Hiển thị các bài đăng có nhãn Có thể bạn chưa biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Có thể bạn chưa biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021

Chuyện thực thi pháp luật thời Trần: Khi quan áo xanh làm kiểm pháp

Luật pháp thời Trần ở nước ta kế thừa pháp luật thời Lý, các hình phạt có phần nặng nề hơn so với thời Lê. Các cơ quan thực thi và giám sát việc thực hiện pháp luật đã được triều đình nhà Trần tăng cường hoàn thiện nhưng việc kiểm pháp lại do hoạn quan nắm giữ để đảm bảo tính khách quan.

Án xử đã xong, nhưng…

Bộ quốc sử lớn nhất nước ta thời phong kiến, “Đại Việt sử ký toàn thư”, kỷ nhà Trần, viết về sự kiện xảy ra năm Canh Thìn, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 2, đời Trần Nhân Tông (1280), như sau:

“Em Đỗ Khắc Chung là Đỗ Thiên Thư kiện nhau với người, tình lý đều trái. Người kia đón xa giá để kêu bày. Vua hỏi quan xử kiện, viên quan đó trả lời rằng: “Án xử đã xong nhưng hình quan thoái thác không chịu chuẩn định đó thôi".

Vua nói: "Đó là do sợ mà né tránh Khắc Chung đấy!".

Lập tức, đang trên đường đi, vua vẫn sai Chánh chưởng nội thư hỏa là Trần Hùng Thao kiêm chức kiểm pháp quan để chuẩn định lại sự việc, thì thấy rằng Đỗ Thiên Thư quả thực là trái lý. Kể từ đó, triều đình để quan áo xanh (tức là hoạn quan) được làm việc kiểm pháp, bắt đầu từ Trần Hùng Thao”.

Nên nhớ Đỗ Khắc Chung là viên quan thân cận của vua Trần, từng giữ chức Nhập nội Giảng quan, chịu trách nhiệm giảng dạy cho vua Trần Nhân Tông lúc còn nhỏ.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285), Đỗ Khắc Chung giữ chức Chi hậu cục thủ, tức nhân viên văn phòng của nhà vua, là người đã sang doanh trại quân Nguyên biện bác lý lẽ với Ô Mã Nhi, khiến tướng giặc cũng kính nể, vua Nhân Tông cũng khen là “Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế!”. Nhờ công lao trong kháng chiến mà Đỗ Khắc Chung được vua Trần ban quốc tính, cho đổi tên thành Trần Khắc Chung.

Chép về vụ kiện này, Sử thần Ngô Sĩ Liên đã bình luận rạch ròi như sau: “Người kiện có điều oan uổng mà được dễ dàng kêu bày, hình quan để chậm án, không thấy có lời trách hỏi, hoạn quan nội thần lạm cử làm pháp quan, vua làm việc này có 3 lầm lỗi kèm theo nhưng như vậy thì dân tình được thấu lên trên”.

Tuy nhiên, Ngô Sĩ Liên cũng nhận xét về cách trị nước của vua Trần rằng: “Việc cai trị kẻ dưới thà sai để khoan thứ để cho án kiện đọng lại được xử ngay, cũng thấy được lòng trung hậu của vua”.

Qua việc này, đời sau cũng nhìn nhận, vua Trần Nhân Tông có con mắt tinh tường khi nhận ra khả năng giám sát pháp luật của một viên hoạn quan trước nay chỉ biết hầu hạ trong cung. Không những thế, Trần Hùng Thao cũng chứng tỏ ông có đủ năng lực để xét đoán vụ kiện, không sợ quyền uy từ người thân cận nhà vua. Việc bổ nhiệm hoạn quan, người về lý thuyết ít chịu ảnh hưởng của các lợi ích bên ngoài, trong trường hợp này, cũng thể hiện rõ sự khách quan, minh bạch. Trần Hùng Thao có lẽ là một viên quan có năng lực nên sau này còn được bổ nhiệm lên đến chức Thiếu phó.

