Thứ Ba, 4 tháng 10, 2022

Khi cơn sốt đất qua đi

[CAND] Sốt đất làm biến động cả vùng nông thôn, biến cánh đồng, đồi núi thành những lô thửa được rào chắn, sinh kế người dân cũng theo đó mà thay đổi. Sốt giá đất đem lại giấc mơ thoát nghèo cho nhiều nông dân chỉ sau một đêm. Tuy nhiên, hệ lụy của nó để lại là ngổn ngang vấn đề, cùng những câu chuyện chua xót nghẹn ngào…

Vỡ mộng giấc mơ thoát nghèo

Những ngày cuối năm 2021, cơn sốt đất ở Đắk Lắk bắt đầu manh nha và bùng nổ trong vòng 4 tháng đầu năm 2022. Các vùng nông thôn, các buôn làng cho tới ruộng rẫy, “view” sông suối, “view” cánh đồng, hồ nước, núi đồi tất thảy đều được cho lên bảng giá với sức mua bán chóng mặt.

Một khu vực từng nhộn nhịp cảnh mua bán đất tại Đắk Lắk nay trở nên vắng vẻ.

Gia đình ông Hà Văn Sự, ở xã Ea Sa, huyện Ea Ka, Đắk Lắk sở hữu 1,2 ha đất từ những năm 1990. Ngần ấy năm, gia đình ông Sự sống bám trên mảnh đất canh tác cà phê, hồ tiêu, thâm canh xen vụ các loại hoa màu để duy trì cuộc sống. Tuy không dư giả nhưng tạm đủ sống qua mỗi mùa giáp hạt. Đùng một cái, vào tháng 12-2021, có người tới hỏi mua đất nhà ông Sự để làm trang trại. Vì không có ý định bán nên ông từ chối. Sang đầu năm 2022, lại có một nhóm người tới gạ mua đất với giá 1,2 tỷ đồng.

Cả đời ông Sự, chưa bao giờ biết đến số tiền lớn như thế và cũng không thể tưởng tượng được nó là bao nhiêu con số. Vợ chồng ông bắt đầu suy nghĩ. Những ngày sau, liên tục có người từ Đồng Nai, Bình Dương tới hỏi mua, họ trả giá cao để tranh giành và cuối cùng một người ở Đồng Nai chốt với giá 1,5 tỷ đồng, họ “đập” ngay 200 triệu đồng đặt cọc vào mặt ông bà nông dân. Không kìm lòng được, ông Sự quyết định bán, hẹn trong 30 ngày sẽ sang tên đổi chủ. Vào thời điểm đó, đất ở các vùng quê Đắk Lắk bắt đầu sốt cao, “cò vạc” lượn lờ khắp nơi, không chừa một ngóc ngách nào. Sau 30 ngày, ông Sự ra công chứng hồ sơ giao nhà đất và nhận tiền, chủ mới cho gia đình ông ở lại một tháng để tìm nơi ở khác.

Trong thời gian một tháng, ông Sự đi khắp khu vực huyện Ea Ka để tìm mua nhưng không có mảnh nào ưng ý. Giá đất thì cao, số tiền bán đất sau khi trả ngân hàng 300 triệu đồng chỉ còn 1,2 tỷ, nó thực sự không thể mua nổi một miếng đất có nhà như mảnh đất và căn nhà cũ của ông Sự. Sắp tới hẹn phải trả nhà, ông Sự vẫn loay hoay kiếm tìm chỗ ở. Cuối cùng, ông phải sang tận tỉnh Gia Lai để mua một miếng đất có diện tích 3 sào (bằng 1/3 diện tích mảnh đất đã bán) với giá 750 triệu đồng. Về nơi ở mới, gia đình ông bỏ tiền xây dựng nhà cửa, chuồng trại vừa hết số tiền còn lại.

Cuối cùng, tiền hết, đất ít chỉ đủ trồng cỏ nuôi bò, trong khi cần cái ăn hàng ngày thì không có đất để sản xuất, trồng trọt. Gia đình ông Sự lâm cảnh đói, phải đi làm thuê. Con trai ông xuống TP Hồ Chí Minh tìm việc, hiện đang làm công nhân cho xưởng gỗ ở Bình Dương, vợ ông đi buôn ve chai, ông ở nhà chăn nuôi bò. “Đây là lần đầu tiên gia đình tôi phải ly tán đi làm ăn, bao nhiêu năm ở Đắk Lắk chưa từng như thế vì đất đai rộng, trồng và thu hoạch hoa màu quanh năm. Mình nông dân cứ nghĩ tiền tỷ là to nhưng có rồi mới thấy nó quá nhỏ so với thiên hạ. Tiền tỷ trong cơn sốt đất tính ra không làm được gì cả, giờ nghĩ lại chỉ thấy nuối tiếc mà thôi”, ông Sự buồn bã chia sẻ.

Không có đất sản xuất, ông Sự ở nhà nuôi bò.

Cơn sốt đất quét qua, xóm ông Sự nhiều người bán đất và đều trong cảnh dở khóc dở cười. Cũng chỉ vì ước mơ thoát nghèo, thoát nợ ngân hàng mà người nông dân không nghĩ được viễn cảnh sâu xa cùng những hệ lụy phía sau hội chứng “đất tăng huyết áp”.

Gia đình bà Lê Thị Minh Hiền, ở thị trấn Ea Ka có hơn 1.000 m2 đất ở và 5 sào đất rẫy trồng cà phê. Mọi thu nhập của vợ chồng bà Hiền và đứa con đang học lớp 7 chỉ trông chờ vào nguồn thu cà phê, năm được mùa thì no, năm mất mùa thì thiếu hụt chút ít. Cuộc sống bình yên cho đến ngày sốt đất, dân quanh vùng nô nức cắt xẻ đất bán để xây nhà, mua ô tô và đi du lịch, có nhà bán đất được gần 10 tỷ đồng. Số tiền đó chỉ có trong giấc mơ mà thôi, nay thì thành hiện thực. Họ chia của cải cho con cháu, xuống TP Hồ Chí Minh mua chung cư cho con, gia đình phút chốc thành tỷ phú.

Nhưng đấy là những hộ có nhiều đất đai vườn tược, họ có tích lũy từ lâu, nay đất lên giá bán đi một phần. Nghe mà ham, bà Hiền cũng đánh tiếng muốn bán 5 sào cà phê. Bà vừa mở miệng thì giới “cò” đất xung quanh đã chốt luôn giá, đặt cọc luôn để lướt sóng. Nếu như vài năm trước, 5 sào cà phê đất rẫy chỉ có giá trên dưới 200 triệu đồng thì nay được trả tới 750 triệu đồng. Bà Hiền không đắn đo, bán luôn. Cầm số tiền trong tay, hai vợ chồng bàn với nhau xây một căn nhà thật hoành tráng cho bằng thiên hạ.

Ngôi nhà xây xong khang trang và bề thế ngốn hết số tiền 820 triệu đồng, vượt quá so với số tiền bán đất gần 100 triệu đồng. Bà Hiền phải đi vay nóng bên ngoài để hoàn thành cho xong căn nhà. Ngày vào nhà mới cũng là ngày vợ chồng bà Hiền trắng tay, không còn đất sản xuất, ôm thêm cục nợ. Nhìn ngôi nhà thênh thang còn thơm mùi vôi vữa, bà Hiền mới sực tỉnh cơn mê cuồng giàu sang. Không có việc làm, vợ chồng bà Hiền tìm mối đi làm thuê, bữa có bữa không. “Nhà cao cửa rộng nhưng hóa ra thành nghèo đói, đi xin đi vay cũng ngại vì người ta cho rằng mình lừa dối. Tôi phải trốn dân làng đi TP. Hồ Chí Minh làm osin, vài ngày sau chồng cũng xuống làm xe ôm, thằng con trai gửi ông bà nội. Nhà to lớn chưa kịp hưởng thụ đành phải đóng cửa bỏ không để đi ở trọ, làm thuê”, bà Hiền âu sầu kể.

Bi kịch vì đất

Bà Hiền phải đi làm giúp việc gia đình nhưng ít ra vẫn còn một ngôi nhà đàng hoàng để trở về, bi đát cùng cực phải kể đến hoàn cảnh của anh Nguyễn Văn M., 52 tuổi, ngụ huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Vì ham giàu, khao khát đổi đời nên anh M. từ một người nông dân trồng tiêu và cà phê bỗng một ngày thành đại gia buôn đất. Vào tháng 4-2022, khi sốt đất vẫn chưa “xì bóng”, anh M. quyết định thế chấp căn nhà và mảnh vườn của gia đình được 1 tỷ đồng đi lướt sóng. Với ưu thế là dân bản địa, anh M. dễ dàng tiếp cận được những mảnh vườn có giá rẻ lại không qua “cò”. Mảnh đầu tiên, anh M. lời ngay được 200 triệu đồng tiền sang cọc, mảnh thứ hai lời đứt 350 triệu. Quá ham với khoản lợi nhuận về đất, anh M. lao vào cuộc tìm kiếm đất và không cần suy nghĩ khi xuống cọc.

Sốt đất qua đi cũng có người xây nhà cao cửa rộng, tậu xe hơi.

Đến lúc ôm 5 mảnh đất, trị giá 1,5 tỷ đồng tiền cọc thì cơn sốt đất dần hạ nhiệt, khách từ TP Hồ Chí Minh và Hà Nội thưa dần, đầu ra của anh M. chậm lại. Một tháng sau, đến hẹn thanh toán tiền đất để sang tên thì anh M. ngộp thở vì không có tiền. Cả gia đình, vợ con anh M. đều xắn tay vào để đẩy đất đi, chỉ mong thu hồi vốn nhưng không chạy kịp khi quả bong bóng bất động sản đã nổ tung. Anh M. nuốt nước mắt mất trắng tiền cọc 1,5 tỷ đồng. Vợ con khóc lóc đi tới từng chủ đất năn nỉ xin lại một chút nhưng không phải ai cũng rủ lòng thương trả lại tiền cọc. Sốt đất qua đi, gia đình anh M. vốn thuộc hàng khá giả trong vùng nay trắng tay, ôm thêm khoản nợ 1 tỷ đồng tiền ngân hàng với lãi suất mỗi tháng 12 triệu, nếu không trả được sẽ thành nợ xấu và nguy cơ mất nhà cửa sẽ thành hiện thực.

