Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ

Một trong những nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ đặt ra cho 6 tháng cuối năm là bảo đảm ổn định và phát triển lành mạnh, hiệu quả, an ninh, an toàn thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm.

Ảnh minh họa

Ngày 4/7, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương và Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2022 về tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, 6 tháng năm 2022 và triển khai các Nghị quyết của kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV.

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng nêu rõ, trong 6 tháng qua tuy khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi và thời cơ nhưng một số linh vực đã đạt một số kết quả rất tích cực, theo báo Chính phủ.

Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát; GDP đạt mức ấn tượng, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng tăng khá 9,6% so cùng kỳ; vốn FDI thực hiện 6 tháng đạt trên 10 tỷ USD (cao nhất trong 5 năm qua), tăng 8,9% so với cùng kỳ.

Tình hình phát triển doanh nghiệp khởi sắc, số doanh nghiệp thành lập mới và trở lại hoạt động trong 6 tháng là gần 117.000 doanh nghiệp (lần đầu tiên vượt mốc 100.000 doanh nghiệp), tăng 25,4% so cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng là 2.730 nghìn tỷ đồng, tăng 30,3%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương ước tính là 7,4 triệu đồng/tháng, tăng 417.000 đồng so với cùng kỳ năm trước...

Tuy nhiên, tình hình thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động và rủi ro, tác động tới Việt Nam như giá cả xăng dầu, lạm phát, đứt gãy chuỗi cung ứng, rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ. Giải ngân đầu tư công còn nhiều vướng mắc, bất cập. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn. Thu hút đăng ký vốn FDI nếu không cải thiện tốt hơn sẽ ảnh hưởng tới trung và dài hạn...

Nói về nhiệm vụ trong 6 tháng cuối năm, Thủ tướng nêu rõ: “Thông điệp chính là ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của các cấp, các ngành, các địa phương trong giai đoạn hiện nay”.

Theo đó, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để tổng hợp, xây dựng Đề án bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động cập nhật các kịch bản tăng trưởng. Các ý kiến tại Hội nghị cũng thống nhất với phương án, kịch bản tăng trưởng GDP phấn đấu đạt 7% trong năm nay.

Thủ tướng yêu cầu thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, an toàn và thận trọng, bảo đảm ổn định tỷ giá, lãi suất, thị trường ngoại hối, tiền tệ, tín dụng và tập trung tín dụng cho sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận tín dụng.

Đáng chú ý, hướng dẫn các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay; đẩy mạnh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.

Ưu tiên sử dụng chính sách tài khóa, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, bảo đảm hiệu quả, như phí, thuế, lệ phí, tăng đầu tư công… Tích cực báo cáo, đề xuất cấp có thầm quyền điều chỉnh thuế đối với xăng dầu. Nghiên cứu, tiến hành thận trọng chính sách hỗ trợ về xăng dầu với một số đối tượng.

Thủ tướng cũng yêu cầu bảo đảm ổn định và phát triển lành mạnh, hiệu quả, an ninh, an toàn thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường tiền tệ; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm.

Bộ Tài chính khẩn trương trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định số 153/2020 về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.

Kỷ luật, kỷ cương đầu tư công cần được siết chặt, kịp thời điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt.

Thủ tướng cũng yêu cầu quản lý chặt chẽ giá cả, phòng chống đầu cơ, tích trữ găm hàng; bảo đảm nguồn cung xăng dầu, năng lượng...

Theo: Doanh nghiệp & Kinh doanh

Bộ Tài chính đề xuất giảm 4 loại thuế đối với xăng dầu

Bộ Tài chính đã hoàn thiện Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giảm thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng dầu. Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đề xuất phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng; giảm thuế giá trị gia tăng đối với xăng dầu; giảm thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng từ 20% xuống mức phù hợp.