Sau này, Trần Khắc Chung được thăng tiến lên nhiều chức vụ quan trọng khác, như chức An Phủ sứ ở kinh đô năm 1293, rồi sau đó thăng đến chức Nhập nội Hành khiển, ngang với Tể tướng, năm 1303.

Em của Trần Khắc Chung là Đỗ Thiên Thư cũng được anh trai tiến cử làm sứ thần sang giao hảo với nhà Nguyên, sau khi quân đội nước ta đánh bại chúng ở lần xâm lược thứ ba, sự việc diễn ra năm 1288. Đây là một sứ mệnh ngoại giao không dễ dàng mà Đỗ Thiên Thư đã hoàn thành tốt đẹp nên được vua Trần rất khen ngợi.

Dù cuối đời của Trần Khắc Chung, sử sách phê phán nhiều thói hư tật xấu mà vị đại quan này mắc phải nhưng không thấy có dòng nào nói về việc anh em ông có hành động “trả thù” viên kiểm pháp quan ngày xưa, chứng tỏ luật pháp thời đó nghiêm minh và quan lại đều biết tuân thủ.

Những vị quan kiểm pháp danh tiếng

Bên cạnh Trần Hùng Thao, viên kiểm pháp quan “áo xanh” đầu tiên, thì sử sách thời Trần cũng ghi lại tấm gương của những vị kiểm pháp quan tài ba khác.

Điển hình như Đoàn Khung, cũng là quan hầu cận trong văn phòng nhà vua, đã trở thành một viên kiểm pháp quan được tôn trọng.

“Toàn thư” viết về tài trí của Đoàn Khung như sau: “Năm Mậu Dần, niên hiệu Bảo Phù năm thứ 6 đời Trần Thái Tông (1278), hồi đó, nhà dân ở kinh thành thường bị cháy về ban đêm. Vua ra ngoại thành xem chữa cháy, Nội thư gia Đoàn Khung đi theo. Vua sai điểm xem người nào đến chữa cháy và kiểm xem ai đến trước. Khung ấn đầu từng người một bảo ngồi xuống để đếm, đếm xong tâu rõ người nào đến trước, người nào đến sau .

Vua hỏi: "Tại sao mà biết?". Khung trả lời: "Thần ấn đầu người nào mà thấy mồ hôi thấm tóc và có tro bụi bám vào thì đó là những người đến trước và cố sức chữa, người nào đầu tóc không có mồ hôi mà tro bụi bay rơi là người đến sau không kịp chữa, vì thế mà biết". Vua Trần Thái Tông cho là giỏi, có ý cất nhắc để dùng.

Đến thời Trần Anh Tông, Đoàn Khung đã được bổ nhiệm làm kiểm pháp quan. Khi xét án, hễ vua hỏi về điển lệ cũ, Khung đều dẫn được án cũ làm chứng, có khi dẫn nhiều đến 5, 6 án liền. Vua Trần Anh Tông khen Khung là người thông minh, nhớ lâu.

Nhớ rõ các án lệ như vậy, hẳn nhiên Đoàn Khung xét án không sai, giúp việc thực thi pháp luật trong thời Trần Anh Tông được vững vàng.

Cũng trong thời vua Trần Anh Tông trị vì, vào mùa hè năm Hưng Long thứ 5 (1279), có viên quan Trần Thì Kiến được bổ nhiệm làm Kiểm pháp quan, kiêm chức Đại an phủ Kinh sư (cai quản về hành chính kinh thành Thăng Long).

Chính sử mô tả, Trần Thì Kiến tính người cương trực, trước kia làm môn khách của Hưng Đạo vương, Vương tiến cử ông lên nhà vua và được cất nhắc làm An phủ sứ Thiên Trường.