Vợ chồng anh M. cùng con gái 19 tuổi khăn gói xuống TP Hồ Chí Minh làm công nhân, chỉ mong mỗi tháng đủ tiền đóng lãi suất ngân hàng để níu giữ căn nhà chờ khi nào đất sốt trở lại thì bán đi để trang trải nợ nần.

Trên khắp các vùng sốt đất ở Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, những ngôi nhà mới đua nhau mọc lên, xe ô tô đậu ngạo nghễ ngoài cổng. Nhìn bề ngoài ai cũng nghĩ chủ nhân là tỷ phú, đại gia miệt vườn nhưng thực chất lại chua xót đến nghẹn ngào. Không chỉ gia đình bà Hiền, anh M. phải bỏ xứ đi làm xa, mà nhiều gia đình khác cũng lâm cảnh thất nghiệp, nợ nần thậm chí bị lừa đảo vì cơn lốc sốt đất. Trước tình hình trên, chính quyền một số địa phương đã phải vào cuộc, lập ban chỉ đạo đi điều tra thu thập dữ liệu thông tin về công tác quản lý đất đai và quản lý trật tự xây dựng.

Ông Đặng Văn Hoan - Chủ tịch UBND xã Cư Suê, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk cho biết: “Thời gian gầy đây, thị trường đất đai trên địa bàn xã có nhiều biến động, giá đất tăng chóng mặt. Nhờ giá đất tăng cao, nhiều hộ gia đình trên địa bàn xã đã quyết định bán đi một phần đất, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số để có điều kiện trả nợ, có vốn đầu tư trang trải cuộc sống, hoặc đầu tư mua đất nơi khác để canh tác. Cũng từ đây, nhiều đối tượng đã lợi dụng sự sôi động của thị trường bất động sản để tiến hành những thủ đoạn lừa gạt, lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin, mù chữ cũng như sự thiếu hiểu biết pháp luật của đồng bào để lừa lấy toàn bộ đất thổ cư trong quá trình buôn bán, sang nhượng đất đai”. Và rồi, khi “cò” đất vắng bóng, người mua bỏ chạy chỉ còn lại người nông dân khóc ròng trên mảnh đất trắng xóa, vướng đầy rắc rối về thủ tục pháp lý.

Ngoài những hệ lụy về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân thì hệ sinh thái cũng đang phải trả giá từng ngày cho cơn sốt giá đất tàn nhẫn quét qua các vùng đồi núi, thôn quê. Không chỉ đất đai nông nghiệp mà nhiều cánh rừng ở cao nguyên đứng trước nguy cơ bị gặm mòn, xóa sổ bởi sự xâm lấn, khai thác một cách tùy tiện. Những vụ xử lý phá rừng nguyên sinh, đồi thông ở các tỉnh Tây Nguyên gần đây thường được phát hiện khi cây đã đổ, đồi đã trọc...

Tiến sĩ Lê Văn Tuấn.

Tiến sĩ, Nhà khoa học Lê Văn Tuấn –Trung tâm UNESCO Khoa học nhân văn và Cộng đồng nhận định: “Tâm lý chạy theo “huyết áp đất đai” chi phối đến mục đích đời sống của một thế hệ trẻ ở nông thôn. Con cái của nhiều gia đình đã rơi vào vòng xoáy đua đòi, thậm chí bỏ bê việc học hành bởi ỷ lại vào tiền bạc mà mảnh vườn, thửa đất gia đình cho kế thừa. Tôi đã nhận được nhiều cuộc gọi từ các bậc cha mẹ than khóc rằng, từ ngày bán mảnh vườn, mua được chiếc xe ô tô thì con cái của họ không còn ngoan hiền như xưa nữa. Chúng ngạo nghễ với thiên hạ và coi thường những mối quan hệ bạn bè xưa kia, có đứa lên thành phố dính vào tệ nạn xã hội. Chưa hết, nhiều cuộc tan vỡ gia đình liên quan đất đai xảy ra khi tiền bạc từ đất đai thổi bùng sự thực dụng, tham lam và bất chấp luân thường đạo lý…”.

Ngọc Thiện – Báo CAND

Bài 3: Lọc bỏ tận gốc “lợi ích nhóm” trong các văn bản quy phạm pháp luật

[QĐND] Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, Tiến sĩ (TS) Luật học Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) nhấn mạnh: Qua công tác kiểm tra, xử lý và rà soát văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), chúng tôi cho rằng rất cần nghiên cứu, nhận diện đầy đủ, khách quan các biểu hiện có thể làm phát sinh “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ trong xây dựng chính sách, pháp luật, từ đó có giải pháp phòng ngừa, loại bỏ những biểu hiện tiêu cực trong quá trình xây dựng pháp luật nhằm hướng đến một hệ thống pháp luật đồng bộ, ổn định, thống nhất, minh bạch và khả thi.

Mỗi năm có cả trăm văn bản chứa đựng nội dung trái pháp luật

Phóng viên (PV): Theo ông, vì sao trong Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị đưa ra yêu cầu “chống tiêu cực ngay trong công tác xây dựng pháp luật, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào; không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật”?

TS Hồ Quang Huy: Về bản chất, chống tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào; không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật chính là chủ trương đúng đắn của Đảng, là nội dung cụ thể của kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng pháp luật.

Kiểm soát quyền lực là một trong những nguyên tắc nền tảng của tổ chức quyền lực Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Kiểm soát quyền lực nhà nước trong công tác xây dựng văn bản nhằm bảo đảm công cụ quản lý nhà nước này được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, phục vụ lợi ích của nhân dân. Tôi cho rằng, việc xem xét, nhận diện cụ thể những biểu hiện tiêu cực, “lợi ích nhóm”, tác động không lành mạnh trong công tác xây dựng pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng để từ đó xác định các biện pháp phòng, chống phù hợp, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức, ngăn chặn các vi phạm pháp luật (về hành chính, hình sự...), giúp kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ thành quả xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Tiến sĩ Luật học Hồ Quang Huy.

PV: Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản QPPL, ông nhận định như thế nào về thực trạng xây dựng các văn bản QPPL thời gian qua?

TS Hồ Quang Huy: Theo cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, trong giai đoạn 2016-2021, Quốc hội đã ban hành 120 văn bản QPPL (gồm 80 luật, bộ luật và 40 nghị quyết), Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 35 văn bản QPPL (gồm 3 pháp lệnh và 32 nghị quyết); Chính phủ ban hành 875 nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 239 quyết định; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành 3.622 thông tư, thông tư liên tịch. Ở địa phương, chính quyền cấp tỉnh đã ban hành 24.542 văn bản QPPL; chính quyền cấp huyện đã ban hành 15.881 văn bản QPPL; chính quyền cấp xã đã ban hành 74.841 văn bản QPPL.

Nhìn tổng thể, nội dung những văn bản đã bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, tạo hành lang pháp lý toàn diện, đầy đủ để thúc đẩy phát triển mọi mặt đời sống KT-XH, phục vụ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận, hệ thống pháp luật hiện vẫn tồn tại những khiếm khuyết, hạn chế cần khắc phục vì qua kiểm tra, rà soát văn bản QPPL, chúng tôi phát hiện vẫn còn những văn bản do bộ, ngành ở Trung ương và địa phương ban hành trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển KT-XH.

PV: Thưa ông, trong 5 năm gần đây (2017-2021), Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp kết luận, kiến nghị xử lý bao nhiêu văn bản trái pháp luật?

TS Hồ Quang Huy: Trong 5 năm qua, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã tổ chức kiểm tra được 25.670 văn bản (trong đó có 2.882 văn bản cấp bộ và 22.788 văn bản do chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành). Kết quả thống kê cho thấy, qua kiểm tra đã phát hiện 554 văn bản (chiếm khoảng 2,15%) trong tổng số văn bản nêu trên có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền. Trong số đó, có 80 văn bản cấp bộ ban hành và 474 văn bản do chính quyền địa phương cấp tỉnh ban hành.

PV: Trong các văn bản có nội dung trái pháp luật, theo ông, có “nhóm lợi ích” lồng ghép, cài cắm vào các văn bản này không?

TS Hồ Quang Huy: Trên cơ sở nội hàm của khái niệm “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ, tiêu cực, tác động không lành mạnh của một số tổ chức, cá nhân, cũng như đối chiếu với kết quả chung về kiểm tra, rà soát văn bản QPPL, bước đầu chúng tôi nhận diện có một số biểu hiện cụ thể sau đây có thể bị lợi dụng để thông qua đó cố ý cài cắm “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ trong văn bản pháp luật.

Các biểu hiện đó là: 1) Ban hành văn bản hành chính nhưng có chứa QPPL, đồng thời, QPPL này trái pháp luật; 2) Ban hành văn bản không đúng thẩm quyền (đặt ra thủ tục hành chính; đặt ra điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc ngành nghề kinh doanh có điều kiện; hạn chế quyền con người, quyền công dân); 3) Ban hành văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, trái với văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn; 4) Ban hành văn bản quy định thời điểm có hiệu lực trái với quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL; 5) Văn bản QPPL được ban hành vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục ban hành văn bản; 6) Không kiểm tra, rà soát hoặc kiểm tra, rà soát không kịp thời, nghiêm túc văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra, rà soát; 7) Không xử lý hoặc chậm xử lý văn bản trái pháp luật do mình ban hành.