Bộ Tài chính cho biết, trước bối cảnh giá dầu thế giới và giá xăng dầu thành phẩm thế giới liên tục tăng dẫn đến giá xăng dầu trong nước tăng cao thời gian qua, để góp phần ổn định giá xăng dầu, kiềm chế lạm phát và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong năm 2022, Bộ Tài chính đã và đang trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh chính sách thuế đối với xăng dầu trong năm 2022.

Hoàn thiện Nghị quyết giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu

Để tiếp tục góp phần ổn định giá xăng dầu, kiểm soát lạm phát, thực hiện Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 08/6/2022 của Chính phủ, Bộ Tài chính đã nghiên cứu, xây dựng dự án Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn theo trình tự, thủ tục rút gọn được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Dự án Nghị quyết đã được gửi xin ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân. Ngày 29/6/2022, Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm định về dự án Nghị quyết.

Bộ Tài chính đã hoàn thiện hồ sơ dự án Nghị quyết và trình Chính phủ ngay trong ngày 30/6/2022 để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tại Phiên họp tháng 7/2022.

Theo đó, Bộ Tài chính dự kiến trình Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức thuế Bảo vệ môi trường đối với nhóm xăng, dầu, mỡ nhờn xuống mức sàn trong khung thuế đến hết ngày 31/12/2022 như sau:

Xăng: Giảm từ 2.000 đồng/lít xuống mức sàn 1.000 đồng/lít.

Nhiên liệu bay: Giảm từ 1.500 đồng/lít xuống mức sàn 1.000 đồng/lít.

Dầu diesel: Giảm từ 1.000 đồng/lít xuống mức sàn 500 đồng/lít.

Dầu mazut, dầu nhờn: Giảm từ 1.000 đồng/lít xuống mức sàn 300 đồng/lít.

Mỡ nhờn: Giảm từ 1.000 đồng/kg xuống mức sàn 300 đồng/kg.

Dầu hỏa: Giữ mức 300 đồng/lít vì đây là mức sàn trong khung mức thuế.

Từ ngày 01/01/2023, mức thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ngân sách nhà nước giảm thu khoảng 1400 tỷ đồng/tháng

Theo tính toán trên cơ sở dự kiến sản lượng tiêu thụ như năm 2019, nếu thực hiện giảm mức thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn về mức sàn trong khung thuế như đề xuất nêu trên thì ước giảm thu ngân sách nhà nước bình quân một tháng (đã bao gồm cả phần giảm thuế Giá trị gia tăng) khoảng 1.400 tỷ đồng/tháng.

Trường hợp Nghị quyết được ban hành trong tháng 7/2022 và có hiệu lực từ ngày 01/8/2022 thì ước giảm thu ngân sách nhà nước (đã bao gồm cả phần giảm thuế Giá trị gia tăng) khoảng 7.000 tỷ đồng.

Theo đó, tổng giảm thu ngân sách nhà nước do việc giảm thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn trong năm 2022 (tính cả phần giảm thu ngân sách nhà nước theo Nghị quyết số 18/2022/UBTVQH15 và Nghị quyết số 13/2021/UBTVQH15) khoảng 32.538 tỷ đồng.

Với việc giảm mức thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn như đề xuất và giả định các yếu tố khác cấu thành giá cơ sở xăng dầu không thay đổi so với kỳ điều hành ngày 21/6/2022 thì tỷ trọng thuế trong giá cơ sở xăng dầu còn khoảng 20,47% đối với xăng E5RON92, khoảng 21,41% đối với xăng RON95 và khoảng 11% đối với dầu diesel.

Giảm thuế MFN từ 20% về mức phù hợp

Để đa dạng hóa nguồn cung xăng (tránh bị động bởi phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Hàn Quốc và ASEAN), đồng thời đảm bảo mức chênh lệch phù hợp với mức thuế suất theo các FTA mà Việt Nam đã ký kết, Bộ Tài chính đã nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị định về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (dự thảo Nghị định đang được gửi xin ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp).

Bộ Tài chính hiện đang khẩn trương tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương về dự án Nghị định về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi để trình Chính phủ (trong tháng 8/2022).

