng sản, phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân, lòng dân có trước ý Đảng. Đúc kết của Hồ Chí Minh: sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 cho thấy chính Nhân dân là người sinh thành ra Đảng. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã mang trong mình yếu tố dân tộc, bám rễ sâu trong lòng dân tộc. Cứ thế, Nhân dân luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng, tạo nên ý Đảng - lòng dân suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng.
Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức và đánh giá đúng đắn vai trò, vị trí, sức mạnh của Nhân dân với một chất lượng khoa học và cách mạng cao. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên “chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt”(1). Dân rất tốt là một chân lý, vì tuy đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh, nhưng Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Người còn khẳng định dân chúng khôn khéo; trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận; “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(2).
Từ những hiểu biết đúng đắn, toàn diện về dân như vậy, Hồ Chí Minh khẳng định “dân là gốc”. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(3). Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Gốc là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân, lòng tin của dân. Nói về tài trí dân, Người khẳng định “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(4). Nói về lực lượng Nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định “trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người chỉ rõ: “Chúng ta biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng. Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì làm cũng không xong”(5). “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(6). Người thường nhắc lại câu nói của Nhân dân Quảng Bình: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Nói về lòng dân, Hồ Chí Minh đúc kết: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(7), “được lòng dân, thì việc gì cũng làm được. Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”(8).
 
“Nước lấy dân làm gốc….Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” – Hồ Chí Minh
 
Xuất phát từ chỗ gắn bó mật thiết với Nhân dân, sống giữa lòng dân, Hồ Chí Minh thấu hiểu đời sống, tình hình, tâm lý, tâm tư, nguyện vọng Nhân dân. Người nói dân chúng nhiều tai mắt, cái gì cũng nghe cũng thấy; dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, gọn gàng, hợp lý, công minh, “biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết”(9). Nước ta là một nước dân chủ, vì vậy, theo Hồ Chí Minh:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(10);
“Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(11).
Như vậy, tư tưởng “dân là gốc” cần được hiểu trên mấy lát cắt: Một là, dân chúng chứa đựng một xung lực mạnh mẽ vô cùng tận, cả tài, sức, quyền, trí, lòng dân; Hai là, Nhân dân được hưởng tất cả lợi ích vật chất và tinh thần; Ba là, dân chúng có trách nhiệm trong cách mạng, kháng chiến, đổi mới, xây dựng đất nước; Bốn là, không chỉ nước, mà Đảng cũng phải lấy dân làm gốc, do dân tổ chức nên.
Trong mọi công việc, Đảng, Nhà nước đã xác định “dân là gốc” thì “đừng có làm điều gì trái ý dân”, “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”(12). Dân là chủ, là gốc, thì Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên phải phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(13).
Khẳng định Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nhưng lãnh đạo không có nghĩa là “ngồi một nơi chỉ tay năm ngón không chịu xuống các địa phương kiểm tra công tác”(14), mà “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”(15). Bằng cách cắt nghĩa đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng… Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”(16).
Làm “đầy tớ nhân dân” với ý nghĩa cao đẹp nhất là phục vụ Nhân dân, học hỏi Nhân dân, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân, làm cho Nhân dân hài lòng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không học hỏi nhân dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”(17).
Một cách tiếp cận khác mang tính nguyên tắc thể hiện chiều sâu và bề rộng của nội hàm “dân là gốc”, cho thấy Đảng và Nhà nước khi đã xác định “lấy dân làm gốc” thì phải hoàn thành trách nhiệm, bổn phận với dân không chỉ là vấn đề lợi ích mà sâu xa hơn là tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, bàn bạc với dân, học hỏi dân, gương mẫu và tự phê bình trước dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ để chữa bệnh quan liêu, xa dân, khinh thường dân, phụng sự nhân dân tốt, có một “đơn thuốc” - nguyên tắc là: “Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:
Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;
Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”(18).
 
THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC DÂN VẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
 
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân(19) làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
Điều đặc biệt là lần đầu tiên trong Hiến pháp, tại Điều 4, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam, điểm 2 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Nội dung này ghi rõ trong Cương lĩnh 2011 là tất yếu, đương nhiên, bình thường vì đó là một trong những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Nhưng điều này thể hiện trong Hiến pháp với ý nghĩa là bộ luật căn bản của một nước thì hết sức đặc biệt. Điều đó tỏ rõ rằng Đảng không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của Nhân dân lao động và của cả dân tộc; là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, mà còn thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân; có bổn phận, trách nhiệm với dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
Cùng với Hiến pháp, trong những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản mang tính chiến lược liên quan đến công tác dân vận, tin tưởng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở như Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” (6/1997); Chỉ thị 30 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở” (18/2/1998); Kết luận 120 về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” (7/1/2016); Hội nghị toàn quốc đánh giá kết quả thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” (16/7/2018). Đó là những kết quả rất quan trọng, ít nhất là về mặt ban hành nghị quyết, văn bản quy định, rất đáng khích lệ. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác dân vận trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào hai nhóm giải pháp sau đây:
Một là, hiểu thấu, quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa những nghị quyết, quy định, kết luận, văn bản liên quan đến chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, thực hành dân chủ.
Xét đến cùng, khi bàn về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, có hai nhóm vấn đề quan trọng liên quan mật thiết với nhau, đó là hiểu thấu và làm đúng. Phải rà soát lại tất cả những văn bản bản đã được cấp ủy đảng, chính quyền các cấp triển khai nghiên cứu, quán triệt, học tập như thế nào. Một Đảng chân chính cách mạng vì dân, vì nước thì trước hết phải đưa ra được nghị quyết, chỉ thị, văn bản, quy định đúng đắn. Nhưng đó mới chỉ là quan trọng hàng đầu. Điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là văn bản, nghị quyết đó đi vào thực tiễn, thâm nhập vào đời sống nhân dân như thế nào.
Khi bàn về tư cách của một đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh đúc kết 12 điều và Đảng không được quên điều nào, trong đó điều 12 là: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(20).
Thực tế cho thấy không phải mọi nghị quyết, chỉ thị đưa ra, đi vào cuộc sống đều đúng và có ý nghĩa soi sáng, dẫn dắt từ đầu đến cuối. Xét cho cùng, “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(21). Nghị quyết, chỉ thị là tổng kết kinh nghiệm của quần chúng, từ thực tiễn mà ra, rồi trở lại soi sáng thực tiễn. Vì vậy, trong quá trình triển khai nghị quyết, chỉ thị, “ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành. Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước”(22).
Phải khẳng định rằng nhiều nội dung về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ đề ra trong các nghị quyết, chỉ thị rất đúng và hay, có tính khả thi. Nhưng do công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chưa tốt; có nơi làm hình thức, đối phó, thiếu công khai, minh bạch, Nhân dân thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin không đầy đủ, nên việc Nhân dân bàn, giám sát và quyết định những vấn đề của địa phương, phát huy thật sự quyền làm chủ trong góp ý xây dựng Đảng, chính quyền còn hạn chế. Thậm chí “lâu nay, nhiều nơi cứ nói là thực hiện dân chủ, nhưng thực chất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị ở đó vẫn mượn danh hoặc nhân danh tập thể để hợp thức hóa những quyết định, ý chí chủ quan của cá nhân mình. Một số người có chức, có quyền còn quan cách, gia trưởng, thậm chí có những cá nhân, tập thể trù dập, ức hiếp quần chúng”(23). Đây là điều đã được Bác Hồ cảnh báo từ thập kỷ 50 thế kỷ trước - khi người phê bình loại cán bộ “miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ”(24).
Những hạn chế, yếu kém như vậy phải được nghiêm túc xem xét, đánh giá, tổng kết, để chỉ rõ trách nhiệm thuộc về ai, tổ chức hay cá nhân, tùy theo tính chất, mức độ, phạm vi để có các hình thức xử lý, kỷ luật đúng mức. Nếu không làm được như vậy, xem các nghị quyết đã thi hành thế nào, cái gì được, cái gì chưa được, lần sau lặp lại những khuyết điểm trước, thì nghị quyết chỉ là lời nói suông, làm mất lòng tin của Nhân dân.
Hai là, các tổ chức và cá nhân những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải làm đúng, làm tốt và khéo công tác dân vận, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tỏ rõ hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm chính sách, pháp luật được thực thi nghiêm túc. Một dẫn chứng là vấn đề xuống với dân, bàn bạc với dân, tiếp công dân. Chúng ta đã có những quy định rất cụ thể. Theo đó, xuống với dân là để bàn bạc với dân, học hỏi dân; nghiêm túc tiếp công dân, đối thoại với dân là để thấu hiểu, thấu cảm, nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý, để quan tâm giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân, chăm lo dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ và thực hành dân vận. Những cách làm này, ngay sau khi nước nhà độc lập cách đây 75 năm, Hồ Chí Minh đã từng “đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”(25). Tức là phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miêng nói, tay làm”, đem lại chất lượng tốt, “đúng” và “khéo” trong công tác dân vận. Người phê bình loại cán bộ “sấm ra đá kêu” mới gặp dân chúng một lần.
Những năm qua, nhìn tổng thể xã hội có hai bức tranh tương phản. Chỗ nào người lãnh đạo đứng đầu sợ dân, ngại, không dám tiếp dân, tiếp một cách qua loa, đại khái, sẽ tạo ra một bức tranh tối. Nơi nào người đứng đầu cấp ủy, chính quyền nghiêm túc tiếp dân và xuống với dân thật sự, giải quyết thấu đáo những kiến nghị của dân, đứng về phía lợi ích chính đáng của người dân mà giải quyết những điểm nóng, phức tạp kéo dài, sẽ tạo ra bức tranh sáng. Tấm gương những cán bộ gần dân, sát dân là thể hiện một chính quyền thật sự thân thiện, trọng dân, vì dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì Nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”(27).
Cùng với cơ quan hành chính là vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận, các cơ quan chức năng, Ban Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ. Một trong những vai trò, trách nhiệm nổi bật của Mặt trận là tuyên truyền, giải thích, vận động các tầng lớp Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cách làm là phải “đúng” và “khéo”, không gò ép áp đặt một cách thô bạo; phải tạo tính tự giác của mỗi người và nhân rộng các điển hình tiên tiến, lấy cái tốt dẹp cái xấu. Phải hiểu dân, tin tưởng dân, biết chờ đợi dân. Chúng ta phải ghi tạc vào đầu lời dặn của Bác: “Nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”(28). “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Dân vận kém thì việc gì cũng kém”.
Công tác dân vận cũng như mọi vấn đề khác, điều có ý nghĩa quyết định là con người, vì mọi việc đều do người làm ra, trong đó cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị giữ một vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Sự gương mẫu của người lãnh đạo trong xây và chống, nói đi đôi với làm, có bản lĩnh, dũng khí tự phê bình trước Nhân dân và hoan nghênh Nhân dân phê bình mình, sẽ truyền cảm hứng, tạo niềm tin cho Nhân dân. “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”(29).
Gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng với tiêu đề “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”. Bài viết nêu lại những bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ năm khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn luôn xác định “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của Nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với Nhân dân; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.
Ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đích thực trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay. Thực hiện tốt, có chất lượng, hiệu quả những điều đó chính là sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp đổi mới hiện nay./.