Khi ông cai trị phủ Thiên Trường, quê hương các vua Trần, nơi được coi như kinh đô thứ hai của đất nước, có xảy ra một sự kiện mà sử sách vẫn còn ca ngợi. Đó là việc Trần Thì Kiến quyết tâm móc họng nôn hết mâm cỗ mà người ta biếu, khi biết hóa ra người đó có việc cần cầu cạnh chứ không phải vô tư gì.

Bình luận về thái độ cương quyết có phần hơi gàn của Trần Thì Kiến, sử thần Ngô Sĩ Liên viết rằng: “Thì Kiến hành động lạ lùng quá mức để uốn nắn cái tệ xin xỏ của người bấy giờ, cũng như Án Anh tằn tiện quá mức để uốn nắn cái thói xa xỉ tiếm lễ của Quan Trọng vậy”.

Còn về khả năng xét án của Trần Thì Kiến, “Toàn thư” chép: “Mỗi khi có kiện tụng, thì dùng lý lẽ mà bắt bẻ, việc đến thì tìm phương pháp để ứng phó. Người đời đều cho là giỏi xét đoán kiện tụng”.

Đến năm 1289, Trần Thì Kiến được cất nhắc lên làm Nhập nội hành khiển Hữu gián nghị đại phu. Vua ban cho ông cái hốt có khắc bài minh ngự chế bốn câu thơ rằng: “Thái sơn trinh cao, Tượng hốt trinh liệt, Linh trãi tiến giác, Vi hốt nam chiết”. (Thái sơn rất cao, Hốt ngà rất cứng, Linh trãi dâng sừng, Làm hốt khó gãy).

Những vị quan xử án cẩn trọng

Bên cạnh các quan kiểm pháp, đời Trần cũng có những vị hình quan trực tiếp nắm việc thực thi pháp luật có tài xử án, được đời sau ca ngợi, điển hình như Phí Trực.

Sử viết, năm 1317, Thượng hoàng Trần Anh Tông về Thiên Trường, có Lang trung bộ Hình là Phí Trực theo hầu. Lúc đó, chức an phủ sứ lộ Thiên Trường khuyết, Thượng hoàng sai Phí Trực kiêm giữ luôn.

Bấy giờ trộm cướp bắt đầu nổi lên, do tên Văn Khánh là đầu sỏ. Có người khai là bắt được một tên cướp, giải lên nộp quan và bảo nó là Văn Khánh. Đến lúc tra hỏi, tên ấy nhận ngay, ai cũng cho là thực, duy có mỗi Phí Trực vẫn ngờ. Án ấy để lâu không giải quyết. Thượng hoàng hỏi chuyện đó, Trực trả lời:

"Mạng người rất trọng, lòng tôi còn có chỗ ngờ, không dám liều lĩnh xử quyết".

Không bao lâu, Thượng hoàng hỏi lại, Trực trả lời như lần trước. Thượng hoàng giận bảo:

"Nó đã nhận như thế, còn ngờ gì nữa". Trực tâu:

"Nó không bị tra tấn khổ sở mà điềm nhiên thú nhận, thần trộm lấy làm ngờ".

Một tháng sau, Văn Khánh quả nhiên bị bắt. Thượng hoàng do đó khen Phí Trực là người có tài.

Ngoài ra, thời Trần Minh Tông, còn có các viên Thẩm hình là Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn cũng nổi tiếng về xét xử công bằng, thanh liêm.

Sử thời Trần ghi lại chuyện Trương Hán Siêu khi giữ chức Hành khiển, có nói trong triều rằng hình quan Phạm Ngộ và Lê Duy ăn hối lộ. Vua lập tức sai điều tra, Trương Hán Siêu sợ hãi mới nói kín với người khác: "Tôi làm việc ở chính phủ, được chúa thượng tin dùng, cho nên mới nói thế, biết đâu lại có chuyện tra xét này!".