PV: Sự tồn tại của các văn bản có nội dung trái pháp luật được Cục Kiểm tra văn bản QPPL phát hiện thời gian qua đã nói lên điều gì, thưa ông?

TS Hồ Quang Huy: Thực tế cho thấy, ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật không chỉ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch và tác động tiêu cực đến hoạt động quản lý nhà nước mà còn gây tốn kém thời gian, công sức, nguồn kinh phí, ngân sách của Nhà nước và gây thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp, từ đó có thể làm gia tăng bức xúc trong dư luận xã hội.

Việc còn tồn tại những văn bản trái pháp luật cho thấy: Việc kiểm soát chất lượng văn bản trước và sau khi ban hành chưa đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý nhà nước; việc thực hiện quy định pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong ban hành văn bản chưa nghiêm; việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật, xử lý văn bản trái pháp luật chưa kịp thời; năng lực, trình độ của người làm công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản ở một số cơ quan, tổ chức, địa phương còn hạn chế.

Xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, cài cắm "lợi ích nhóm"

PV: Thưa ông, việc xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật như thế nào?

TS Hồ Quang Huy: Sau khi Cục Kiểm tra văn bản QPPL phát hiện và kiến nghị xử lý, về cơ bản, các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương đã ban hành văn bản trái pháp luật có tinh thần nghiêm túc, cầu thị trong tiếp nhận và xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản.

Tuy nhiên, việc xử lý văn bản trái pháp luật trong một số trường hợp còn chậm. Bên cạnh đó, việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật nhìn chung chỉ mới ở mức độ rút kinh nghiệm, phê bình, chưa bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL.

Chúng tôi cho rằng, việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật là một loại vi phạm của các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản trong quá trình thi hành nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Vấn đề quan trọng là phải xử lý nghiêm nội dung trái pháp luật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người ban hành, tham mưu ban hành văn bản trên cơ sở đánh giá nội dung, tính chất, mức độ trái pháp luật của văn bản, hậu quả nội dung trái pháp luật gây ra đối với xã hội và tính chất, mức độ lỗi của từng chủ thể.

Tuy nhiên, điều chúng tôi băn khoăn là thể chế hiện hành vẫn chưa có khung pháp lý đầy đủ, cụ thể điều chỉnh toàn diện các hành vi, quy trình, căn cứ đánh giá, xem xét, kết luận và xử lý trách nhiệm đối với người đã cố ý ban hành văn bản trái pháp luật để lồng ghép "lợi ích nhóm", tham nhũng, tiêu cực.

PV: Để khắc phục tình trạng bất cập nêu trên, đâu là vấn đề mấu chốt cần quan tâm?

TS Hồ Quang Huy: Cần sớm hoàn thiện các quy định cụ thể về xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật, không kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật và khắc phục hậu quả do áp dụng văn bản trái pháp luật gây ra.

Điều này đã được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh trong buổi làm việc với Bộ Tư pháp ngày 25-5-2021, đó là đi đôi với thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương về công tác xây dựng pháp luật, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo, đặc biệt là đối với ý kiến thẩm định của cơ quan tư pháp; phải kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật, xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật.

Xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật, không kịp thời xử lý văn bản trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như hiệu lực, hiệu quả của quy định về kiểm tra văn bản QPPL. Nhưng do quy định pháp luật về vấn đề này chưa chi tiết, chưa đầy đủ nên việc thực hiện các quy định xử lý trách nhiệm cá nhân, tổ chức trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.

Mặt khác, cần nghiên cứu, đề xuất cơ chế xử lý đặc thù đối với chủ thể đã ban hành văn bản có biểu hiện lồng ghép “lợi ích nhóm”, tiêu cực (nếu đủ căn cứ chứng minh). Vấn đề khắc phục hậu quả do áp dụng, thực hiện văn bản trái pháp luật là vấn đề quan trọng, được nhiều cơ quan, tổ chức, công dân quan tâm. Vì vậy, trong thời gian tới cần nghiên cứu, quy định cụ thể cơ chế khắc phục hậu quả do ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra.

PV: Trên phương diện quản lý nhà nước, theo ông, phải có giải pháp căn cơ nào để phòng ngừa, loại bỏ những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, “lợi ích nhóm” trong xây dựng, ban hành các văn bản QPPL?

TS Hồ Quang Huy: Tôi nghĩ, giải pháp căn cơ hiện nay là phải nhanh chóng hoàn thiện và sớm ban hành quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong công tác xây dựng chính sách, pháp luật. Như chúng ta đã biết, vấn đề khó khăn, nhạy cảm như chạy chức, chạy quyền đã được Bộ Chính trị nhận diện các biểu hiện cụ thể tại Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Sau khi Quy định số 205-QĐ/TW được ban hành, cá nhân có sai phạm đã bị xử lý kịp thời, nghiêm minh, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân.

Từ kinh nghiệm đó, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, tham mưu để Bộ Chính trị xem xét, ban hành văn bản nhằm “lượng hóa” các biểu hiện cụ thể của tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong văn bản QPPL; động cơ, mục đích khi ban hành văn bản QPPL có lồng ghép “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực; quy trình, cách thức xác định và xử lý cán bộ, đảng viên tham mưu, ban hành văn bản QPPL có nội dung trái pháp luật, lồng ghép “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực.

Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ nghiên cứu, thể chế hóa tiêu chí, nội dung biểu hiện lồng ghép “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong văn bản QPPL; căn cứ xác định lỗi của chủ thể ban hành văn bản có lồng ghép “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực làm cơ sở để thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản và người ban hành văn bản khi có hành vi vi phạm.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

“Quá trình xây dựng, ban hành luật phải thận trọng, chắc chắn, chuẩn bị sớm, làm tốt từng khâu, đặt yêu cầu cao về chất lượng, không chạy theo số lượng; lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và lợi ích quốc gia, dân tộc làm trọng tâm. Tuyệt đối không để xảy ra tình trạng tham nhũng chính sách; không được lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật hoặc chỉ thiên về tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước mà thiếu đồng hành với người dân, doanh nghiệp”.

(Phát biểu của đồng chí VÕ VĂN THƯỞNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị, tổ chức ngày 3-11-2021)

(còn nữa)

THIỆN VĂN (thực hiện)

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2022

Lính cứu hỏa trước lằn ranh sinh tử

[CAND] Hơn 20 năm thực hiện Ngày toàn dân PCCC, đã khẳng định sự huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia công tác PCCC, là ngày hội PCCC của toàn dân. Đã xuất hiện những tấm gương Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy (PCCC) và cứu nạn cứu hộ (CNCH) anh dũng hy sinh, cứu người, cứu tài sản; những mô hình hay, cách làm sáng tạo.

Xả thân chiến đấu với giặc lửa

Trong chiến tranh cũng như thời bình, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH luôn xác định chữa cháy, cứu người bị nạn là chức năng, nhiệm vụ, là "mệnh lệnh" từ trái tim. Nối tiếp truyền thống của các thế hệ đi trước, cán bộ, chiến sĩ (CBCS) Cảnh sát PCCC và CNCH mỗi lần có hỏa hoạn phải thật nhanh lao vào biển lửa để dập lửa, cứu người. Các anh ý thức được rằng sẽ đối mặt với nguy hiểm, với những yếu tố bất ngờ có thể xảy ra nhưng đã không nề hà, sẵn sàng xả thân chiến đấu với "giặc lửa" khi nghe thông tin trong đám cháy có người, có tài sản và kịp thời ngăn chặn nguy cơ đám cháy có thể lan rộng, bùng phát sang nhà dân, công trình…

Chiến sĩ Cảnh sát PCCC và CNCH tham gia chữa cháy nhà dân.

Thiếu tướng Nguyễn Tuấn Anh, Cục trưởng Cục Cảnh sát PCCC và CNCH nhấn mạnh, CBCS Cảnh sát PCCC và CNCH luôn "Sẵn sàng bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân. Suốt đời tận tụy phục vụ nhân dân, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân". Thực hiện lời hứa thiêng liêng ấy, 61 năm qua (ngày 4/10/1961), lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã trực tiếp chiến đấu với hàng trăm nghìn vụ cháy, và đã có không ít CBCS hy sinh, nhiều đồng chí đã phải mang thương tật suốt đời, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, tôn vinh.

Từ năm 1966 đến nay, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã có 32 liệt sỹ hy sinh. Trong đó, mới đây thôi, ngày 1/8, trong quá trình chữa cháy quán karaoke 231 phố Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Thượng tá Đỗ Anh Quân, Đội trưởng Đội Cảnh sát PCCC và CNCH Công an quận Cầu Giấy cùng 2 đồng đội là Thượng úy Đỗ Đức Việt, cán bộ và Hạ sĩ Nguyễn Đình Phúc, chiến sĩ nghĩa vụ, đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến với giặc lửa để cứu sống các nạn nhân.

Người thân, người dân và những người anh em, đồng chí vô cùng tiếc thương, cảm phục tấm gương ngời sáng, không quản nguy hiểm, hy sinh lao vào đám cháy với mong mỏi tìm kiếm và cứu bằng được người dân mắc kẹt bên trong.

Kể từ khi thông tin về việc 3 liệt sĩ hy sinh khi làm nhiệm vụ, báo chí, mạng xã hội đã tràn ngập hình ảnh về 3 liệt sĩ với nhiều bình luận thể hiện sự tiếc thương, cảm phục, tràn ngập những lời tri ân, kính cẩn nghiêng mình trước các anh. Không sự hy sinh nào, mất mát nào bị quên lãng và các anh sẽ mãi sống trong lòng đồng đội, nhân dân, đất nước.