Theo đó, trên cơ sở ý kiến tham gia, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh mức thuế suất MFN đối với xăng từ 20% xuống mức phù hợp.

Đối với mặt hàng dầu hiện đang áp dụng mức thuế suất MFN là 7% đã đảm bảo phù hợp với cam kết quốc tế.

Đề xuất phương án giảm thuế Tiêu thụ đặc biệt đối với xăng và thuế giá trị gia tăng đối với xăng dầu

Cùng với giải pháp điều chỉnh giảm mức thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn xuống mức sàn trong khung thuế và giải pháp điều chỉnh giảm mức thuế suất MFN từ 20% xuống mức phù hợp như đã báo cáo nêu trên, Bộ Tài chính đã có báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề xuất phương án giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng và giảm thuế Giá trị gia tăng đối với xăng dầu nhằm góp phần giảm giá mặt hàng xăng dầu, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phục hồi và phát triển kinh tế.

* Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại Nghị định số 95/2021/NĐ-CP ngày 01/11/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu, giá cơ sở xăng dầu được tính trên 04 yếu tố chủ yếu gồm:

(i) Giá xăng dầu thành phẩm thế giới;

(ii) Các khoản chi phí và lợi nhuận định mức;

(iii) Mức trích lập, chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu (BOG);

(iv) Các khoản thuế.

Hiện hành, các sắc thuế áp dụng đối với mặt hàng xăng dầu và cơ cấu trong giá cơ sở xăng dầu gồm: Thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng. Luật phí và lệ phí không có quy định về thu phí, lệ phí đối với xăng dầu. Tỷ trọng thuế trong giá cơ sở xăng dầu tính tại kỳ điều hành ngày 21/6/2022 khoảng 23,12% đối với xăng E5RON92; khoảng 24,04% đối với xăng RON95 và khoảng 12,61% đối với dầu diesel. 

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

Giả thông báo chuyển tiền vào tài khoản cá nhân để lừa đảo

Chiều 2/7, Công an TP Hồ Chí Minh cho biết, gần đây xuất hiện tình trạng đối tượng giả danh là cán bộ ngân hàng hoặc người mua hàng online gọi điện cho nạn nhân thông báo có người chuyển tiền vào tài khoản. Tuy nhiên, do lỗi nên chưa chuyển được hoặc thông báo phần mềm chuyển tiền Internet banking của khách hàng bị lỗi.

Tiếp đó, các đối tượng yêu cầu nạn nhân cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng, mã OTP để kiểm tra hoặc dụ dỗ nhấn vào đường link website có địa chỉ tên miền gần giống với tên ngân hàng do chúng gửi qua tin nhắn để thực hiện các bước nhận tiền. Các đối tượng sử dụng thông tin nạn nhân cung cấp để truy cập vào tài khoản và rút tiền của họ.

Để phòng ngừa tội phạm trên, Công an khuyến cáo: Khi thụ hưởng số tiền mà người khác chuyển, chỉ cần cung cấp đúng tên chủ tài khoản, số tài khoản thì người chuyển sẽ chuyển thành công số tiền đã thỏa thuận. Chỉ nên đăng nhập tài khoản của cá nhân vào các ứng dụng ngân hàng mà mình đã sử dụng lâu nay, không nhập vào trang web; thường xuyên kiểm tra, cập nhật tính năng bảo mật tài khoản ngân hàng, mạng xã hội; không cho mượn, thuê giấy tờ cá nhân.

Khi bị lừa đảo, nạn nhân hãy nhanh chóng liên hệ và đề nghị ngân hàng nơi mình mở tài khoản để phong tỏa tài khoản và tích cực phối hợp cung cấp thông tin tố giác tội phạm cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Đồng thời, ghi nhớ các trang web chính thức của các tổ chức tài chính, ngân hàng được đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam thường được đăng ký tên miền (.vn) hoặc (.com.vn). Đối với các trang web đăng ký tên giống nhưng đuôi khác đều là giả mạo...

