Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Tổng Bí thư: Học tập, làm theo Bác phải thấm vào tim, trong từng hành động

(Thanh tra) - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo” Bác. Ảnh: Đ.X

Sáng 12/6, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, triển khai Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW. 

Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác là "tài sản tinh thần vô giá"

Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta. 

“Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta, trước hết là các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước và cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện, cống hiến, phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân”, Tổng Bí thư nói.

Nói lại một cách vắn tắt về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, người đứng đầu Đảng đánh giá, thời gian qua mà gần nhất là việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, khá toàn diện, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội.

Theo Tổng Bí thư, việc thực hiện Chỉ thị 05 còn không ít hạn chế cần được khắc phục, làm tốt hơn nữa. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu tham quan, nghe giới thiệu Triển lãm "Những tấm gương bình dị mà cao quý”. Ảnh: Đ.X 

“Chúng ta vui mừng với thành tích, kết quả đã làm được nhưng nhiều cái vẫn còn hình thức, nặng chạy theo thành tích, che giấu khuyết điểm, không thẳng thắn đấu tranh”, Tổng Bí thư nhấn mạnh và lưu ý, “chỉ báo cáo thành tích thì không thể tiến bộ được”.

Không nói suông, học thuộc lòng, càng không được sáo rỗng

Nhắc lại sau 35 năm đổi mới, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, nhưng theo Tổng Bí thư, thuận lợi, thời cơ đan xen với khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp, cấp bách hơn đối với công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, hòng lật đổ Đảng ta, chế độ ta. 

Từ đó, Tổng Bí thư yêu cầu, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan, đơn vị cần phát huy những kết quả đã đạt được trong những năm qua, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trong đó, chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Giải thích cụ thể, theo Tổng Bí thư, học tập Bác là học tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức cách mạng và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính. Làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự thấm nhuần tư tưởng của Bác, thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm…

Làm theo Bác là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, chứ “không chỉ nói suông, không chỉ học thuộc lòng, càng không sáo rỗng” mà phải thấm vào tim, trong từng hành động.

Tổng Bí thư nêu rõ, phải hiện thực hoá bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đề cao chức trách, đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta. Ảnh: Đ.X 

Đồng thời, giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn, trên nền tảng, kim chỉ nam là tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin trong mọi hành động.

Nêu gương, dám nghĩ, dám làm có hiệu quả thì dân tin

Thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập và làm theo Bác là nêu gương. Theo Tổng Bí thư, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo.

“Phải thể hiện được tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể, theo tinh thần Bác đã dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, Tổng Bí thư phát biểu và cho rằng, “cứ làm, có hiệu quả thì dân tin”.

Tổng Bí thư cũng lưu ý, quá trình thực hiện ba nhiệm vụ nêu trên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược; “chồng” là quan trọng, cấp bách. Đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”.

“Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân không trong sáng nào”, Tổng Bí thư thư nêu rõ. 

Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Người đứng đầu Đảng mong rằng, sau hội nghị việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, ngày càng đi vào chiều sâu, ngày càng thiết thực hiệu quả, phấn đầu đưa nước ta vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thực hiện được tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu.

Hương Giang

 

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021

Quốc hội bắt đầu kiện toàn nhân sự chủ chốt

Ngày 30/3, Quốc hội bắt đầu tiến hành quy trình nhân sự kiện toàn 25 chức danh lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ.



Khoảng 11h, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội miễn nhiệm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia. Tiếp đó, Quốc hội thảo luận ở Đoàn về nội dung này.

Trong phiên họp chiều cùng ngày, Quốc hội nghe Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo kết quả thảo luận tại Đoàn và giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội về việc miễn nhiệm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.

Quốc hội tiến hành quy trình miễn nhiệm Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia bằng hình thức bỏ phiếu kín. Sau đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình danh sách đề cử để Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia; thảo luận tại Đoàn về dự kiến nhân sự để bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.

Trong các ngày làm việc tiếp theo, sáng 31/3, Quốc hội tiến hành quy trình bầu Chủ tịch Quốc hội - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia. Chủ tịch Quốc hội sẽ tuyên thệ vào chiều cùng ngày.

Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm Thủ tướng, Chủ tịch nước vào ngày 2/4. Trong ngày 5/4, Quốc hội lần lượt bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ. Tân Chủ tịch nước sẽ tuyên thệ nhậm chức vào sáng 5/4 và chiều cùng ngày, tân Thủ tướng Chính phủ tuyên thệ.

Quốc hội cũng sẽ tiến hành bầu, miễn nhiệm lãnh đạo các cơ quan Nhà nước, bao gồm: Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Chủ nhiệm một số Ủy ban của Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Tổng Thư ký Quốc hội, một số Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ.

A.Quỳnh - Báo điện tử CAND

 

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

“Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”

(TG) - Là một người tiên tri tiên lượng, nhà dự báo chiến lược thiên tài, sau khi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7/1935), trả lời nhà văn I.Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này, Nguyễn Ái  Quốc nói: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”(1)...

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua (nước Pháp), tháng 12-1920 (Ảnh tư liệu)


1.
 Với một khả năng thấy trước, tiên đoán khoa học của bậc kỳ tài về tình hình thế giới và trong nước đang từng bước có những chuyển biến mau lẹ, Người thấy phải sớm về nước để tranh thủ và chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân vùng lên giải phóng. 