 

PGS. TS. Bùi Đình Phong

_________________________

(1) (3) (4) (5) (11) (14) (20) (21) (22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5, tr.286, 501-502, 335, 335, 81, 89, 290, 330, 330-331.

(2) (7) (9) (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668, 142, 526, 292.

(6) (18) (24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.270, 177, 176.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.163.

(10) (16) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.232, 367, 432.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.63.

(13) (28) (29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.83-84, 421, 421.

(19) Chữ “N” trong “Nhân dân” viết hoa lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp 2013. Từ đó đến nay chưa có văn bản nào giải thích vì sao danh từ chung “nhân dân” lại viết hoa chữ “N”, nhưng có thể hiểu đó là sự đề cao vai trò, vị trí, sứ mệnh của nhân dân.

(23) “Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, ngày 16/7/2018, Báo Nhân Dân, ngày 17/7/2018.

(25) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.10, tr.131.

(26) (27) Nguyễn Phú Trọng: Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2019, tr.80, 116-117

 

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

Để trường học thực sự là nơi hạnh phúc

 (TG) - Lấy cảm hứng từ mô hình “Happy School” của UNESCO, mô hình "Trường học hạnh phúc" bắt đầu triển khai thí điểm ở nước ta vào tháng 4/2018 và nhanh chóng được nhân rộng trong nhiều cơ sở giáo dục đào tạo các cấp khi người đứng đầu ngành giáo dục phát động phong trào "Triển khai kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo vì một môi trường hạnh phúc" (ngày 22/4/2019) nhằm lan tỏa những giá trị: yêu thương, an toàn và tôn trọng trong các nhà trường.