Vua nghe vậy nói: "Hành khiển là quan ở sảnh, Thẩm hình là quan ở viện, ta đều tín nhiệm cả. Sao lại làm ta tin quan sảnh mà ngờ quan viện?". Rồi khi đưa ra triều đình tra hỏi, Hán Siêu đuối lý, phải phạt 300 quan tiền.

Chỉ ít lâu sau, Phạm Ngộ được cử Tham tri chính sự Đồng tri thượng thư Tả ty sự, chức ngang với Hán Siêu. “Toàn thư” nhận định “Phạm Ngộ tuy học vấn không bằng Hán Siêu, nhưng làm quan thanh liêm cẩn thận, được tiếng khen ở thời đó”.

Một viên quan thẩm hình khác, Nguyễn Trung Ngạn, cũng được sử sách hết lời ca ngợi. Ông vốn giữ chức Tri thẩm hình viện sự, lại được kiêm chức An phủ sứ Thanh Hóa. “Trung Ngạn cho lập Bình doãn đường xét xử ngục tụng. Không ai bị xử oan hoặc xử quá đáng”, sử chép.

Về luật pháp thành văn, đến cuối đời vua Trần Minh Tông (năm 1333), vua mới sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn làm biên soạn bộ “Hoàng triều đại điển” và khảo soạn bộ “Hình thư” để ban hành.

Lê Tiên Long

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Chuyện chưa kể về ngày giải phóng Huế

Đã 46 mùa xuân đi qua, nhưng ký ức về mùa Xuân lịch sử năm 1975 vẫn còn đọng mãi trong tâm trí của các chiến sĩ cách mạng thuộc Tiểu đoàn trinh sát vũ trang nội thành Huế năm xưa. Những trận đánh “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của các anh đã phá tan âm mưu kìm kẹp của quân địch, góp sức làm nên chiến thắng, giải phóng quê hương Thừa Thiên-Huế…

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, năm 1966, Ban Chỉ huy lực lượng trinh sát vũ trang nội thành Huế chính thức được thành lập với 5 đồng chí cốt cán. Về sau, lực lượng của Ban ngày càng lớn mạnh và được chia làm 5 đội với nhiều tên gọi khác nhau. Trong số 120 lính trinh sát vũ trang thuộc Ban Chỉ huy lực lượng trinh sát vũ trang nội thành Huế có các đồng chí như Trần Phong, Hoàng Thức Bảo, Nguyễn Đình Xướng, Nguyễn Thị Lài… Với sự gan dạ, dũng cảm và mưu trí, lực lượng trinh sát vũ trang đã khiến quân địch phải khiếp sợ trong mỗi trận đánh.

Nhân kỷ niệm 46 năm Ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên-Huế (26/3/1975 - 26/3/2021), chúng tôi tìm gặp Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Trần Phong, tên thật là Trần Đình Lưỡng (SN 1929, quê ở thôn Lam Trung, xã Phú Thạnh, nay là thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang).

Bộ đội giải phóng tiến vào cổng Ngọ Môn Huế trong ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế. Ảnh tư liệu

Dù tuổi cao, song ông Phong vẫn còn nhớ mãi không khí của những ngày cách mạng sục sôi vào mùa Xuân năm 1975. Ông kể, năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tập kết ra miền Bắc và tham gia lực lượng Công an vũ trang. Cuối năm 1966, ông được Bộ Công an tăng cường cho An ninh TP Huế, hình thành Ban Chỉ huy lực lượng trinh sát vũ trang hoạt động nội thành Huế theo yêu cầu nhiệm vụ mới. “Sau Mậu Thân, địch đánh phá rất ác liệt nhưng nhờ sự chuẩn bị trước nên lực lượng trinh sát vũ trang nội thành Huế vẫn cùng nhân dân kiên cường bám trụ lại vùng đồng bằng để hoạt động. Từ năm 1971, sau khi được phân công làm Phó ban rồi Trưởng ban An ninh TP Huế, tôi đã cùng với đồng đội tổ chức nhiều trận đánh địch và giành được chiến thắng vang dội”, ông Phong nhớ lại.