Tô thắm hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân

9 tháng đầu năm 2022, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã trực tiếp tham gia 927 vụ CNCH; tổ chức cứu được 823 người; tìm kiếm được 609 thi thể, bàn giao cho cơ quan chức năng xử lý.

Những thế hệ chiến sĩ Cảnh sát PCCC và CNCH, họ xuất thân là người bình thường,  trẻ về tuổi đời nhưng luôn tràn đầy tinh thần xông pha cứu giúp Nhân dân. Điển hình, vào lúc 16h ngày 6/8, Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an tỉnh Quảng Nam nhận được tin báo có một nhóm 23 người gồm học sinh, giáo viên một trường THPT ở huyện Thăng Bình đang đi du lịch, dã ngoại tại khu vực suối Tiên, thuộc xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam) thì bị mắc kẹt trên núi do mưa lớn, nước suối dâng cao, không qua được bên kia bờ suối, đề nghị được CNCH.

Sau khi nhận được tin báo, đơn vị đã điều động một xe CNCH cùng 15 CBCS nhanh chóng đến hiện trường. Đồng thời, qua điện thoại, đơn vị hướng dẫn mọi người chọn vị trí an toàn trong lúc đội cứu hộ tiếp cận hiện trường. Khi đến nơi, đội cứu hộ xác định vị trí, hướng dẫn nhóm người đến vị trí thuận lợi. Sau đó, lực lượng cứu hộ bắc thang, giăng dây đưa 23 người qua suối an toàn, công tác cứu hộ hoàn thành lúc 17h30' cùng ngày.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã gửi Thư khen Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an tỉnh Quảng Nam đã cứu nạn thành công nhóm thầy và trò bị mắc kẹt bên bờ suối Tiên do nước lũ dâng cao. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc biểu dương sự quyết đoán, dũng cảm và kỹ năng cứu nạn của các chiến sĩ Cảnh sát PCCC và CNCH. "Chiến công của các đồng chí đã góp phần tô thắm hình ảnh của người CAND, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, không ngại khó khăn, nguy hiểm, quyết tâm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân"- Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ.

Trước đó, rạng sáng ngày 29/6, trên địa bàn huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang xảy ra trận mưa lớn. Trong thời gian ngắn, lượng mưa lên đến 187mm làm sạt lở đất đá nhiều tuyến đường. Trường THPT Lâm Bình, thị trấn Lăng Can, huyện Lâm Bình là một trong những nơi bị ngập sâu nhất trong nước lũ, có nơi ngập hơn 2m do ở vị trí thấp, nằm sát bờ suối. Đặc biệt, trong ký túc xá của trường có nhiều học sinh ở nội trú đang bị cô lập, nước lũ đang tiếp tục dâng cao, nguy cơ cao ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe nếu không được ứng cứu kịp thời.

Khoảng 3h sáng, nhận được tin của một em học sinh tại khu ký túc xá Trường THPT Lâm Bình, mặc dù đang trong thời gian nghỉ phép, đồng chí Binh nhì Quan Ngọc Hoàng đã không ngại trời mưa to, đêm tối, đường sạt lở hết sức nguy hiểm, bơi qua dòng nước chảy xiết, khẩn trương đến hiện trường để thực hiện công tác cứu nạn.

Với tinh thần dũng cảm, không quản ngại hi sinh, tư duy nhạy bén và bằng kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng được huấn luyện chuyên nghiệp của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH, đồng chí Quan Ngọc Hoàng cùng với các lực lượng tại chỗ đã giải cứu kịp thời 105 em học sinh đưa đến các vị trí an toàn. Đồng thời tiếp tục triển khai các phương án bảo đảm ANTT, hỗ trợ di dời tài sản, trang thiết bị đến nơi an toàn.

Thay mặt Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã gửi Thư khen; đặc biệt biểu dương, khen ngợi đồng chí Quan Ngọc Hoàng đã có hành động hết sức dũng cảm, không sợ hiểm nguy, gian khổ, kịp thời giải cứu các em học sinh THPT Lâm Bình, thể hiện tinh thần trách nhiệm với nhân dân, để lại hình ảnh đẹp về người chiến sỹ CAND trong lòng nhân dân.

Đại úy Thái Ngô Hiếu, Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an tỉnh Đồng Nai cũng đã cứu 4 người đuối nước tại Vũng Tàu. Vụ việc xảy ra khoảng 9h ngày 10/4, một nhóm thanh niên tắm biển gần bãi tắm ở xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị đuối nước tập thể.

Lúc này, Đại úy Thái Ngô Hiếu đi cùng gia đình nghỉ lễ tại bãi tắm gần đó, nghe tiếng kêu cứu liền chạy tới khu vực có người bị nạn rồi lao xuống biển tìm kiếm, trực tiếp đưa được 4 nạn nhân lên bờ. Khi phát hiện một số nạn nhân trong tình trạng bất tỉnh, tay chân tím tái, đồng chí Hiếu đã tiến hành sơ cứu ban đầu, hô hấp nhân tạo cứu sống được các nạn nhân trước khi đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Phút nghỉ ngơi của lính cứu hỏa sau khi chữa cháy.

Phát triển nở rộ, nhiều mô hình toàn dân PCCC

Trong PCCC và CNCH, ai cũng biết đến nguyên tắc 4 tại chỗ. Khi xảy ra cháy, việc phát hiện và xử lý tại chỗ trong 5 phút đầu tiên có tính chất quyết định. Nhưng đặc thù của các đô thị ở nước ta là tồn tại nhiều hẻm nhỏ và sâu, xe chữa cháy chuyên dụng rất khó tiếp cận.

Nắm bắt được điều này, chính quyền nhiều địa phương đã có những cách làm rất sáng tạo để đảm bảo an toàn cho dân trước "giặc lửa"; xuất hiện nhiều mô hình hay, công việc tốt được người dân phối hợp cùng lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH thành lập và duy trì hoạt động trong phòng trào Toàn dân PCCC. Đáng chú ý, mô hình "Tổ liên gia PCCC" của tỉnh Bắc Ninh- lấy dân làm trung tâm trong công tác phòng ngừa. Sau đó, mô hình này đã được triển khai, nhân rộng trên phạm vi cả nước.

Sau gần 1 tháng thực hiện trình chiếu thử nghiệm, mô hình "Tuyên truyền an toàn PCCC trên các màn hình công cộng" tại Trung tâm thương mại Aeon Mall Bình Tân, TP Hồ Chí Minh đã nhận được sự quan tâm rất lớn của người dân.

Theo Đại tá Huỳnh Quang Tâm, Trưởng phòng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an TP Hồ Chí Minh, Trung tâm thương mại Aeon Mall Bình Tân đã dành ra 30 màn hình để trình chiếu các video clip về an toàn PCCC. Những màn hình lắp đặt tại các khu vực thường xuyên có khách hàng qua lại như sảnh chờ, khu nghỉ chân, nơi ăn uống, khu vui chơi, thang máy, quầy tính tiền được Trung tâm thương mại Aeon Mall Bình Tân ưu tiên trình chiếu các video clip này.

Ngoài ra, còn có các mô hình Đội chữa cháy tình nguyện dưới chân núi Lang Biang (Lạc Dương, Lâm Đồng); Đội chữa cháy từ thiện của người nông dân xã Hòa Lạc, huyện Tân Phú, An Giang; mô hình "Nhà tôi có bình chữa cháy" của phường Vạn Thạnh, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; mô hình "Cụm doanh nghiệp an toàn PCCC" của TP Hải Phòng; tổ Liên gia về PCCC của Bắc Ninh; khu phố (ấp) điểm an toàn về PCCC; một ngày làm lính chữa cháy; tuyên truyền, vận động các hộ gia đình tự giác gỡ bỏ lòng sắt (chuồng cọp) tạo lối thoát nạn thứ hai, tự trang bị dụng cụ phương tiện chữa cháy, CNCH...

Nhiều nơi, nhân dân đã tự phá rỡ, giải tỏa lấn chiếm tạo khoảng cách an toàn PCCC và thoát nạn; dọn đường cho xe chữa cháy cơ động; đóng góp kinh phí mua sắm phương tiện, dụng cụ chữa cháy.

Hiện cả nước có 80.559 đội dân phòng, với 824.184 đội viên; 325.087 đội PCCC cơ sở, với 2.321.061 đội viên; có 460 đội PCCC chuyên ngành, với 8.540 đội viên. Cả nước có 4.242 đơn vị điển hình tiên tiến về PCCC; xây dựng 1.211 điểm mô hình Tổ liên gia an toàn PCCC; 561 điểm chữa cháy công cộng. Hằng năm, lực lượng dân phòng và PCCC cơ sở đã phối hợp với nhân dân phát hiện và dập tắt trên 50% tổng số vụ cháy xảy ra, ngăn chặn nguy cơ cháy lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng, góp phần kiềm chế sự gia tăng về số vụ cháy và thiệt hại do cháy, nổ gây ra.

Minh Hiền

Những kinh nghiệm đẩy lùi tà đạo “Bà Cô Dợ”

Lợi dụng đời sống của bà con người Mông ở các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp… Vừ Thị Dợ, đối tượng cầm đầu đẩy mạnh tuyên truyền về tà đạo “Bà Cô Dợ”, dưới hình thức biến tướng của tôn giáo. Mục đích của đối tượng là lợi dụng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của quần chúng để tuyên truyền, phát triển lực lượng; lợi dụng mạng Internet để tuyên truyền các nội dung chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi thành lập “Nhà nước riêng”…

Các luận điệu hoang đường của tà đạo “Bà Cô Dợ”

Tà đạo “Bà Cô Dợ” (Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta) do Vừ Thị Dợ, SN 1977, người Mông, gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm Hội trưởng từ cuối năm 2016.