Với mong muốn phong trào do người đứng đầu ngành giáo dục phát động thực sự trở thành mô hình lan tỏa, hiệu quả, ý nghĩa, để mỗi ngày đến trường là một ngày vui, để trường học thực sự là "nơi ước đến, chốn mong về" với đông đảo học sinh, chúng tôi xin trao đổi một số giải pháp cơ bản trong việc xây dựng trường học hạnh phúc.

Học sinh trường Tiểu học Lê Quý Đôn, Hà Nội trong giờ học (Ảnh: LQĐ)


NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ TRƯỜNG HỌC HẠNH PHÚC

Để mô hình trường học hạnh phúc không dừng lại ở khẩu hiệu, phong trào nhất thời, cần nâng cao nhận thức của toàn thể đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, phụ huynh và toàn xã hội trong việc kiến tạo môi trường học tập, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tiến bộ. Trường học hạnh phúc là trường học thân thiện, đem đến sự hài lòng, thỏa mãn và đáp ứng tốt nhu cầu, quyền được học tập, giáo dục, rèn luyện một cách toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ của người học. Khi con người có hạnh phúc, cảm xúc được thăng hoa, sẽ tạo động lực tinh thần để người học không ngừng nỗ lực vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao tri thức nhân loại, để khẳng định mình và có những cống hiến lớn lao cho xã hội.

Để người học có được niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc mỗi khi đến trường, những người có trách nhiệm (cán bộ quản lý giáo dục, thầy cô giáo) phải trao đi những yêu thương bằng những hành động cụ thể; biết quan tâm đến hoàn cảnh của mỗi em; nắm bắt được tâm lí, năng lực, sở trường của người học để có biện pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả nhất.

Trường học hạnh phúc là khi mỗi học sinh cảm nhận được sự ấm áp, yêu thương tỏa ra từ thầy cô, bạn bè với niềm vui được nhân lên và nỗi buồn được san sẻ. Hạnh phúc với người học đôi khi rất giản dị, một lời hỏi thăm, nhắn nhủ, động viên; một lời phê, nhận xét chính xác, chân tình; một giờ giảng hay, hấp dẫn; một phong cách giản dị, trong sáng, mực thước với trí tuệ uyên bác của thầy cô đều để lại những ấn tượng, hình ảnh đẹp sẽ theo người học suốt cuộc đời. Hạnh phúc còn là khi nỗ lực, cố gắng của người học được đền đáp, ghi nhận qua những điểm số chính xác, bằng những phần thưởng nho nhỏ động viên; là sự chân thành, hồn nhiên, trong sáng của tình bạn; là những vấn vương, rung động đầu đời của tuổi mới lớn; là khung cảnh nên thơ, trữ tình của hàng cây, ghế đá,… Những hành động đẹp, lời nói đẹp, cảnh quang đẹp của thầy cô, bè bạn, mái trường đều góp phần dệt nên xúc cảm hạnh phúc, hân hoan trong trái tim, suy nghĩ tuổi học trò.

Khi con người cảm thấy được hạnh phúc, được quan tâm, yêu thương; thấy trường học thực sự là nơi hữu ích, sẽ tạo cho họ sự phấn chấn, mê say trong học tập, nghiên cứu khoa học để trở thành người hữu ích cho xã hội. Vì thế có thể nói trường học hạnh phúc là nền tảng, bệ đỡ tinh thần để những ý tưởng, mục tiêu giáo dục, đào tạo được thực thi một cách hiệu quả, ý nghĩa nhất. Để xây dựng trường học hạnh phúc, việc đầu tiên là sự thống nhất trong nhận thức và quyết tâm hành động của toàn ngành giáo dục, nhất là người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị.



KIẾN TẠO MÔI TRƯỜNG HỌC ĐƯỜNG AN TOÀN, THÂN THIỆN

Thời gian qua, trước những tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, nhất là những tác động xấu của mặt trái nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội đến tâm lý tuổi học trò khiến nhiều em có những suy nghĩ, hành động sai lệch. Điều này đang chi phối và ảnh hưởng lớn đến môi trường giáo dục.