Trong chiến dịch giải phóng Huế vào mùa Xuân năm 1975, dù tướng ngụy Ngô Quang Trưởng hô hào “Tử thủ cho Huế” nhưng lính ngụy vẫn lo sợ trước các trận đánh của lực lượng An ninh TP Huế và các đơn vị chủ lực của quân giải phóng.

Ngày 22/3/1975, quân ta từ trên rừng tràn xuống chặn đường quốc lộ số 1 đi Đà Nẵng khiến lính ngụy đổ xô chạy về cửa Thuận An lên tàu thủy chạy vào Nam. Biết thời cơ đã đến, sau khi giải phóng các xã Thủy Thanh, Thủy Vân và Xuân Phú, ngày 23-3, ông Phong tập hợp cơ sở địa bàn chuẩn bị lực lượng tiến lên Huế. Ngày 24/3, trong lúc quân giải phóng từ bốn phía đổ vào Huế bao vây, truy kích địch, ông Phong cùng lực lượng An ninh TP Huế và trinh sát vũ trang mật tại địa bàn Hương Thủy chuẩn bị vũ khí đầy đủ tiến vào Huế.

“Lúc này, chúng tôi đột nhập vào chiếm lĩnh Ty Cảnh sát Thừa Thiên ở số 15 Trần Cao Vân, Trung tâm Cảnh sát sắc phục ở số 42 Hùng Vương, Trung tâm thẩm vấn Mỹ - ngụy trên đường Lê Quý Đôn, chiếm giữ lao tạm cho đến khi Huế hoàn toàn giải phóng”, anh hùng Trần Phong nhớ lại giây phút chiến đấu cùng đồng đội để giải phóng Huế.

Sau khi chiếm giữ các cơ sở của địch, lực lượng An ninh TP Huế đã gom tất cả tài liệu thu được đưa về vùng an toàn xã Thủy Xuân nhằm đề phòng địch ném bom phản kích. Đồng thời tổ chức lực lượng canh gác những nơi vừa chiếm được và tiếp tục tấn công các mục tiêu kho gạo, nhà máy nước, nhà máy điện, mở đường cho Trung đoàn Phú Xuân, Quân khu Trị Thiên tiến vào Ngọ Môn Huế và cắm lá cờ giải phóng trên kỳ đài Huế vào ngày 26/3/1975. Ông Phong bảo: “Nhờ lực lượng trinh sát vũ trang An ninh TP Huế tấn công vào Huế kịp thời, nhanh chóng, đóng góp thực lực tiêu diệt sinh lực địch, góp phần làm chủ thành phố, ổn định tình hình, giúp Huế giải phóng hoàn toàn”.

Cùng trò chuyện với chúng tôi, Anh hùng LLVTND Hoàng Thức Bảo, nguyên Đội trưởng Tiểu đoàn trinh sát vũ trang nội thành Huế năm xưa vẫn không thể nào quên những trận đánh địch do ông và đơn vị tổ chức, góp sức giải phóng Huế vào mùa Xuân 1975. Ông Bảo cho biết, trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, nếu không được sự giúp đỡ, che chở, bao bọc của nhân dân thì không thể làm được việc gì. Chính nhân dân đã đào hầm bí mật, che giấu và nuôi cơm cho lực lượng hoạt động cách mạng từng bữa.

Khi địch càn, không lên hầm bí mật được thì các cán bộ, chiến sĩ được nhân dân đưa cơm xuống hầm. Khi bắt được lính giải phóng trong nhà, chủ nhà cũng liền bị bắt tù, tra tấn dã man. Nếu phát hiện ra hầm bí mật trong nhà, chủ nhà bị địch bắn cảnh cáo chết ngay ở cửa hầm bí mật. Tuy nhiên, với tinh thần giúp đỡ cách mạng, sẵn sàng hy sinh, rất nhiều gia đình ở vùng đồng bằng Huế đã trở thành cơ sở cách mạng, giúp lực lượng An ninh TP Huế và quân giải phóng tổ chức nhiều trận đánh ngay trong lòng địch.