Từ năm 2017, Vừ Thị Dợ đã sử dụng các đoạn video, clip tuyên truyền, lôi kéo trên mạng xã hội để lôi kéo người Mông tin theo cái gọi là tà đạo “Bà Cô Dợ” nhằm lập “Nhà nước riêng” của người Mông.

Đối tượng Vừ Thị Dợ.

Tà đạo “Bà Cô Dợ” không có giáo lý, giáo luật, đối tượng cắt, sửa có sự vay mượn, xuyên tạc giáo lý của Ki tô giáo nhưng không thừa nhận Chúa Giê-su và tuyên truyền, lừa mị Vừ Thị Dợ là người được “Đức Chúa Trời” chọn để sinh ra Chúa Giê-su lần thứ hai (tái lâm lần thứ hai) có tên là Cứ Nu Si Lông (Bố Nù Sì Lông), người này sẽ cai trị thế giới 1000 năm, là Vua của người Mông thống trị thế giới. Khi có chiến tranh, thiên tai, lũ lụt xảy ra, những người tin theo “Bà Cô Dợ” sẽ được Chúa Cứ Nu Si Lông đưa lên đất nước của Chúa sinh sống; không tổ chức lễ Lễ phục sinh, chỉ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của Chúa Cứ Nu Si Lông; không phải đóng 10% thu nhập, ai theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền…

Vào sáng chủ nhật hàng tuần, các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm, nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ, nội dung chủ yếu là tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc kinh thánh; đả kích các tôn giáo chính thống; chê bai, phỉ báng phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo tổ chức “Bà Cô Dợ” tham gia thành lập “Nhà nước Mông”.

Đáng chú ý, vào thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, trong lúc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá vùng dân tộc và miền núi, phòng, chống dịch bệnh COVID[1]19 thì Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu lại tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ Việt Nam như: “Chính quyền không quan tâm đến chế độ, chính sách đối với nhân dân nên đời sống đồng bào rất khó khăn”; “Không được đi tiêm phòng dịch bệnh vaccine COVID – 19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại cho sức khoẻ con người”, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn cách đối phó với công tác tuyên truyền, phòng, chống dịch của cơ quan y tế.

Để thực hiện âm mưu và hoạt động của mình, bên cạnh việc kích động các hoạt động chống đối chính quyền, đối tượng cầm đầu Vừ Thị Dợ đã gửi tiền cho số đối tượng trong nước để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia phát triển tổ chức.

Thời điểm cao nhất (năm 2017 - 2019), tà đạo “Bà Cô Dợ” có hàng ngàn người tin theo tại nhiều tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung chủ yếu là khu vực tuyến biên giới Việt - Lào, Việt - Trung nơi có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống.

Qua các nội dung của các luận điệu tuyên truyền và hoạt động của các đối tượng tại địa bàn, chúng ta có thể nhận thấy: Âm mưu xuyên suốt của tổ chức “Bà Cô Dợ” đó là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi người Mông trên toàn thế giới đoàn kết, đòi quyền tự quyết, lập “Nhà nước Mông”.

Đồng thời tuyên truyền, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người Mông trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền sai tự thật về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công tác phòng, chống COVID[1]19; chỉ đạo đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước đối phó với chính quyền và cán bộ đến tuyên truyền và hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước để mua, sắm phương tiện hoạt động. Các đối tượng cầm đầu tà đạo này còn xúc phạm các phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc và niềm tin của các tôn giáo chính thống.

Để thực hiện âm mưu trên, các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu đã vay mượn thậm chí xuyên tạc một cách trắng trợn kinh thánh và các giáo lý của Ki tô giáo như tự coi mình là Đức Chúa Trời, không thừa nhận Đức Chúa Giê-su… để lừa bịp một bộ phận quần chúng đồng bào người Mông nhận thức còn thấp, nhất là về các vấn đề liên quan đến tôn giáo để lôi kéo họ tham gia tổ chức.

Cùng với đó, các đối tượng cầm đầu cũng đã triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, thông qua mạng xã hội để tổ chức hội luận, đào tạo trực tuyến, tuyên truyền, móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng.

Công an tỉnh Sơn La thực hiện phong trào “3 bám, 4 cùng, 5 có” với nhân dân.

Với những luận điệu tuyên truyền có nội dung rất phản khoa học, bài xích các tôn giáo chính thống, đả kích phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, Vừ Thị Dợ và cái tổ chức gọi là “Bà Cô Dợ” bị rất nhiều người Mông không chỉ ở Việt Nam mà cả cộng đồng người Mông quốc tế đấu tranh, phản bác. Ngay cả những người được coi là “cùng hội, cùng thuyền” với Vừ Thị Dợ, suốt ngày kêu gọi thành lập “Nhà nước Mông”, vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo như Vàng Chỉnh Mình ở Mỹ thông qua tài khoản Youtube Kev Vaam Meej cũng phải thừa nhận: Vừ Thị Dợ là người không có đức tin về Chúa Giê-su và đã bị các tổ chức Tin lành ở Mỹ đuổi khỏi Hội Thánh; những ai tin theo Vừ Thị Dợ là những người không hiểu biết nên mới tin theo. Việc một số người Mông tin theo Dợ đã để lại những hậu quả tai hại về đời sống và đức tin.

Sự chuyển hoá ở một địa bàn khi người dân từ bỏ “Bà Cô Dợ”

“Nhờ được tuyên truyền, giải thích, vợ chồng tôi đã hiểu được cái sai… Bây giờ, tôi yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình, không nghe theo lời của những kẻ xấu”, gặp các cán bộ Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La, ông Giàng Khúa Dua (SN 1953), một người dân sinh sống tại huyện Sốp Cộp cho biết. Ông Giàng A Khua chỉ là một trong nhiều người ở bản Huổi Luông đã từ bỏ tham gia tà đạo “Bà Cô Dợ”. Trong bản còn có nhiều người khác như anh Vừ A Cho (SN 1982) và Giàng A So (SN 1987, cùng trú tại bản Huổi Luông, xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La)… hiện giờ cũng đã từ bỏ đạo lạ, quay trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần tuý.

Sơn La từng là một trong những địa bàn phức tạp về hoạt động của tổ chức “Bà Cô Dợ”... Qua vận động, tuyên truyền, đến nay có 21 trường hợp từng theo “Bà Cô Dợ” đã từ bỏ, trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Một trong những bí quyết thành công của Công an tỉnh Sơn La là việc vận dụng linh hoạt các biện pháp công tác; việc vận động, tuyên truyền để người dân hiểu được âm mưu, phương thức hoạt động của các đối tượng. Từ đó, nhiều người đã chủ động từ bỏ, không tham gia… Những chia sẻ của những người trong cuộc, phần nào đã cho thấy một cách làm đúng hướng, sẽ giúp người dân đã và đang lạc lối đi theo luận điệu tuyên truyền của các đối tượng cầm đầu tổ chức thực sự tỉnh táo, nhận diện đúng bản chất của tà đạo “Bà Cô Dợ”.

Từ những khó khăn, vất vả được tận mắt nhìn thấy trong những ngày 4 cùng ở địa bàn, cán bộ đơn vị thấu hiểu hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những vướng mắc trong cuộc sống của người dân để chia sẻ.

Từ đó, mỗi trinh sát Phòng An ninh nội địa lại tìm tòi, học hỏi những cách làm hay, sáng tạo trong nông nghiệp. Sau đó, bằng những hiểu biết, kinh nghiệm học hỏi của mình để hướng dẫn bà con thực hiện việc trồng lúa nương, ngô, sắn đạt năng suất cao, ít sâu bệnh và chăm bón đúng kỹ thuật, sử dụng đúng các quy định của nhà sản xuất về thuốc bảo vệ thực vật; kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm như tiêm, uống thuốc phòng, chống dịch bệnh trong thời gian chuyển mùa và cách làm chuồng trại hợp vệ sinh; tận dụng phân động vật để làm phân bón, cách thu hoạch và bảo quản nông sản chất lượng, hiệu quả…

“Lời nói đi đôi với hành động”, bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng đầy thiết thực như vậy, trinh sát Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La đã xây dựng hình ảnh đẹp, ấn tượng sâu sắc trong lòng dân trên địa bàn. Từ sự gắn bó, tình cảm của người già đến các em nhỏ, phụ nữ và thanh niên trên địa bàn nên công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, vận động người dân chấp hành các quy định của Đảng, Nhà nước của trinh sát, đơn vị đã đạt được hiệu quả và mang tính lan tỏa sâu rộng.

Cùng với việc tuyên truyền, chính quyền các địa phương đã tiếp tục ưu tiên đầu tư, phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa bàn; vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới; đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; đẩy mạnh việc phát động phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phù hợp thiết thực với từng địa bàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò của người dân tộc thiểu số, nhất là những người có uy tín trong công tác tuyên truyền.

Ở mỗi địa bàn lại có những cách làm hay, hiệu quả…

Cùng với việc vận động, truyên truyền đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Trong thời gian qua, Cục An ninh nội địa đã phối hợp với Công an các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình, quản lý, đấu tranh với các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Trong đó, kiên quyết xử lý, răn đe các đối tượng có hoạt động tuyên truyền sai sự thật về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, xử lý về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin.

Dù đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng công tác đấu tranh, xoá bỏ tà đạo này đã và đang đặt ra cho lực lượng chức năng những khó khăn bởi âm mưu của các đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” không thay đổi. Chúng tiếp tục lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người Mông tham gia lập “Nhà nước riêng”. Trong đó, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” từ nước ngoài tiếp tục tuyên truyền, móc nối, chỉ đạo gửi tiền tài trợ số cầm đầu, cốt cán tại các địa bàn để lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia tổ chức.