Trong hai năm làm việc ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa và học ở lớp nghiên cứu sinh do Viện mở (từ khoảng tháng 6/1936 đến tháng 6/1938), Nguyễn Ái Quốc luôn luôn nung nấu kế hoạch về nước. Ngày 6/6/1938, Nguyễn Ái Quốc (Lin) viết Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản. Thư nhắc đến ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc Người bị bắt giữ ở Hồng Công, đó là mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của Người. Thư đề nghị phân Người đi đâu đó, giao cho Người làm một việc gì có ích. Thư nhấn mạnh: “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(2).

Hai ngày sau, ngày 8/6/1938, Nguyễn Ái Quốc được Phòng Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản gửi báo cáo Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản đề nghị giải quyết dứt điểm cho về nước. Tháng 10/1938, Nguyễn Ái  Quốc đáp xe lửa từ ga Iarôxlápxki rời Mátxcơva đi về phương Đông.

Con đường trở về Tổ quốc từ tháng 10/1938 của Nguyễn Ái Quốc gian nan, vất vả. Trong vai Thiếu tá bát lộ quân, với bí danh Hồ Quang, Người di chuyển từ Diên An, Tây An đến Quế Lâm qua Trùng Khánh… Từ cuối tháng 7/1939 đến đầu năm 1941, Nguyễn Ái  Quốc tiếp tục di chuyển nhiều nơi trên đất Trung Quốc và có nhiều hoạt động tích cực. Người có báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương (từ năm 1936 đến năm 1938). Người làm việc ở Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây), Quý Dương (tỉnh Quý  Châu), Côn Minh (Vân Nam)… Từ đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu liên hệ được với nhiều đồng chí Việt Nam đang ở Trung Quốc và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. 

Tháng 6/1940, Nguyễn Ái  Quốc đã giới thiệu Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh Dương Hoài Nam) đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khoảng 20 ngày sau, nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (20/6/1940), Người triệu tập một cuộc họp và phân tích “việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(3). Người điện ngay cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp nói không đi Diên An học tập nữa mà phải tìm cách về nước. Khi đi Trùng Khánh, Người dặn đi dặn lại Vũ Anh và các đồng chí ở Côn Minh lo chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay. Khi biết Nhật vào Đông Dương, Người nhận định:“Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(4).

Từ tháng 10/1940, khi được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc có ý định tổ chức lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng, tổ chức đường liên lạc về nước, phát triển xuống Thái Nguyên và tiếp xúc với toàn quốc. Đầu tháng 1/1941, Người bắt đầu tổ chức lớp học, trực tiếp huấn luyện chính trị.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Một ngày trước đó (ngày 27/1, tức mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ), trong khi chuẩn bị về nước, Nguyễn Ái  Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc).

2. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục dịch (đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người giao nhiệm vụ cho Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 Đảng Cộng sản Đông Dương. Những hoạt động trên, đặc biệt là việc Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn.

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc cùng với Đảng ta đề ra chủ trương đúng đắn, thay đổi chiến lược, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là cấp thiết, hàng đầu

Xuất phát từ nhận định tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, vấn đề dân tộc, Hội nghị phân tích sâu sắc mối quan hệ vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, bộ phận và toàn thể, chỉ rõ “trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau”(5). Xác định “cần phải thay đổi chiến lược”(6), Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(7). Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng xác định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(8).

Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đề ra sáng kiến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh)

 Căn cứ vào tình hình thay đổi, sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận Việt Minh thuộc về chiến thuật vận động. Vấn đề cốt yếu là đánh đuổi được Pháp - Nhật, thực hiện cho được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh ở một số huyện như Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm đó, tại Hội nghị Trung ương 8, Người khẳng định tính thiết thực, bổ ích của một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong dân tộc Việt Nam. Mặt trận Việt Minh đã liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị để mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. 

Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng được Nguyễn Ái  Quốc chỉ rõ phải phản ánh được chính sách cứu quốc, mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu, mà hạt nhân là tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc.

“Cứu quốc” tức là quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi của toàn thể dân tộc.

Với sáng kiến thành lập Mặt trận Việt Minh, Hội nghị Trung ương 8 khẳng định: “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”(9). Việt Minh đưa ra chính sách 10 điểm được coi như “tiền Hiến pháp” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ Mười chính sách của Việt Minh phản ánh nguyện vọng chung của toàn dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và mọi tầng lớp nhân dân. 

“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”

 

(Trích bài thơ Mười chính sách của Việt Minh)

 

Sau Hội nghị Trung ương 8, ngày 6/6/1941, Nguyễn Ái  Quốc có thư Kính cáo đồng bào. Trong thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(10).

Mười năm sau, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), Hồ Chí Minh nhận định: “Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân… Vì thế mà Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát với dân, cho nên Việt Minh phát triển rất mau và rất mạnh. Vì mặt trận phát triển mạnh mà Đảng phát triển cũng khá”(11).

“Không có chuyển hướng chiến lược do Cụ Hồ đề nghị thì không có Việt Minh; không có Việt Minh thì không có Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Xem đó thì rõ tầm quan trọng của sự chuyển hướng chiến lược là to lớn dường nào”(12)

-  GS. Trần Văn Giàu

Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc về nước cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Cần phải khẳng định rằng sự kiện 80 năm trước Nguyễn Ái Quốc về nước (28/1/1941) mang tầm vóc to lớn và ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Đánh giá sự kiện ngày 28/1/1941 phải gắn chặt với suy nghĩ và hành động của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian trên đường về nước.