Một trong những trận đánh tiêu diệt sinh lực địch đến nay ông Bảo vẫn nhớ rõ, đó là trận đánh diễn ra trong 11 ngày đêm, lực lượng trinh sát vũ trang nội thành Huế giết được 200 tên địch tại địa đạo Khe Trái, Hương Trà bảo vệ thành công hậu cứ an ninh tỉnh. Tiếp đó, khi biết tin đại hội thi đua Công - Nông binh tại hậu cứ Khe Vàng, Hương Thủy được tổ chức, địch cho 1 tiểu đoàn tấn công. Gặp sự phản kích quyết liệt của lực lượng trinh sát nội thành Huế, chúng buộc phải rút lui, 100 đại biểu tham dự đại hội được bảo vệ an toàn.

Anh hùng LLVTND Hoàng Thức Bảo.

Trận này ông Bảo và đồng đội tiêu diệt 50 tên địch, bắt sống hàng chục tên khác. “Với chỉ thị đánh lùi địch nhưng không lộ lực lượng, Tiểu đoàn trinh sát vũ trang do đồng chí Trần Phong, Trưởng ban An ninh TP Huế chỉ huy nghĩ ra cách cưa đôi đạn pháo chưa nổ rồi nhét kíp nổ vào trong, đặt dọc tuyến đường mà địch hành quân từ Hương Long về xã Hương Mai, thị xã Hương Trà. Khi địch đi qua, mìn phát nổ, tiêu diệt toàn đội thám báo và 1 máy bay địch bị cháy rụi. Chiến công vang dội này của lực lượng trinh sát vũ trang nội thành Huế đã nhân lên sức mạnh, ý chí và quyết tâm đánh địch trong lòng nhân dân, góp sức làm nên chiến thắng ngày giải phóng Huế”, ông Bảo kể tiếp.

Sau ngày Thừa Thiên-Huế giải phóng, Bộ Công an chi viện thêm cho Ban An ninh TP Huế 70 cán bộ để thành lập bộ máy có đầy đủ Ban Chỉ huy và các ban tổ chức, hậu cần, nghiên cứu tổng hợp cùng các đội quản lý trị an, cảnh sát bảo vệ, CSGT, chấp pháp, hình sự, bảo vệ nội bộ, an ninh chính trị. Thời điểm này, những người lính trinh sát vũ trang nội thành Huế được bố trí đảm nhiệm các chức vụ quan trọng.

Ngày 15/5/1975, Huế tổ chức lễ mít tinh mừng giải phóng với 5 vạn người tham dự. Lực lượng Công an TP Huế đã phối hợp với Công an tỉnh và Quân đội nỗ lực bảo đảm an ninh trật tự, góp phần vào thắng lợi của cuộc mít tinh. Ghi nhận thành tích và sự cống hiến, hy sinh qua các cuộc kháng chiến, sau này nhiều đồng chí trinh sát vũ trang nội thành Huế đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý anh hùng LLVTND.

Đến nay, 46 mùa Xuân trôi qua sau ngày quê hương Thừa Thiên-Huế được giải phóng nhưng chiến công của những đơn vị anh hùng, trong đó có lực lượng trinh sát vũ trang nội thành Huế sẽ vẫn mãi được khắc ghi trong lòng nhân dân. Thừa Thiên-Huế giải phóng mang ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần quan trọng vào chiến thắng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Anh Khoa

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

Hé lộ 10 điều chưa biết về chuyến bay vào vũ trụ của Yury Gagarin 60 năm trước

 

QĐND Online - Cách đây 60 năm, ngày 12-4-1961, nhà du hành vũ trụ Liên Xô Yury Gagarin trở thành người đầu tiên thực hiện chuyến bay lịch sử vào vũ trụ, mở ra kỷ nguyên chinh phục không gian của loài người. Dưới đây là 10 điều thú vị chưa biết về chuyến bay đó.