Cùng với đó là địa bàn hoạt động của tà đạo ở các xã vùng sâu, vùng cao, biên giới, giao thông đi lại khó khăn; đối tượng tin theo phần lớn là người Mông, có cuộc sống khó khăn; nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân về pháp luật, giáo lý và giáo luật còn hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tà đạo này.

Xuân Mai – Nguyễn Quỳnh

Bài 2: Kiểm soát quyền lực chặt chẽ để kiềm chế “lợi ích nhóm”

Để phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng chính sách trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật, việc kiểm soát quyền lực được coi là “bảo bối”, là gốc của vấn đề xây dựng hoàn thiện thể chế-một trong 3 khâu đột phá chiến lược trong mục tiêu phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XV.

Chưa bịt hết các kẽ hở trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật

Phóng viên (PV): Với tư cách là một trong những thành viên Ban soạn thảo của Quốc hội xây dựng dự thảo “Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật”, theo ông, “lợi ích nhóm” trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta có gì đáng quan tâm?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Đấu tranh phòng, chống các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực dưới hình thức “nhóm lợi ích” là vấn đề đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, được dư luận xã hội rất quan tâm thời gian gần đây.

“Nhóm lợi ích” có thể tác động lên quá trình hoạch định chính sách (ở Trung ương hoặc địa phương), đặc biệt là quá trình thực thi chính sách để mang lại “lợi ích nhóm” tiêu cực, không chính đáng, gây thất thoát, lãng phí lớn đối với tài sản nhà nước. Trong hoạch định chính sách, để thu vén lợi ích không chính đáng cho "nhóm”, các "nhóm lợi ích" có thể tác động tới việc ban hành các chính sách cụ thể, như chính sách về đầu tư, thuế, tài chính, ngân hàng; về thủ tục hành chính; về tổ chức bộ máy... Những chính sách này tuy mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ người nhưng lại gây thiệt hại to lớn cho lợi ích chung của quốc gia. Hoặc một nhóm người được hưởng lợi từ các thủ tục hành chính phức tạp, nhưng đa số nhân dân thì bị gây phiền hà, tốn kém.

Ông Nguyễn Mạnh Cường. 

Đối với cơ quan lập pháp, “nhóm lợi ích” có thể tác động tới quá trình hoạch định chính sách và giám sát việc thực thi chính sách. Trên thực tế, do quy trình xây dựng pháp luật được quy định rất chặt chẽ, đồng thời, thẩm quyền lập pháp chỉ tập trung vào ban hành những chính sách chung cho toàn đất nước (ban hành luật, nghị quyết và không có thẩm quyền thực thi pháp luật) nên việc tác động của “nhóm lợi ích” vào hoạt động lập pháp ít phổ biến hơn.

Tuy nhiên, khả năng tác động vào hoạt động lập pháp hoàn toàn có thể xảy ra thông qua việc vận động không chính đáng vào việc soạn thảo, tiếp thu, chỉnh lý và biểu quyết thông qua chính sách trong các dự án luật, nghị quyết, việc vận động phát biểu, chất vấn, vận động bỏ phiếu, bầu cử... Do đó, việc đề cao cảnh giác, thực hiện đầy đủ các biện pháp nhằm kiểm soát, ngăn chặn biểu hiện lợi ích nhóm trong xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật là rất cần thiết trong tình hình hiện nay.

PV: Ông nhìn nhận như thế nào về việc thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống “lợi ích nhóm” trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta thời gian qua?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Thực hiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội đã thông qua số lượng lớn các luật với chất lượng ngày càng được nâng cao. Quy trình xây dựng pháp luật được thực hiện nghiêm túc; các dự thảo luật, pháp lệnh được tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản với nhiều hình thức phù hợp. Chất lượng của các báo cáo thẩm định, thẩm tra ngày càng được nâng cao, bảo đảm tính độc lập, khách quan, có tính phản biện cao, nêu được chính kiến của cơ quan thẩm định, thẩm tra đối với dự thảo văn bản. Việc thảo luận của đại biểu Quốc hội và việc tiếp thu, chỉnh lý các dự thảo luật được tiến hành nghiêm túc. Quy trình xin ý kiến Bộ Chính trị đối với các nội dung lớn, quan trọng của dự án luật được tuân thủ chặt chẽ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng pháp luật. Có thể nói, việc thực hiện nghiêm túc các quy định nêu trên về cơ bản đã bảo đảm sự kiểm soát đối với hoạt động lập pháp, bảo đảm văn bản luật được ban hành công khai, minh bạch, có chất lượng, phản ánh đúng chủ trương, đường lối của Đảng, ý chí của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, vẫn còn một số hạn chế, dẫn đến hiệu quả kiểm soát quyền lực để phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng từ hoạch định chính sách chưa cao. Việc công khai, minh bạch, dân chủ trong quy trình xây dựng pháp luật tuy được coi trọng hơn nhưng trong quá trình soạn thảo luật, việc lấy ý kiến đối với dự thảo và kể cả đối với đề nghị xây dựng luật, nhìn chung có nơi, có lúc còn mang tính hình thức; chất lượng ý kiến đóng góp chưa cao, nhất là đối với những vấn đề mới, phức tạp, còn nhiều tranh luận.

Bên cạnh đó, cơ quan trình dự án chưa dành thời gian thỏa đáng để xem xét, thông qua dự thảo luật trước khi trình Quốc hội (có trường hợp chỉ xin ý kiến thành viên bằng văn bản nên việc tranh luận, thảo luận bị hạn chế). Một số tài liệu còn hình thức, nhất là báo cáo đánh giá tác động của chính sách, báo cáo rà soát thủ tục hành chính, dự thảo văn bản quy định chi tiết... Những vấn đề nêu trên làm cho việc kiểm soát chính sách bị buông lỏng, không chặt chẽ.

PV: Công tác thẩm định, thẩm tra là hoạt động “gác cổng” pháp lý ngày càng chặt chẽ hơn, nhưng vì sao vẫn có những văn bản luật ra đời chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả. Liệu có sự lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ trong công đoạn này không, thưa ông?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Trên phương diện của Ủy ban Tư pháp, chúng tôi cho rằng, chất lượng các báo cáo thẩm định, thẩm tra chưa đồng đều, nội dung của một số báo cáo dự án luật còn sơ sài, xuôi chiều, tính phản biện chưa cao; chưa dựa trên lập luận mang tính khoa học nên còn thiếu tính thuyết phục. Có trường hợp, báo cáo thẩm tra mới chỉ chú ý xem xét tới những vấn đề lớn mà cơ quan trình dự án nêu trong tờ trình. Tuy nhiên, không loại trừ trường hợp có những vấn đề thực sự lớn, những nội dung có biểu hiện "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ lại không được nêu trong tờ trình. Nếu báo cáo thẩm tra không chỉ ra được vấn đề đó thì sẽ chưa làm tròn nhiệm vụ tham mưu cho Quốc hội tập trung thảo luận những vấn đề quan trọng của dự án và loại bỏ “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ trong dự án.

Ngoài ra, một số dự án luật có chất lượng chưa tốt được trình ra Quốc hội và sau khi Quốc hội cho ý kiến thì cần phải sửa lại rất nhiều. Tuy nhiên, đến lúc này thì dự án đã “nằm ở sân Quốc hội”, cơ quan soạn thảo gần như chỉ có trách nhiệm tham gia; việc chỉnh lý, soạn thảo lại dự án không phải tuân theo các quy trình của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đánh giá tác động, lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động...), dẫn đến sự kiểm soát đối với nội dung được soạn thảo, chỉnh lý sẽ thiếu chặt chẽ, từ đó hiệu lực của luật bị hạn chế.

Mặt khác, trong thành phần đại biểu Quốc hội, vẫn có quá nhiều đại biểu kiêm nhiệm là lãnh đạo bộ máy cơ quan hành pháp, tư pháp. Có một số trường hợp cán bộ thuộc các bộ, ngành được biệt phái sang làm lãnh đạo, thường trực các ủy ban của Quốc hội. Điều này đã ảnh hưởng tới tính độc lập của các ủy ban, có thể dẫn đến tình trạng nể nang, bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ ngành khi bày tỏ quan điểm, phát biểu chính kiến của đại biểu. Đây là những hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến kiểm soát quyền lực trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước ta.

PV: Còn tồn tại những khe hở trong xây dựng chính sách, pháp luật có lồng ghép “nhóm lợi ích”, phải chăng trong quy trình lập pháp chúng ta chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Tôi cho rằng, sự tham gia hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật trong những năm gần đây đã trở thành một trong những nhiệm vụ chủ yếu của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên. MTTQ Việt Nam thực hiện quyền giám sát trong việc xây dựng chính sách, pháp luật được thực hiện thông qua trực tiếp tham gia góp ý trong quá trình soạn thảo; thông qua tham gia các ban soạn thảo, tổ biên tập; thông qua hoạt động phản biện xã hội, góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, qua đó phát hiện những điểm chưa phù hợp để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, điều chỉnh.

Tuy nhiên, có lúc, có nơi, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia xây dựng và giám sát hoạt động lập pháp còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Phải công khai, dân chủ, minh bạch trong các quy trình xây dựng pháp luật

PV: Trước thực trạng nêu trên, theo ông, việc kiểm soát quyền lực để phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật có trở nên hệ trọng, cấp thiết không?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Kiểm soát quyền lực để phòng, chống “lợi ích nhóm”, “tham nhũng chính sách” trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, trọng tâm nằm ở khâu xây dựng, hoàn thiện thể chế-là một trong 3 khâu đột phá chiến lược trong mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Đại hội XIII xác định.