Nguyễn Ái Quốc là con người hành động, lý luận gắn với thực tiễn. Quan điểm của Người rõ ràng: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng. Ví dụ đại đoàn kết”(13). Việc Nguyễn Ái Quốc sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết định trở về nước vì “không muốn sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bện cạnh, ở bên ngoài của Đảng” là minh chứng hùng hồn cho quan điểm lý luận Mác - Lênin thống nhất với thực tiễn cách mạng Việt Nam của Người.

Việc trở về nước của Nguyễn Ái Quốc cùng với thư Kính cáo đồng bào và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 mà Nguyễn Ái Quốc là linh hồn, đã tạo nên sự thống nhất cao độ, bền vững giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm, đường lối của Đảng. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng làm nên kỳ tích lịch sử, cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “biến người nô lệ thành người tự do”, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân, tạo điều kiện cho dân tộc ta theo kịp các nước trên hoàn cầu, bước tới đài vinh quang để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau ngày nước nhà độc lập./.

PGS. TS. Bùi Đình Phong

_____________________________________________________________

(1) (3) (4) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, H, 2016, t.2, tr.60, 99, 102.
 (2) (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, t.3, tr.117, tr.230.
 (5) (6) (7) (8) (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.7, tr.113,118,119, 113,127.
(12) Trần Văn Giàu: Mấy vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, in trong sách Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, H, 1993, t.2, tr.41.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.368.

 

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

Công tác thông tin đối ngoại góp phần đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

(TG) - Trên chặng đường 90 năm của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc giành được những thắng lợi to lớn, làm rạng danh non sông đất nước. Góp phần vào những thành tựu đáng tự hào đó có vai trò quan trọng của công tác thông tin đối ngoại. 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng trao giải cho các tác giả đạt giải Nhất Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ VI.


Đã 75 năm, kể từ ngày 2/9/1945, khi bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phát đi trên sóng của Đài phát sóng Bạch Mai (Hà Nội) bằng hai thứ tiếng nước ngoài là tiếng Anh và tiếng Pháp - bản tin đối ngoại đầu tiên và hết sức đặc biệt của nước Việt Nam tự do, độc lập, vang vọng khắp năm châu, mang theo khát vọng cháy bỏng của một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Từ đó đến nay, công tác thông tin đối ngoại đã luôn là "một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại và công tác tư tưởng", đưa thế giới đến gần với Việt Nam và mang "tiếng chuông" Việt Nam vang xa "nơi xứ người".

Trong giai đoạn hiện nay, trước những biến chuyển không ngừng của thời cuộc, đất nước ta đang ở trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, tạo tiền đề cho việc hướng tới các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI. Thực tiễn này đặt công tác thông tin đối ngoại đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và yêu cầu mới, trong đó có nhiệm vụ nâng cao hơn nữa hiệu quả đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái thù địch, góp phần thống nhất nhận thức, tạo đồng thuận xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

NHẬN DIỆN CÁC CHỦ ĐỀ XUYÊN TẠC VÀ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ

 Bất chấp những thành tựu đối ngoại mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giành được, các thế lực thù địch trong thời gian qua đã ra sức phủ nhận, tìm mọi cách tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước.

Những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc nêu trên được các thế lực thù địch đẩy mạnh trên các nền tảng ứng dụng công nghệ truyền thông thế hệ mới - Ảnh: TTX


Dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, tôn giáo”, bằng một thái độ bất mãn và những quan điểm xuyên tạc, bóp méo, các thế lực thù địch đã vu cáo trắng trợn là Đảng “hèn nhát” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước, phủ nhận hoàn toàn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam. Họ lợi dụng lòng yêu nước, tự tôn dân tộc để kích động một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân bằng giọng điệu là Việt Nam đang “đi dây trong quan hệ với các nước lớn”; để giữ độc lập, chủ quyền... phải “thoát Trung”; “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc mạnh thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo”; chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói tay mình”… Thậm chí, ngay cả với việc gánh vác các trọng trách quốc tế lớn, cũng có ý kiến lệch lạc cho rằng đất nước còn nghèo, tốn tiền dân, không nên đảm trách các sự kiện quốc tế (1). Trong bối cảnh phòng chống dịch bệnh COVID-19, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, vừa kích động phải cấm biên, “bài Trung”, vừa tuyên truyền luận điệu cho rằng những hỗ trợ mang tính nhân đạo, hữu nghị là “cống nạp”. Ngay cả khi công tác chống dịch có được những thành công đáng khích lệ, được dư luận quốc tế đánh giá cao, vẫn có ý kiến cho rằng Việt Nam “giấu dịch” hoặc tìm cách bôi đen uy tín của Đảng và Chính phủ bằng lập luận “Việt Nam thành công nhờ hệ thống theo dõi, đàn áp”…

Những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc nêu trên được các thế lực thù địch đẩy mạnh trên các nền tảng ứng dụng công nghệ truyền thông thế hệ mới. Sự chống phá trên bình diện thông tin đối ngoại diễn ra thường xuyên và liên tục, với sự cấu kết chặt chẽ của các thành phần thù địch, cơ hội trong và ngoài nước. Trên những trang mạng, các cá nhân và một số hãng truyền thông nước ngoài, vì mục tiêu chính trị hoặc vốn mang nặng định kiến, thiếu thiện chí với Việt Nam, đã tập trung đăng tải các bài viết, video sử dụng những ngôn từ kích động lòng thù hằn dân tộc, khoét sâu vào những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng khu vực, các đối tác quan trọng, núp dưới cái bóng của những “nhà dân chủ, trí thức, học giả, người dân yêu nước chân chính” để “phê phán, chỉ ra” những “khuyết điểm, sai lầm” trong đường lối của Đảng, Nhà nước.