Một trong những giá trị, mục tiêu hướng đến của trường học hạnh phúc là sự an toàn cho cả thầy và trò, tuy nhiên hiện nay, không ít trường học đang không thể đứng vững trước sự tấn công ồ ạt, tinh vi của những trào lưu tư tưởng, lối sống phức tạp được du nhập từ bên ngoài; là tệ nạn xã hội, ma túy, bạo lực; là những tư tưởng, thói quen lệch lạc của không ít bạn trẻ; là những hành động thiếu văn hóa của nhiều bậc phụ huynh; là sự suy thoái đạo đức, nhân cách của không ít cán bộ quản lý giáo dục vì lợi ích trước mắt mà hủy hoại nhân tâm. Những vụ việc, hiện tượng tiêu cực, gian lận trong thi cử thời gian qua; những câu chuyện đau lòng khi một số học sinh bị thầy cô xâm hại, quấy rối tình dục; sự việc một số bảo mẫu bạo hành trẻ em; những tai nạn thương tâm của học trò do sự lơ là, vô tâm của người lớn; những vụ phụ huynh tố cáo nhà trường, chà đạp lên nhân phẩm, danh dự thầy cô; sự thương mại hóa, đề cao lợi ích, đồng tiền của một số cơ sở giáo dục,… những vụ việc ấy tuy không nhiều nhưng dư chấn và hậu họa mà nó để lại là vô cùng lớn, gây tâm lý hoài nghi, mất niềm tin vào giáo dục, làm doãng cách mối quan hệ thầy trò, gia đình và nhà trường. Với phụ huynh và học sinh, chỉ cần một chút nghi ngại về nhà trường (trong hoạt động giáo dục, trong chi tiêu tài chính, trong ứng xử, giao tiếp) thì rất khó để có được sự an vui, hạnh phúc mỗi khi đến trường.

Đánh giá về những bất cập, hạn chế của lĩnh vực giáo dục những năm qua, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Đổi mới tư duy và hoạt động giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra… Chưa chú trọng đúng mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học. Giáo dục làm người, đạo đức lối sống có lúc, có nơi bị xem nhẹ… Còn không ít tiêu cực trong giáo dục và đào tạo"1(1). Vì thế để xây dựng mô hình trường học hạnh phúc, tiêu chí đầu tiên mà mỗi cơ sở giáo dục phải tạo ra là sự an toàn cho người học, tức là người học được sống, học tập trong môi trường lành mạnh, đậm tính nhân văn, dân chủ. An toàn đầu tiên là an toàn về tính mạng, thân thể, không được để xảy ra tình trạng nguy hiểm trong phạm vi khuôn viên nhà trường như tình trạng cây gãy đổ, điện giật, tường rào sụt lún, phòng học nứt nẻ, xuống cấp. Nhà trường cần phối hợp tốt với chính quyền, công an địa phương để kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi những hành vi phản văn hóa từ bên ngoài tấn công, xâm nhập nhà trường. Điều đặc biệt quan trọng với mỗi cơ sở giáo dục là phải tạo được sự an nhiên trong tâm hồn mỗi người học bằng những tri thức, kỹ năng sống mà thầy cô cung cấp, chia sẻ. Những bài học từ sách vở, từ kinh nghiệm sống của thầy cô sẽ tạo sức đề kháng, là lá chắn vững chắc để người học tự tin, chủ động trong ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra theo hướng an toàn, phù hợp.

Thực hành dân chủ trong trường học là khi người dạy, người học đều ý thức rõ về quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình với những người xung quanh, với cơ quan, tổ chức; phát huy tinh thần chủ động, tích cực tranh luận, trao đổi của người học; ghi nhận những ý tưởng độc đáo, mới lạ; tôn trọng sự khác biệt trong văn hóa, tôn giáo, phong tục tộc người. Khi con người được tôn trọng, được đối xử bình đẳng với những sáng kiến cá nhân được lắng nghe sẽ là động lực lớn để người học vươn lên khẳng định mình và sẽ có nhiều cống hiến cho xã hội.

Để trường học thân thiện, hạnh phúc, xứng đáng là ngôi nhà, gia đình, tổ ấm thứ hai với mỗi người học thì những giá trị yêu thương, quan tâm, sẻ chia cần được thực hành tốt trong mỗi nhà trường. Giáo dục phải xuất phát từ tình yêu thương, quan tâm sâu sắc đến mỗi con người. Đó là nơi nâng niu, chắp cánh những ước mơ, khát vọng. Giáo dục phải vì con người, vì sự tiến bộ của học trò. Giáo dục phải cảm hóa, giúp người học nhận ra những khiếm khuyết, hạn chế của bản thân để không ngừng vươn lên hoàn thiện mình. Nhưng yêu thương phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, với nếp sống văn minh, tiến bộ.