Đây là việc làm rất hệ trọng, rất cấp thiết nhằm khơi thông những điểm nghẽn, tháo gỡ những khó khăn, ách tắc trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Làm tốt công việc này còn góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn ngừa sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Có thể nói rằng, công cuộc đấu tranh phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng chính sách là thiết thực góp phần bảo vệ uy tín, năng lực lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự uy nghiêm của pháp luật Nhà nước và bảo vệ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

PV: Để việc xây dựng chính sách, pháp luật được khách quan, có chất lượng, không bị cài cắm bởi "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ, theo ông, thời gian tới, chúng ta cần chú trọng những vấn đề gì?

Ông Nguyễn Mạnh Cường: Để nhận diện lợi ích nhóm trong xây dựng chính sách, pháp luật thì đối với mỗi chính sách, chúng ta cần làm rõ: Chính sách đó làm lợi cho ai? Có tiêu cực trong xây dựng, thông qua chính sách không? Cụ thể, cần trả lời các câu hỏi: Chính sách có được xây dựng minh bạch, công khai, theo đúng quy trình không, có biểu hiện mờ ám, tiêu cực không? Chính sách đó có vì lợi ích chung của nhân dân, của quốc gia, dân tộc không hay lợi ích của một nhóm người? Nếu chỉ làm lợi cho một số người thì lợi ích đó có chính đáng không? Nhiều nội dung nêu trên sẽ được làm sáng tỏ thông qua báo cáo đánh giá tác động của chính sách.

Khi xây dựng chính sách, pháp luật phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng, lợi ích chung của nhân dân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, điều quan trọng hàng đầu là phải bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch trong các bước thực hiện quy trình, qua đó tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước, mọi người dân đều có thể giám sát được hoạt động này.          

Cùng với đó, phải quy định rõ ràng về thẩm quyền ban hành văn bản, vấn đề ủy quyền lập pháp, qua đó loại trừ việc lạm quyền, tùy tiện trong ban hành văn bản. Đồng thời, quy định trách nhiệm tham gia của các cơ quan trong quá trình soạn thảo; quy định chặt chẽ về việc lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của dự án. Việc huy động sự tham gia và lấy ý kiến rộng rãi về dự án luật như vậy sẽ bảo đảm cho các chính sách được xây dựng trong dự án luật khách quan, toàn diện, có chất lượng, không có lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ. Người góp ý, phản biện chính sách phải thực tâm; còn người có trách nhiệm và cơ quan thẩm định chính sách cũng phải tiếp thu thực chất. Chỉ có như vậy mới thật sự phát huy được tinh hoa trí tuệ của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.

Ngoài ra, cần chú trọng thực hiện hiệu quả việc đánh giá tác động chính sách; đánh giá thủ tục hành chính nhằm bảo đảm cho các chính sách minh bạch, rõ ràng, phù hợp thực tiễn, có tính khả thi, thủ tục hành chính thuận tiện, đơn giản... nhằm loại trừ "lợi ích nhóm", tham nhũng, tiêu cực trong thực thi chính sách.

Đặc biệt, cần quy định nội dung thẩm định, thẩm tra nhằm bảo đảm kiểm soát được chính sách trong dự án luật. Quy định chặt chẽ thủ tục thẩm tra để bảo đảm tất cả ý kiến thành viên ủy ban thẩm tra phải được thể hiện trong báo cáo thẩm tra; quy định sự tham gia thẩm tra của các ủy ban đối với những vấn đề có liên quan. Những quy định này nhằm bảo đảm cho dự án luật được xem xét, kiểm tra, đánh giá đa chiều, qua đó loại bỏ việc cài cắm "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

(còn nữa)

“Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, tăng tính chủ động của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong công tác lập pháp, giám sát việc thi hành luật. Phát huy tính năng động, tích cực, vai trò, ý thức trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là Chính phủ trong quy trình lập pháp. Bảo đảm phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong quá trình tổng kết, xây dựng chính sách, soạn thảo, lấy ý kiến, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua luật. Tăng cường thu hút chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn sâu, công tâm, khách quan, vì lợi ích quốc gia, dân tộc tham gia xây dựng pháp luật”.

(Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 14-10-2021

“Về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV”)

THIỆN VĂN (thực hiện) 

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

[QĐND] Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn 

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1).

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. 

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam.

Đại tá, PGS, TS LƯU NGỌC KHẢI (Nguyên Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị)

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, HN, 2021, tr.25-tr.26.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, HN, 2021, tr.35-tr.36.

Thiếu tá CSGT đưa người phụ nữ bị nạn đi cấp cứu

Người phụ nữ nằm bất tỉnh ven đường sau tai nạn, máu chảy nhiều đã may mắn được một cán bộ [CAND] CSGT Hà Nội trên đường đi làm phát hiện, đưa đi cấp cứu kịp thời.

Chiều tối 2/10, mạng xã hội lan truyền đoạn video ghi lại hình ảnh một nam thanh niên với hành động đẹp, giúp đỡ người phụ nữ bị tai nạn nằm ven đường lên xe ô tô cá nhân, chở đến bệnh viện cấp cứu. Tuy nhiên trước khi đi, anh cũng nhờ người đi đường quay lại đoạn video để làm bằng chứng tránh việc người nhà lại nghĩ nhầm anh là người gây tai nạn.

Thiếu tá Nguyễn Ninh Dương (bên trái ảnh) dừng xe ô tô đưa người phụ nữ bị nạn đi cấp cứu.

Qua tìm hiểu, sự việc diễn ra vào sáng cùng ngày tại vị trí gần ngã tư Nguyễn Xiển - Nguyễn Trãi (quận Thanh Xuân, Hà Nội), nạn nhân là phụ nữ nằm trên vỉa hè, máu chảy nhiều do tai nạn nhưng chưa có xe cấp cứu đến. Nạn nhân tên Ph. (SN 1972, trú tại Khu đô thị Đại Thanh, Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội).

Người phụ nữ bị tai nạn.

Lúc này, một nam thanh niên điều khiển xe ô tô đi qua phát hiện liền dừng lại giúp đỡ đưa nạn nhân đi cấp cứu. Nam thanh niên với hành động đẹp là thiếu tá Nguyễn Ninh Dương - Đội CSGT số 6 (Phòng CSGT Hà Nội) đang trên đường tới cơ quan làm việc.

Nhờ hành động kịp thời của Thiếu tá Nguyễn Ninh Dương, sức khỏe của người phụ nữ đã ổn định và người nhà đã vào tiếp nhận và chăm sóc chị tại bệnh viện.

B. Châu

Trần tình của một nạn nhân bị lừa "việc nhẹ lương cao"

Thời gian qua, một số người lao động ở tỉnh Bắc Kạn đã bị lừa xin việc làm với lời hứa "việc nhẹ lương cao" tại Campuchia nhưng thực chất những lao động này bị đưa vào những đường dây cờ bạc do người nước ngoài tại Campuchia tổ chức, điều hành. Họ bị bóc lột sức lao động, bị đánh đập và phải trả một khoản tiền lớn nếu muốn trở về Việt Nam. Tuy đã được cảnh báo nhưng vẫn có rất nhiều người lao động nhẹ dạ bị dụ dỗ và rơi vào bẫy của các đối tượng tội phạm tại nước ngoài…

Anh H.V.T, SN 1994, trú ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn vừa được giải cứu từ đường dây lừa đảo người Việt xuất cảnh sang Campuchia lao động. Sự hoang mang, sợ hãi vẫn còn hiện trên nét mặt của người thanh niên này.

Anh H.V.T cho biết, giữa tháng 7/2022, khi đang làm lao động tự do tại quận Cầu Giấy, TP Hà Nội, do có nhu cầu tìm kiếm việc làm nên anh đã lên mạng tìm hiểu trên nhóm facebook "Tìm việc làm tại TP Hồ Chí Minh", sau đó tài khoản có tên "Hạ Mei" nhắn tin (qua Messenger) giới thiệu cho anh T công việc làm tại casino, lương khởi điểm 18 triệu đồng, địa điểm làm việc gần cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh. Ngày 19/7/2022, anh T được hướng dẫn ra bến xe Nước Ngầm và bắt xe đi TP Hồ Chí Minh, đến đó, anh được đón bằng xe taxi cùng với một người đàn ông khác và đưa về một nhà nghỉ ở gần cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh.

Tại đây, có 8 người khác đang tập kết. Sau đó có người đến đón bằng xe ôtô, đưa cả đoàn đến biên giới Campuchia để vượt biên. Lúc đó anh T và những người cùng đi mới biết mình đã bị lừa sang Campuchia để làm việc. Công việc chính của anh tại Campuchia là hàng ngày sử dụng máy tính, tạo tài khoản Zalo, Facebook và mời người vào chơi trò chơi đánh bạc Tài - Sỉu trên mạng.

Nạn nhân H.V.T trình báo tại cơ quan Công an.

Tuy nhiên, nhận thấy công việc này là sai trái với quy định của pháp luật Việt Nam, nhưng nếu không làm việc, không đủ năng suất do chủ thuê đưa ra sẽ bị đánh đập, muốn về nước thì phải nộp tiền chuộc nên anh T đã nhắn tin cho người thân để thông báo tình hình. Quá trình làm việc, anh T được chủ hứa hẹn trả lương nhưng khi anh bị ốm, phải đi bệnh viện điều trị thì chủ thuê đã trừ toàn bộ tiền lương để trả viện phí.

Công việc làm không như những gì họ nói mà phải làm những việc trái lương tâm nên anh T đã tìm cách liên hệ với người nhà trình báo với Công an tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ các thông tin được cung cấp, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn đã liên hệ với công dân Việt Nam ở Campuchia để được trợ giúp. Sau đó, với sự trợ giúp từ các cơ quan chức năng, cuối tháng 9/2022, anh T đã được về nước. Anh T là một trong 7 nạn nhân tại Bắc Kạn được trở về Việt Nam sau những ngày bị lừa bán sang Campuchia làm việc không công, bị hành hạ, bị bóc lột sức lao động. Tuy nhiên không phải ai cũng may mắn như anh T, được trở về an toàn mà không mất tiền chuộc người.