Mục tiêu của các thế lực thù địch là cố gắng tạo ra một hình ảnh xấu về Đảng, Chính phủ Việt Nam; gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng và quan ngại trong dư luận trong và ngoài nước, gây ảnh hưởng tới cách nhìn, nhận thức của cộng đồng quốc tế đối với chủ trương, quan điểm, vai trò và uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Từ đó, cản trở, tạo sức ép dư luận nhằm thay đổi, “lái” đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng ta ngả theo quốc gia này hoặc quốc gia kia; làm xói mòn lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân, gây mất ổn định về chính trị - xã hội. Hệ quả của một số sự việc năm 2014, 2018 ở một số tỉnh, thành không chỉ gây mất an ninh, trật tự xã hội, mà còn làm xấu đi hình ảnh của một Việt Nam ổn định, hòa bình, điểm đến an toàn, hấp dẫn trong mắt bạn bè quốc tế, làm tổn hại tới mối quan hệ Việt Nam với một số đối tác.

NHẬN ĐỊNH VỀ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ

Mặc dù những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch rất phi lý, vô căn cứ, song có lúc, có nơi vẫn có thể tác động tới tư tưởng, tâm lý của một bộ phận cán bộ, nhân dân ta. Thực tế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Về bối cảnh, trong một thập niên trở lại đây, chúng ta đã và đang chứng kiến những sự đổi thay, biến động to lớn của tình hình thế giới, tác động đến tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Mặc dù hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn, chi phối đời sống quan hệ quốc tế nhưng chủ nghĩa đơn phương, dân túy, bảo hộ đang trở thành thách thức lớn đối với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Hòa bình và thịnh vượng toàn cầu liên tục bị đe dọa bởi nguy cơ suy thoái kinh tế, dịch bệnh, xung đột tôn giáo, sắc tộc, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương chứng kiến sự cạnh tranh giữa cơ chế hợp tác quốc tế cũ - mới, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn. Mối quan hệ giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc, đã chuyển sang giai đoạn gia tăng cạnh tranh chiến lược, đối đầu trên nhiều lĩnh vực. Bối cảnh đó đặt ra nhiều khó khăn, thách thức to lớn đối với Đảng và Nhà nước ta trong việc kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.

Bên cạnh đó, với sự phát triển như vũ bão của Cuộc cách mạng khoa học Công nghệ lần thứ tư, những tiến bộ kỹ thuật đã làm giảm thiểu một tỷ lệ lớn các chi phí xử lý và truyền đạt thông tin. Ngày nay, mỗi cá nhân có thể trở thành “phóng viên”, nhà bình luận tin tức, người phê phán... chỉ với một chiếc máy tính hay điện thoại thông minh cầm tay có kết nối mạng. Điều này dẫn tới hệ quả là sự bùng nổ thông tin đa chiều và vô hình chung cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho các thế lực thù địch lợi dụng, biến các phương tiện thông tin truyền thông hiện đại, như: Internet, mạng xã hội trở thành "vũ khí" chống phá Đảng và Nhà nước ta trên không gian mạng.

Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ một số điểm hạn chế và tồn tại trong quá trình lãnh đạo và phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta. Ngoài ra, công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục của chúng ta còn bộc lộ một số hạn chế, trong đó đáng chú ý nhất là thiếu tính chủ động, kịp thời, đồng bộ, nội dung còn thiếu sắc sảo và thuyết phục. Do khả năng dễ dàng tiếp cận thông tin, có tâm lý thích nghe cái lạ, trái chiều, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng chưa đầy đủ, có nơi, có chỗ còn hiểu sai, hiểu chưa đúng. Cộng đồng quốc tế và đặc biệt là cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài, do không được tiếp xúc nhanh chóng với thông tin chính thống, dẫn tới việc hiểu không đúng về tình hình đất nước, hoài nghi về chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước. Trong đó, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài (thế hệ người Việt sinh ra, lớn lên và học tập tại môi trường nước ngoài, chịu ảnh hưởng của các quan niệm, luận điểm, giá trị, văn hóa của các quốc gia sở tại) không có được hình dung đầy đủ, cụ thể về sự thay đổi, quá trình đổi mới, quyết sách chủ trương, đường lối của đất nước ta qua từng thời kỳ, có sẵn hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí còn có biểu hiện phê phán khi đề cập tới “cộng sản”, “chủ nghĩa xã hội”.

 THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI GÓP PHẦN ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Bên cạnh nhiều thách thức, công tác thông tin đối ngoại có thuận lợi to lớn là vị thế và uy tín của Đảng ta, của đất nước ta. Đặc biệt, những thành công trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 đã mang lại những cơ hội hiếm có cho công tác thông tin đối ngoại. Thông qua truyền thông và dư luận quốc tế, Việt Nam đang là hình mẫu thành công chống đại dịch, với tính ưu việt của hệ thống chính trị, xã hội và con người nhân văn, nền kinh tế dẻo dai, bền vững, thích ứng cao, đường lối đối ngoại tích cực và đầy trách nhiệm. Đây là cơ hội thuận lợi để công tác thông tin đối ngoại chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực, thù địch cơ hội, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, kiến tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy quá trình hội nhập, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè thế giới, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Cụ thể là:

Thứ nhất, công tác thông tin đối ngoại cần tiếp tục tập trung quán triệt, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước.

Việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cần chú trọng tuyên truyền kịp thời đối với nội dung nhạy cảm, được dư luận trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm; những chủ đề mà các thế lực thù địch, cơ hội tập trung chống phá như dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tình hình Biển Đông... và các vấn đề còn tồn tại trong mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước. Ngoài ra, cần xây dựng, củng cố các luận cứ có cơ sở khoa học và thực tiễn, tiếp tục hoàn thiện lý luận về bản chất ưu việt của chế độ, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới để làm “chất liệu” trong phản bác, đấu tranh.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng tới việc tuyên truyền cho đối tượng là cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài -  cầu nối hữu nghị giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Việc nâng cao nhận thức, tăng cường sự gắn kết của cộng đồng kiều bào với quê hương sẽ góp phần tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để quảng bá hình ảnh đất nước và đấu tranh có hiệu quả với nhóm đối tượng cực đoan người Việt ở nước ngoài. Theo đó, công tác thông tin đối ngoại phải chú trọng tới các việc tuyên truyền sâu rộng những thành tựu, những điển hình, nhân tố mới trong hội nhập quốc tế, đặc biệt những chủ trương, chính sách đối ngoại liên quan tới phát triển kinh tế, thúc đẩy đầu tư, thương mại.

Kiều bào tại tỉnh Udon Thani, Thái Lan dự Lễ kỷ niệm 75 năm Quốc khánh Việt Nam tháng 9/2020. (Ảnh: TTXVN phát)


Thứ hai, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác trên không gian mạng.

Hiện nay, không gian mạng đang bị các thế lực thù địch, cơ hội triệt để lợi dụng để tiến hành các hoạt động gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đặc biệt là tuyên truyền chống phá (2). Chính vì vậy, trong thời gian tới, công tác thông tin đối ngoại cần thực sự có sự đổi mới trong tư duy, cách thức để giành được thế chủ động và đấu tranh có hiệu quả trên “miền chiến sự thứ năm” này(3).



Tình hình phòng, chống dịch COVID-19 vừa qua cho thấy tính hiệu quả, thuận lợi trong thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác qua Internet, mạng xã hội và các hình thức trực tuyến khác. Đây có thể là một bước đệm để thúc đẩy việc sử dụng, phát triển các ứng dụng khoa học công nghệ mới trong lĩnh vực thông tin và rút ra các bài học kinh nghiệm. Trước hết, phải xây dựng, duy trì việc giám sát, kiểm soát và xử phạt nghiêm, công khai các trường hợp cá nhân, tổ chức tung tin sai lệch, gây tâm lý hoang mang cho dư luận, ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc ngăn chặn hoàn toàn các thông tin trái chiều, cần phân biệt rõ ràng giữa “thông tin xấu, độc” và “thông tin phản biện mang tính tích cực”. Hai là, tăng cường chất lượng nội dung và hình thức các trang mạng, website của các cơ quan, đơn vị và thành lập các nhóm (group) trên mạng xã hội để tăng cường lượng thông tin chính thống, tích cực, tạo thế “cân bằng” tiến tới trạng thái “áp đảo” lượng thông tin tiêu cực, xuyên tạc. Ba là, các tuyến tin bài, sản phẩm thông tin đối ngoại phải thực sự có ý tưởng, sáng tạo; đẩy mạnh việc lồng ghép thông tin đối ngoại vào các ấn phẩm văn hóa gần gũi, có khả năng tiếp cận dễ dàng tới các đối tượng (video game, phim, sản phẩm âm nhạc, văn hóa,…), phù hợp với việc tuyên truyền, đăng tải trên không gian mạng. Clip Ghen Cô-vy là một minh chứng rất rõ về tính hiệu quả, sáng tạo của hình thức truyền thông mới. Bốn là, đẩy mạnh xây dựng các chiến lược truyền thông trên mạng xã hội gắn với một nội dung, sự kiện trọng tâm theo từng giai đoạn cụ thể.

Trong gần 1 năm phòng, chống dịch Covid-19, các cơ quan báo chí, thông tấn trên cả nước đồng loạt thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình dịch bệnh, đã góp phần tạo nên một hiệu ứng to lớn, lan tỏa và có tác động sâu sắc tới nhận thức của toàn xã hội. Sự “đoàn kết” của các cơ quan báo chí trong một chiến lược thông tin chung là một phương thức quan trọng góp phần đẩy lùi và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cơ hội.

Thứ ba, đảm bảo tính nhanh nhạy, kịp thời trong công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Trước hết, cần xác định rõ, đối tượng tiến hành các hoạt động xuyên tạc, chống phá bao gồm cả tổ chức lẫn cá nhân, vừa là các thế lực thù địch ở các nước vừa là một bộ phận người dân thiếu hiểu biết. Khi tiến hành đấu tranh với các đối tượng, phương pháp phải linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết, tránh sự áp đặt, nêu cao tinh thần đối thoại, lắng nghe và tôn trọng. Không tránh né vấn đề nhạy cảm. Qua đối thoại và tranh luận, tính đúng đắn trong đường lối của Đảng sẽ được khẳng định, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội sẽ được tăng cường.