1. Hình nhân làm mẫu “Ivan Ivanovich”

Vài tuần trước khi phi hành gia Yury Gagarin thực hiện chuyến bay huyền thoại ngày 12-4-1961, người ta đã đưa vào vũ trụ hình nhân làm mẫu trong trang phục phi công có tên là “Ivan Ivanovich” cùng một chú chó “Ngôi sao”.

Chiếc ghế của phi hành gia tàu vũ trụ “Vostok” (Phương Đông). Ảnh: Aleksandr Mokletsov/Sputnik 

Ngoài ra, trên tàu còn có máy ghi âm dùng để truyền về Trái đất các bản ghi chép công thức nấu ăn và những bài hát đồng ca. Việc làm đặc biệt này nhằm gây rối trí cho những người Mỹ đang theo dõi chuyến bay và đang cố gắng giải mã một cách vô ích những thông tin đã được mã hóa.

2. Dòng chữ “СССР” trên mũ phi hành gia

Dòng chữ “СССР” (viết tắt của “Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết”) được ghi lên mũ bảo hiểm của phi hành gia Yury Gagarin đúng 20 phút trước khi bay.

Yury Gagarin chào tạm biệt bạn bè trước khi bay vào vũ trụ. Ảnh: Sputnik 

Trong thời khắc cuối cùng, người ta mới quyết định làm việc đó để khi hạ cánh xuống Trái đất sẽ không bị nhầm phi hành gia với gián điệp nước ngoài. Bởi đúng một năm trước đó, trên không phận của Liên Xô người ta đã bắn rơi một máy bay trinh thám của một người Mỹ có tên Francis Gary Powers. Người này cũng đội mũ bảo hiểm tương tự.

3. Cụm từ đơn giản nhưng nổi tiếng toàn thế giới

Khi tàu vũ trụ được phóng lên, lẽ ra Yury Gagarin phải nói một câu theo nghi thức là “Phi hành đoàn, khởi hành thôi!”. Tuy nhiên, ông đã nói một cụm từ đơn giản mà sau này trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới là “Poyekhali!” (Đi thôi!).

Yury Gagarin trước khi khởi hành tàu “Vostok-1”. Ảnh: Sputnik 

Khi cất cánh trên máy bay thông thường, người hướng dẫn của Yury Gagarin là Mark Gallay vẫn thường nói như vậy, tuy nhiên ông thực sự không hiểu, câu nói đó để làm gì khi phi hành đoàn chỉ có một người duy nhất.

4. Tàu vũ trụ được điều khiển tự động

Tàu vũ trụ “Vostok-1” của Yury Gagarin được điều khiển theo chế độ tự động. Bởi lẽ, chẳng ai có thể đoán trước được con người trong điều kiện cực đoan như vậy sẽ hành xử thế nào.

Tàu vũ trụ “Vostok-1” cùng phi hành gia đầu tiên trên thế giới Yury Gagarin lúc khởi hành. Ảnh: Sputnik 

Để phòng trường hợp bất trắc, người ta đã đưa cho Yury Gagarin một chiếc phong bì có mã kích hoạt chế độ lái bằng tay. Có thể nhận mã kích hoạt bằng cách giải một bài toán số học đơn giản, nhưng lại là phức tạp trong nếu trong trạng thái hoảng sợ.

5. Bức thư từ biệt

Trước khi bay, Yury Gagarin đã viết thư từ biệt gửi người vợ Valentina của mình phòng trường hợp ông không thể trở về Trái đất. Bức thư này mãi đến 7 năm sau bà mới nhận được, khi Yury Gagarin tử nạn trong một chuyến bay huấn luyện ngày 27-3-1968.