Bằng thủ đoạn lập ra các trang tuyển dụng lao động trên mạng xã hội như: Việc làm Cambodia, Việc làm Campuchia, Hội người Việt ở Campuchia và một số trang tìm việc làm khác, khi phát hiện công dân Việt Nam có nhu cầu tìm kiếm việc làm thì các đối tượng chủ động kết bạn và dụ dỗ, dẫn dắt người dân xuất cảnh bằng cả đường chính ngạch và tiểu ngạch, sau đó bán cho các chủ kinh doanh tại Campuchia.

Tại đây, người dân bị ép lao động nặng nhọc, bị áp đặt doanh thu, nếu không đủ doanh số, người lao động sẽ phải đóng tiền phạt, bị đánh đập và bán đi nơi khác, thậm chí nhiều trường hợp đã phải bỏ mạng nơi xứ người. Và nếu các nạn nhân muốn trở về Việt Nam sẽ phải trả tiền "chuộc người" từ vài chục đến vài trăm triệu đồng.

Thời gian qua, Công an tỉnh Bắc Kạn đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cảnh báo phương thức, thủ đoạn hoạt động của loại tội phạm này và khuyến cáo những người có mong muốn đi lao động nước ngoài, bà con ở vùng sâu vùng xa phải hết sức cảnh giác trước những lời hứa hẹn về công việc trên mạng xã hội từ các đối tượng không quen biết, với thu nhập cao tại nước ngoài nói chung và tại Campuchia nói riêng, bởi trên thực tế, không có việc lao động nhẹ mà lại được hưởng lương cao.

Ngọc Ánh – Báo  CAND

Ẩn họa từ dịch vụ "thẩm mỹ chui”

Dù không được phép thực hiện các kỹ thuật xâm lấn (gây tê, tiêm, mổ xẻ), song nhiều cơ sở thẩm mỹ viện trên địa bàn thành phố Thanh Hóa (tỉnh Thanh Hóa) vẫn giới thiệu, quảng cáo rầm rộ trên các trang mạng xã hội và tư vấn cho khách hàng có nhu cầu... Đây là những hoạt động trái quy định của pháp luật, tiểm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn cho khách hàng sử dụng dịch vụ.

Nắm bắt nhu cầu làm đẹp bản thân của người dân trên địa bàn và đặc biệt là giới phụ nữ có điều kiện kinh tế khá giả, thời gian gần đây nhiều cơ sở thẩm mỹ ở thành phố Thanh Hóa thi nhau "mọc lên như nấm sau mưa". Sẽ không có gì đáng nói, nếu các cơ sở này tuân thủ nghiêm theo đăng ký kinh doanh, hoạt động dịch vụ theo giấy phép được cấp, vừa đảm bảo quy định của pháp luật và an toàn cho khách hàng.

Không ít cơ sở thẩm mỹ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa đã lựa chọn những tên gọi hết sức sang trọng, mỹ miều, các cơ sở này không dừng lại ở Spa làm đẹp mà còn ngang nhiên tư vấn, quảng cáo cả những dịch vụ thẩm mỹ mà họ không được cấp phép hành nghề.

Dạo một vòng qua các tuyến đường trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, như: Nguyễn Cẩn, Nguyễn Trịnh Cơ, Tô Hiến Thành, Trường Thi... chúng tôi bắt gặp hàng loạt cơ sở "Thẩm mỹ viện" với nhiều tên gọi bắt mắt như: Thẩm mỹ viện Quốc tế Tây Á; Thẩm mỹ viện Korea; Thẩm mỹ viện DHY Hà Nội; Thẩm mỹ viện 108 Hà Nội; Thẩm mỹ viện Quốc tế Bắc Mỹ; Thẩm mỹ viện Diệp Chi...

Một cơ sở thẩm mỹ viện tại Thanh Hóa vừa bị xử phạt 45 triệu đồng và đình chỉ 12 tháng.

Theo tìm hiểu của phóng viên và tiếp cận một số "Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh" của các cơ sở thẩm mỹ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa cho thấy, ngành nghề kinh doanh được phép chủ yếu là: Dịch vụ chăm sóc sắc đẹp thông thường, xoa bóp massage da mặt, chăm sóc da, trị liệu, làm đẹp, phum xăm... hoàn toàn không có dịch vụ xâm lấn.

Thế nhưng, trong vai khách hàng cần làm dịch vụ cắt mí mắt, chúng tôi tiếp cận cơ sở Thẩm mỹ Y... (ở đường Nguyễn Cẩn, TP Thanh Hóa). Tại đây, chúng tôi được nhân viên của cơ sở này tư vấn các gói dịch vụ về cắt mí, mỗi gói có các mức giá khác nhau. Ngoài ra, chúng tôi được nhân viên giới thiệu rất nhiều các dịch vụ khác như, tiêm botox, tiêm filler, giảm mỡ bụng bằng Maxthinlipo, nâng mũi...

Ngoài ra, cơ sở thẩm mỹ này còn lập hẳn tài khoản và quảng cáo rầm rộ trên nền tảng mạng xã hội một cách công khai.

Cũng với nhu cầu tương tự, chúng tôi đến Thẩm mỹ viện K (đường Nguyễn Cẩn, TP Thanh Hóa), tại đây chúng tôi được nhân viên tư vấn nhiều dịch vụ xâm lấn, thủ thuật cắt mí có giá từ 3 triệu đến 5 triệu (mở góc mắt với giá 3 triệu đồng). Đối với dịch vụ nâng mũi, nhân viên cơ sở này cho hay tùy thuộc vào sử dụng các loại sụn khác nhau để định giá hay như dịch vụ giảm mỡ bụng bằng Maxthinlipo thì giá gói và thời gian phụ thuộc lượng mỡ trên cơ thể.

Tương tự, tại Thẩm mỹ viện N (đường Tô Hiến Thành), khi vào đây, chúng tôi được nhân viên tư vấn với dịch vụ như: Nâng mũi, cắt mí, nâng ngực, nâng mông...

Tại đây, dịch vụ cắt mí với giá từ 5,6 triệu đến 8 triệu đồng; nâng mũi tùy thuộc vào các loại sụn có giá từ 15 triệu đến 25 triệu đồng... Theo giới thiệu, các dịch vụ này thực hiện ngay tại cơ sở. Riêng dịch vụ nâng ngực, nâng mông được giới thiệu là chuyển ra cơ sở ở Hà Nội, khách hàng sẽ có xe đưa đón...

Ngày hôm sau, khi chúng tôi công khai giới thiệu là phóng viên đến tìm hiểu hoạt động dịch vụ của các cơ sở này thì được các nhân viên ở đây cho biết cơ sở của họ chỉ "chăm sóc da", ngoài ra không có dịch vụ nào khác.

Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Khắc Phượng - Phó Chánh văn phòng HĐND-UBND thành phố Thanh Hóa cho biết: Trên địa bàn thành phố Thanh Hóa hiện có hơn 100 cơ sở đăng ký hoạt động dịch vụ thẩm mỹ viện. Tuy nhiên, việc các chủ cơ sở đặt tên cơ sở kèm theo cụm từ "Thẩm mỹ viện" có phần chưa phù hợp, theo ông Phượng, đúng ra gọi là cơ sở "Thẩm mỹ" mà thôi. Mới đây, UBND thành phố đã lập đoàn liên ngành kiểm tra 50 cơ sở thẩm mỹ, qua đó phát hiện nhiều chủ cơ sở thẩm mỹ hoạt động chưa nắm rõ các quy định của pháp luật. Ông Phượng cho biết, theo quy định, nhân viên cơ sở phải có chứng chỉ đào tạo hành nghề; Chủ cơ sở phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Chứng nhận an toàn y tế, phòng chống lây nhiễm các bệnh qua đường máu và dịch sinh học tại cơ sở thẩm mỹ...; Chủ cơ sở phải gửi thông tin đăng ký lên Sở Y tế trước 10 ngày mới đi vào hoạt động. Nếu không đảm bảo các điều kiện trên sẽ bị xử phạt số tiền 45 triệu đồng và đình chỉ hoạt động 12 tháng.

Được biết, các dịch vụ nâng mũi, tiêm filler, cắt mí, cấy chỉ… đều là những thủ thuật có xâm lấn, cơ sở thực hiện dịch vụ phải được cấp phép hành nghề và phải được các bác sĩ chuyên ngành phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ đã được cấp chứng chỉ hành nghề thực hiện.

Ông Bùi Khắc Phượng khẳng định, hiện nay các cơ sở thẫm mỹ viện trên địa bàn thành phố Thanh Hóa chỉ được phép thực hiện các dịch vụ như: Chăm sóc da, xoa bóp, sử dụng mỹ phẩm, phun xăm... Chưa có cơ sở thẩm mỹ nào ở thành phố Thanh Hóa được phép thực hiện các kỹ thuật xâm lấn (gây tê, mổ xẻ). Khi có thông tin phản ánh các cơ sở tư vấn, giới thiệu các dịch vụ xâm lấn cho khác hàng, thành phố cũng đã lập các đoàn kiểm tra và tổ chức "bắt quả tang" nhưngchưa phát hiện được trường hợp nào, vì họ rất cảnh giác và có nhiều cách để đối phó, ông Phượng nói.

Mới đây, qua kiểm tra, UBND thành phố Thanh Hóa đã ban hành Quyết định xử phạt đối với 8 cơ sở thẩm mỹ với số tiền 280 triệu đồng. Ông Bùi Khắc Phượng - Phó Chánh văn phòng HĐND-UBND thành phố Thanh Hóa thừa nhận, sau khi xử phạt, đình chỉ nhưng vẫn có tình trạng các cơ sở lén lút tái hoạt động...

Trần Thắng - Báo CAND

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...