Từ thực tiễn cho thấy, trước các vấn đề chính trị - xã hội nhạy cảm, dù mức độ phức tạp đến đâu nếu thông tin kịp thời, minh bạch để người dân hiểu đúng chủ trương của Đảng thì mọi việc được giải quyết ổn thỏa, bức xúc sẽ được giải tỏa. Ngược lại, dù sự việc không quá phức tạp, mức độ bức xúc chưa cao nhưng nếu thông tin không kịp thời, chậm trễ, không nhất quán, định hướng dư luận không tốt thì sự việc dễ trở thành phức tạp, làm nóng lên bởi nhiều yếu tố trái chiều trong xã hội. Vì vậy, công tác thông tin đối ngoại cần có sự chủ động, nhanh nhạy trong nhận biết các âm mưu, thủ đoạn và phân tích, kịp thời đưa ra được luận điểm phản bác thông tin sai lệch.

Để đấu tranh hiệu quả với các luận điệu sai trái, công tác thông tin đối ngoại cần: (1) Trang bị cho mình các cơ sở lý luận, luận cứ khoa học và thực tiễn để khẳng định được tính đúng đắn trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước; (2) Cung cấp đầy đủ dẫn chứng bằng tính hiệu quả trong thực thi, sự đánh giá tích cực từ cộng đồng quốc tế, học giả và các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước đối với các quyết sách của ta; (3) Chỉ rõ sự bất hợp lý, sai lầm trong quan điểm và tính phản khoa học trong các luận điệu mà các thế lực thù địch, cơ hội đưa ra.

Sau khi hình thành được lập luận khoa học, chính xác thì phải quyết định rõ kênh phản bác chính (tuyên truyền miệng, đối thoại trực tiếp hay phản bác trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là trên mạng Internet) để có thể tối đa hóa nguồn lực, nâng cao mức độ hiệu quả. Việc theo dõi phản ứng của dư luận trong và ngoài nước cần được chú trọng thường xuyên. Phản ứng của dư luận là thước đo, đánh giá chính xác tính hiệu quả, tính chiến đấu của thông tin. Từ đó, nhanh chóng tìm ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót để nhanh chóng khắc phục hoặc rút ra bài học kinh nghiệm.

Thứ tư, tiến hành đồng bộ, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong việc chủ động cung cấp thông tin cho báo chí trong và ngoài nước; nâng cao chất lượng đội ngũ, tranh thủ tối đa các lực lượng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm xuyên tạc.

Hệ thống các cơ quan báo chí đối ngoại không ngừng lớn mạnh, mở rộng về quy mô và sự gia tăng các kênh, sản phẩm tiếng nước ngoài.


Tình hình phòng, chống dịch COVID-19 vừa qua cho thấy tính hiệu quả, thuận lợi trong thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác qua Internet, mạng xã hội và các hình thức trực tuyến khác. Đây có thể là một bước đệm để thúc đẩy việc sử dụng, phát triển các ứng dụng khoa học công nghệ mới trong lĩnh vực thông tin và rút ra các bài học kinh nghiệm. Trước hết, phải xây dựng, duy trì việc giám sát, kiểm soát và xử phạt nghiêm, công khai các trường hợp cá nhân, tổ chức tung tin sai lệch, gây tâm lý hoang mang cho dư luận, ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc ngăn chặn hoàn toàn các thông tin trái chiều, cần phân biệt rõ ràng giữa “thông tin xấu, độc” và “thông tin phản biện mang tính tích cực”. Hai là, tăng cường chất lượng nội dung và hình thức các trang mạng, website của các cơ quan, đơn vị và thành lập các nhóm (group) trên mạng xã hội để tăng cường lượng thông tin chính thống, tích cực, tạo thế “cân bằng” tiến tới trạng thái “áp đảo” lượng thông tin tiêu cực, xuyên tạc. Ba là, các tuyến tin bài, sản phẩm thông tin đối ngoại phải thực sự có ý tưởng, sáng tạo; đẩy mạnh việc lồng ghép thông tin đối ngoại vào các ấn phẩm văn hóa gần gũi, có khả năng tiếp cận dễ dàng tới các đối tượng (video game, phim, sản phẩm âm nhạc, văn hóa,…), phù hợp với việc tuyên truyền, đăng tải trên không gian mạng. Clip Ghen Cô-vy là một minh chứng rất rõ về tính hiệu quả, sáng tạo của hình thức truyền thông mới. Bốn là, đẩy mạnh xây dựng các chiến lược truyền thông trên mạng xã hội gắn với một nội dung, sự kiện trọng tâm theo từng giai đoạn cụ thể.

Trong gần 1 năm phòng, chống dịch Covid-19, các cơ quan báo chí, thông tấn trên cả nước đồng loạt thông tin đầy đủ, kịp thời về tình hình dịch bệnh, đã góp phần tạo nên một hiệu ứng to lớn, lan tỏa và có tác động sâu sắc tới nhận thức của toàn xã hội. Sự “đoàn kết” của các cơ quan báo chí trong một chiến lược thông tin chung là một phương thức quan trọng góp phần đẩy lùi và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cơ hội.