Xây dựng môi trường học tập nhân văn, thân thiện, tiến bộ, khoa học là điều cần thiết để thực thi trường học hạnh phúc. Muốn được điều đó cần sự kiên trì, nỗ lực, sự quyết tâm của toàn ngành giáo dục và sự chung tay góp sức của cả cộng đồng.

PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA CỘNG ĐỒNG

Trong bối cảnh giao lưu hội nhập hiện nay, nhà trường không thể đứng biệt lập, không thể tự thân vận động nếu như không có sự ủng hộ, chia sẻ, chung tay xây dựng của cả cộng đồng. Để trường học hạnh phúc, để những giá trị yêu thương, an toàn, tôn trọng được thực thi tốt thì việc kêu gọi sự chung tay giúp đỡ bằng nguồn xã hội hóa của cộng đồng, người dân, doanh nghiệp trong xây dựng, trùng tu trường học là hết sức cần thiết, nhất là đối với những cơ sở giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số. Trong tương lai gần, cần phải xóa bỏ những ngôi trường tạm, tranh tre nứa lá, dột nát, xuống cấp nghiêm trọng bằng những ngôi trường mới kiên cố, khang trang, hiện đại với hệ thống trang thiết bị, đồ dùng học tập đầy đủ, đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu học tập, nghiên cứu của học sinh.

Trường học là thiết chế văn hóa - giáo dục đặc biệt, việc quan tâm, đầu tư cho giáo dục được xem là nhân tố quan trọng cho sự phát triển, cho tương lai tương sáng của dân tộc.

Trong thực tiễn, những vấn đề của giáo dục, đào tạo luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của hàng triệu gia đình Việt Nam. Vì thế để tạo dựng giá trị hạnh phúc trong mỗi ngôi trường, điều quan trọng là phải đầu tư nguồn lực, từ ngân sách nhà nước, từ nguồn vốn xã hội hóa để xây dựng thiết chế trường học phù hợp với điều kiện, nét văn hóa riêng của từng vùng miền; không bố trí điểm trường ở quá xa so với khu dân cư; không bố trí, sắp xếp phòng học quá hẹp; phòng học quá đông học sinh; trong trường phải có những không gian sáng tạo, vui chơi, thư giãn cho người học. Trong khuôn viên nhà trường cần tạo dựng cảnh quan, không gian, môi trường sư phạm xanh - sạch - đẹp, gần gũi với thiên nhiên, cuộc sống với các công trình phụ trợ (như thư viện, phòng thực hành, nhà giáo dục thể chất, khu vệ sinh) được bố trí phù hợp, có tính thẩm mỹ, tạo sự thân thiện, gần gũi. 



Để xây dựng trường học hạnh phúc, không gian, cảnh quan nhà trường có vai trò quan trọng, tạo ấn tượng, cảm xúc tốt đẹp cho mỗi người khi đến nơi đây. Đó là cảm xúc ban đầu và là chất xúc tác quan trọng tạo sự thư thái, gợi những xúc cảm đẹp, tiếp thêm năng lượng để người học không ngừng cố gắng trong quá trình học tập, thi cử. Nhưng để có được những ngôi trường mơ ước (về cơ sở hạ tầng hiện đại) cần sự chung tay, kết hợp của cả cộng đồng, bằng nhiều hình thức khác nhau góp sức người, sức của để cùng ngành giáo dục dựng nên những ngôi trường hạnh phúc.

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai“, việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ có tri thức, trí tuệ, nhân cách là trách nhiệm của thế hệ đi trước, của cả cộng đồng, trong đó đội ngũ thầy cô giáo giữ vai trò quan trọng. Mục tiêu của giáo dục là lấy người học làm trung tâm, giúp họ phát triển toàn diện năng lực và tố chất để ngày càng hoàn thiện nhân cách, trở thành những con người hữu ích cho xã hội. Hãy nghe học sinh nói, để thấu hiểu những mong ước giản dị, từ đó mang lại những giá trị hạnh phúc cho họ từ những điều giản dị, thân thương nhất.

Mô hình trường học hạnh phúc là một thông điệp, quyết tâm lớn của ngành giáo dục, truyền đi những tín hiệu tích cực, thể hiện nỗ lực không ngừng đổi mới để đáp ứng tốt hơn những yêu cầu, đòi hỏi mà xã hội, đất nước đang đặt ra./.

 

 

TS. NGUYỄN HUY PHÒNG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

________________________

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (tài liệu lưu hành nội bộ), H, 2020, tr.14.

 

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...