Bà Valentina Gagarina và con gái Lena đọc thư gửi đến tòa soạn Tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” sau khi Yury Gagarin qua đời. Ảnh: A. Golikov/Sputnik 

6. “Tôi đang cháy, xin vĩnh biệt các đồng chí!”

Lúc đó người ta không biết rõ, tàu vũ trụ sẽ như thế nào khi bay qua những lớp dày đặc của khí quyển. Nhìn thấy những đốm lửa trên ô cửa mạn tàu, Gagarin cho rằng, tàu của ông đang gặp nạn và truyền tin về Trái đất: “Tôi đang cháy, xin vĩnh biệt các đồng chí!”. Vì những lý do chính đáng, người ta quyết định quên lãng những lời nói này.

Các nhà khoa học theo dõi tình trạng của Yury Gagarin trong vũ trụ từ Trung tâm điều hành bay. Ảnh: Sputnik 

7. Đặc cách thăng hàm lên Thiếu tá

Yury Gagarin bay vào vũ trụ với hàm Thượng úy, còn khi bay trở về Trái đất thì mang hàm Thiếu tá. Có giả thiết cho rằng, đích thân Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev đã ra lệnh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Rodion Malinovsky thăng hàm đặc cách cho Yury Gagarin, bỏ qua hàm Đại úy và lên thẳng Thiếu tá. 

Yury Gagarin và Bí thư thứ nhất ĐCS Liên Xô Nikita Khrushchev. Ảnh: Aleksandr Sergeev/Sputnik 


8. Mang theo súng vào vũ trụ

Trong khi tàu “Vostok-1” thực hiện chuyến bay, lần đầu tiên trong lịch sử con người mang theo súng vào vũ trụ. Yury Gagarin được giao cho một khẩu súng ngắn Makarov. Dự kiến, phi hành gia có thể sẽ hạ cánh xuống một khu vực xa xôi hẻo lánh, nơi ông phải tự bảo vệ mình khỏi những con thú rừng. Chính điều này đã xảy ra với phi hành đoàn tàu “Voskhod-2” (Bình minh) năm 1965, khi họ phải bắn trả để xua đuổi những đàn sói và gấu trong rừng phủ đầy tuyết ở phía Nam dãy Ural.

Thiết bị tàu vũ trụ “Vostok-1” cùng Yury Gagarin hạ cánh xuống Trái đất. Ảnh: Sputnik 

9. Suýt tử vong khi trở về Trái đất

Việc phi hành gia đáp xuống Trái đất bằng khoang tàu thời điểm đó là không thể về mặt kỹ thuật, vì vậy Yury Gagarin đã tự mình phóng ra ngoài và hạ cánh bằng dù. Trong bộ áo giáp kín mít, ông đã không mở van ngay để cung cấp dưỡng khí, nên phải chịu ngạt thở một lúc. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, người đầu tiên bay vào vũ trụ suýt tử vong khi trở về Trái đất.

Yury Gagarin sau khi trở về Trái đất. Ảnh: Sputnik 

10. “Đừng nói chuyện này với ai nhé!”

Hai ngày sau chuyến bay lịch sử, tại buổi chiêu đãi được tổ chức bên trong Điện Kremlin, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Shrushchev kéo Yury Gagarin sang một bên rồi hỏi phi hành gia có nhìn thấy Chúa không và được Gagarin trả lời đùa là có.

Nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Yury Gagarin. Ảnh: Sputnik 

Nhà lãnh đạo Liên Xô liền nói: “Đề nghị anh đừng nói chuyện này với ai nhé!”. Một lúc sau, Giáo chủ Alexy I cũng bước đến hỏi câu tương tự. Yury Gagarin lúc đó lúng túng nói đùa với người đứng đầu Nhà thờ chính thống Nga và trả lời: “Không, thưa Cha, tiếc là tôi không nhìn thấy”. “Yury này, anh đừng đem chuyện này kể với ai nhé!”, Giáo chủ nói.

QUỐC KHÁNH (theo Russia Beyond)

 

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...