Thứ ba, đảm bảo tính nhanh nhạy, kịp thời trong công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Trước hết, cần xác định rõ, đối tượng tiến hành các hoạt động xuyên tạc, chống phá bao gồm cả tổ chức lẫn cá nhân, vừa là các thế lực thù địch ở các nước vừa là một bộ phận người dân thiếu hiểu biết. Khi tiến hành đấu tranh với các đối tượng, phương pháp phải linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết, tránh sự áp đặt, nêu cao tinh thần đối thoại, lắng nghe và tôn trọng. Không tránh né vấn đề nhạy cảm. Qua đối thoại và tranh luận, tính đúng đắn trong đường lối của Đảng sẽ được khẳng định, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội sẽ được tăng cường.

Từ thực tiễn cho thấy, trước các vấn đề chính trị - xã hội nhạy cảm, dù mức độ phức tạp đến đâu nếu thông tin kịp thời, minh bạch để người dân hiểu đúng chủ trương của Đảng thì mọi việc được giải quyết ổn thỏa, bức xúc sẽ được giải tỏa. Ngược lại, dù sự việc không quá phức tạp, mức độ bức xúc chưa cao nhưng nếu thông tin không kịp thời, chậm trễ, không nhất quán, định hướng dư luận không tốt thì sự việc dễ trở thành phức tạp, làm nóng lên bởi nhiều yếu tố trái chiều trong xã hội. Vì vậy, công tác thông tin đối ngoại cần có sự chủ động, nhanh nhạy trong nhận biết các âm mưu, thủ đoạn và phân tích, kịp thời đưa ra được luận điểm phản bác thông tin sai lệch.

Để đấu tranh hiệu quả với các luận điệu sai trái, công tác thông tin đối ngoại cần: (1) Trang bị cho mình các cơ sở lý luận, luận cứ khoa học và thực tiễn để khẳng định được tính đúng đắn trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước; (2) Cung cấp đầy đủ dẫn chứng bằng tính hiệu quả trong thực thi, sự đánh giá tích cực từ cộng đồng quốc tế, học giả và các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước đối với các quyết sách của ta; (3) Chỉ rõ sự bất hợp lý, sai lầm trong quan điểm và tính phản khoa học trong các luận điệu mà các thế lực thù địch, cơ hội đưa ra.

Sau khi hình thành được lập luận khoa học, chính xác thì phải quyết định rõ kênh phản bác chính (tuyên truyền miệng, đối thoại trực tiếp hay phản bác trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là trên mạng Internet) để có thể tối đa hóa nguồn lực, nâng cao mức độ hiệu quả. Việc theo dõi phản ứng của dư luận trong và ngoài nước cần được chú trọng thường xuyên. Phản ứng của dư luận là thước đo, đánh giá chính xác tính hiệu quả, tính chiến đấu của thông tin. Từ đó, nhanh chóng tìm ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót để nhanh chóng khắc phục hoặc rút ra bài học kinh nghiệm.

Thứ tư, tiến hành đồng bộ, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong việc chủ động cung cấp thông tin cho báo chí trong và ngoài nước; nâng cao chất lượng đội ngũ, tranh thủ tối đa các lực lượng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm xuyên tạc.

 

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2021

Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự một lòng vì dân, vì nước

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần "lấy dân làm gốc" của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”.

Ảnh minh họa: vov.vn

1. Những ngày qua, trong khi đồng bào, chiến sĩ cả nước phấn khởi chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và hàng trăm tổ chức đảng, lãnh đạo các đảng cộng sản, đảng công nhân và nhiều tổ chức phong trào cộng sản trên thế giới gửi thư chúc mừng sự kiện trọng đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì trên mạng xã hội và một số trang báo điện tử nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam, đã đưa ra những thông tin sai trái, những bình luận ác ý, những lời lẽ xuyên tạc nhằm hướng lái dư luận theo một cái nhìn tiêu cực về Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội XIII của Đảng.

Vẫn là những chiêu trò “bổn cũ soạn lại”, các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, “Đại hội XIII: Dân chủ chỉ là cột mỡ”, “Đại hội XIII chả có gì mới”, “Vẫn là đại hội trấn áp tiếng nói bất đồng”... Thậm chí, có đối tượng còn xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tập trung lo cho đại hội toàn quốc "để chia chác quyền lực", "chi tiêu cả nghìn tỷ đồng của dân, trong khi để cho hàng triệu bà con miền Trung sau lũ lụt vẫn chịu thảm cảnh đói rét". Táng tận lương tâm hơn, có kẻ còn rêu rao rằng, Đảng và Chính phủ Việt Nam "bưng bít thông tin về đại dịch Covid-19" xảy ra trước thời điểm Đại hội XIII, cho đến khi dịch bệnh bung ra khắp nơi thì không kiểm soát nổi khiến dân tình lâm vào cảnh mất vui, mất Tết(!).

Những thông tin nêu trên không chỉ làm lộ rõ thêm “chân tướng” của những kẻ vốn có tư tưởng thù hằn với chế độ, mà chắc chắn cũng không bao giờ được nhân dân Việt Nam chấp thuận. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần “lấy dân làm gốc" của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”.

2. Từ lâu, trong tâm thức, tình cảm của đông đảo người dân Việt Nam, việc Đảng cũng là việc nước, việc dân. Vì thế, các dự thảo văn kiện Đại hội XIII đều được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng và lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Theo thông tin từ Ban Tổ chức Trung ương, tổng hợp góp ý của đại hội đảng các cấp và ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, các ý kiến đóng góp được tổng hợp lại thành hơn 1.400 trang. Đây là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của hơn 5 triệu đảng viên và hơn 90 triệu người dân Việt Nam. Điều này phủ nhận hoàn toàn ý kiến rêu rao rằng, Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ dành cho hơn 1.500 đại biểu thuộc “giới tinh hoa” tham dự đại hội.

Theo dõi các sự kiện trong đời sống chính trị thời gian gần đây, chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều việc làm thiết thực hướng về nhân dân, làm cho người dân thấy càng quý trọng, tin yêu Đảng hơn. Từ Hội nghị Trung ương 14, Trung ương 15 đến Đại hội XIII, Đảng ta đều rút ngắn thời gian so với kế hoạch dự kiến ban đầu. Việc rút ngắn thời gian không chỉ thể hiện tác phong làm việc khẩn trương, nghiêm túc, coi trọng hiệu quả nội dung công việc của Đảng, mà còn góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước và ưu tiên thời gian để Đảng, Nhà nước có điều kiện chăm lo tốt hơn việc dân, việc nước.

Điều đó thể hiện rất rõ trong những ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Ngay sau khi xuất hiện dịch Covid-19 tại TP Chí Linh (Hải Dương), sáng 28-1, Thủ tướng Chính phủ đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp với lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan để triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. Chính phủ đã kịp thời công bố công khai rộng rãi để người dân biết về sự tái bùng phát dịch Covid-19; đồng thời liên tục cập nhật tình hình dịch bệnh, triển khai các biện pháp thần tốc để truy vết, khoanh vùng, dập dịch triệt để ngay từ đầu, hạn chế tới mức thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh.

Nhân dân đánh giá rất cao về tinh thần của một số cán bộ lãnh đạo địa phương xảy ra dịch Covid-19, dù đang tham dự Đại hội XIII nhưng đã tức tốc trở về địa phương trong đêm tối để trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống, dập dịch tại địa phương mình. Tối 31-1, Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 đã trực tiếp đến thị sát tại hai “điểm nóng” về dịch Covid-19 là TP Chí Linh (Hải Dương) và thị xã Đông Triều (Quảng Ninh). Hình ảnh Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mặc bộ đồ bảo hộ y tế đến kiểm tra, động viên các lực lượng tại chốt kiểm soát phòng, chống dịch giữa thị xã Đông Triều và TP Chí Linh trên Quốc lộ 18 trong đêm tối giá rét, nhân dân cảm thấy thêm ấm lòng về tình Đảng, tình dân trong thời điểm gian khó. Đó cũng là hình ảnh biết nói về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân luôn gắn bó bền chặt. Đó cũng là lời khẳng định đanh thép để bác bỏ những lời lẽ bịa đặt của những phần tử thù địch, cơ hội chính trị khi cho rằng “Đảng xa dân, bỏ mặc dân trong thiên tai, dịch bệnh”.

Một trong những việc làm được nhân dân ghi nhận là trong dịp đại hội đảng các cấp, từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương, các nghi thức đã được giản tiện. Mấy năm gần đây, khi các lãnh đạo cấp cao đến thăm, làm việc tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, người dân cũng chỉ thấy sự trang trí, khánh tiết đơn giản. Những thay đổi đó tuy nhỏ, nhưng là minh chứng cụ thể về đổi mới tác phong, phong cách lãnh đạo của Đảng theo hướng ngày càng thiết thực, giản dị, thể hiện sự gần gũi với quần chúng nhân dân.

3. Không ngẫu nhiên mà một trong những nội dung được đề cập nhiều lần trong các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng là cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố hạnh phúc của nhân dân. Bởi trong đại dịch Covid-19, chúng ta càng hiểu thêm không phải cứ thu nhập cao, tốc độ tăng trưởng nhanh là sung sướng, mà ý nghĩa hơn là cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Năm 2020, Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trên thế giới vì vừa kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Liên tục trong hai năm gần đây, Việt Nam đã tăng 11 bậc trên bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc, từ 94/156 quốc gia (2019) lên 83/156 quốc gia (2020).

Một trong 5 bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình đổi mới đất nước và trong thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ Đại hội XII được Đảng ta đúc rút đó là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong buổi gặp mặt báo chí sau Đại hội XIII của Đảng tổ chức vào cuối buổi sáng 1-2, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thêm một lần nhấn mạnh, thành công của đại hội không phải ở thông qua nghị quyết, ban chấp hành mới, mà quan trọng hơn là đưa nghị quyết vào cuộc sống, phải tạo ra được của cải vật chất để nước ta ngày càng giàu mạnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc.

Lòng dân là quốc bảo, lòng dân là thước đo giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, không gắn bó với nhân dân và không thật sự chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Đó là sự nhất quán trong tư tưởng và hành động của Đảng ta, trong suy nghĩ và việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó cũng là cội nguồn sâu xa để ý Đảng-lòng dân luôn hòa quyện và trở thành sức mạnh vô địch đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân./.

Theo qdnd.vn

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...