N.M – Báo CAND online

Phát huy tinh thần tác phẩm "Tự chỉ trích" trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

(TG) - Đồng chí Nguyễn Văn Cừ (1912-1941) là lớp đảng viên thuộc thế hệ đầu tiên và trở thành Tổng Bí thư của Đảng vào tháng 3/1938, khi chưa đầy 26 tuổi. Với 29 tuổi đời, hơn 13 năm hoạt động cách mạng, hai lần bị tù với 7 năm giam cầm trong nhà tù đế quốc, hơn 2 năm làm Tổng Bí thư, cuộc đời của đồng chí tuy ngắn ngủi nhưng “cống hiến của đồng chí thì sáng rực như một ánh sao băng trên bầu trời cách mạng Việt Nam ở một thời đoạn lịch sử mang tính bước ngoặt lớn, phức tạp”(1). Đồng chí đã để lại tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng và nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện qua tác phẩm “Tự chỉ trích”.



TÁC PHẨM LÝ LUẬN MẪU MỰC VỀ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí thư của Đảng trong thời kỳ cách mạng thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, nhất là sau bầu cử Hội đồng quản hạt ở Nam Kỳ (4/1939), nội bộ Đảng và phong trào cách mạng xuất hiện những khuynh hướng khác nhau, có thể gây chia rẽ, phân liệt Đảng. Với bút danh Trí Cường, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết cuốn sách “Tự chỉ trích”, do nhà sách Dân chúng ấn hành tại Sài Gòn năm 1939. Thông qua tác phẩm này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo triển khai cuộc đấu tranh vạch trần bộ mặt giả danh cách mạng của bọn tờrốtkít, tiến hành tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ, xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đồng thời, cũng là sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho Hội nghị Trung ương lần thứ 6, tháng 11/1939 quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, bước vào giai đoạn đấu tranh giành chính quyền.

Mục đích của tự chỉ trích là “để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiên thủ”(2). Đảng mới thành lập còn ít kinh nghiệm, lại hoạt động trong điều kiện bất hợp pháp, bị kẻ thù đàn áp, nên khó tránh khỏi khiếm khuyết, sai lầm, nhưng "Mỗi cuộc thất bại là một dịp cho ta kinh nghiệm, coi những khẩu hiệu ta đề ra có được quảng đại quần chúng hiểu, công nhận và thực hành không"(3). Việc tự chỉ trích “thành thật và mạnh dạn” nhằm “thống nhất tư tưởng, một sự thống nhất thật sự, mạnh mẽ, dựa trên sự giác ngộ và trung thành của mọi người”(4). Phê bình không phải là làm yếu Đảng, mà làm cho Đảng mạnh lên, đáp ứng sự phát triển của phong trào cách mạng trong tình hình mới. Muốn vậy, trước hết những người cộng sản phải hiểu thế nào là “tự chỉ trích Bôsêvích”, phải xuất phát từ động cơ xây dựng Đảng, đồng thời, phải có trình độ lý luận và năng lực thực tiễn dày dặn để “biết phân tích tình hình theo mácxít, phải biết những điều kiện đặc biệt của Đông Dương”(5), không để kẻ thù lợi dụng hạ thấp uy tín và phá hoại Đảng.

Nội dung đấu tranh phê bình và tự phê bình phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong phong trào dân chủ, sai lầm trong phương thức vận động quần chúng. Đồng chí chỉ ra những căn bệnh như bệnh tự ái cá nhân, mơ hồ về lập trường giai cấp, “một bộ phận đồng chí đã chệch hướng sang hữu, đã do dự và hành động ngược lại chính sách của Đảng”; có đồng chí biểu hiện xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng”(6). Những sai lầm đó “chỉ làm trầm trọng thêm những nguy cơ đang đe dọa chúng ta từ mọi phía”(7), ảnh hưởng tới khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, gây tổn thất nghiêm trọng cho sự nghiệp cách mạng.

Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của đồng chí Nguyễn Văn Cừ là phải nhìn thẳng vào sự thật, nhận rõ khuyết điểm. Người cộng sản chân chính “dẫu cho có sai lầm, có thất bại thì phải có can đảm “mở to mắt ra nhìn sự thật”, “phải chịu hoàn toàn trách nhiệm..."(8). Sự thống nhất đạt được sau thảo luận, sau tự phê bình và phê bình, sau khi được làm rõ đúng sai, phải trái sẽ trở thành sự thống nhất tự giác, là cơ sở cho sự đồng thuận, đoàn kết của tập thể, sự thống nhất ý chí của Đảng. Nếu không dám đấu tranh, chỉ cốt “Giữ cái vỏ thống nhất mà bên trong thì hổ lốn một cục” thì đó “không phải một Đảng tiền phong cách mạng mà là một Đảng hoạt đầu cải lương”. Đảng sẽ mất tính chiến đấu và không còn vai trò tiền phong với quần chúng cách mạng.

“Tự chỉ trích” là văn kiện lý luận chính trị quan trọng của Đảng, đã thể hiện rõ nét năng lực tư duy lý luận, sự am hiểu tình hình thực tiễn, tâm huyết và trách nhiệm lớn lao của người giữ cương vị cao nhất của Đảng bấy giờ. Ra đời cách đây hơn 80 năm, nhưng tinh thần “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự; là một giải pháp quan trọng, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII để tiếp tục xây dựng, phát triển Đảng trở thành một Đảng cách mạng, chân chính, vững mạnh, xứng đáng với sự hy sinh, cống hiến của lớp lớp các thế hệ đảng viên, sự tin tưởng, kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, với cách mạng.

Phê bình và tự phê bình phải giữ vững nguyên tắc của Đảng mácxít. Trước thành bại của cách mạng, người đảng viên cộng sản “không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc trí tự mãn”. Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích, nhưng phải có nguyên tắc, không được “đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng - dù là đúng - đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái chia rẽ trong đội ngũ Đảng..."(9). Đó là những hành động mang tính chất hữu khuynh, cơ hội. Nguyên tắc của Đảng cũng không cho phép tranh luận, phô bầy công khai các vấn đề nội bộ. Đó là sự thể hiện của xu hướng “tả” khuynh. Mọi đảng viên đều có quyền tranh luận, phê bình đồng chí, phê bình Đảng, nêu các vấn đề nội bộ, trong khuôn khổ của tổ chức. Và khi đã thảo luận rõ ràng rồi, đã xây dựng thành nghị quyết thì “chỉ có một ý chí duy nhất là ý chí của Đảng, ngàn người sẽ như một để thực hành ý chí ấy”(10). Việc tự phê bình và phê bình cần vượt qua những điều “cãi vã những chuyện nhỏ nhen”, tuyệt đối tránh tình trạng “đả kích hoặc cường điệu những sai lầm khuyết điểm của đồng chí mình”, phải bảo đảm tính giáo dục, giúp nhau tiến bộ; kịp thời sửa chữa, không để khuyết điểm, sai lầm nhỏ thành lớn.

Muốn khắc phục sai lầm, khuyết điểm, phải phân tích đúng nguyên nhân của các sai lầm và có biện pháp giải quyết phù hợp.

Trong lời kết của “Tự chỉ trích”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã để lại một kinh nghiệm hết sức quý báu cho Đảng: “Chúng ta đã phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh” cô độc nó muốn làm cho Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng và xu hướng thoả hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm trọng nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, lăm le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh”(11). Hai khuynh hướng ấy luôn là nguy cơ thường trực, làm suy yếu Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng.

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH THEO TINH THẦN “TỰ CHỈ TRÍCH” GÓP PHẦN THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt gao và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”(12). Tiếp nối tinh thần đó, trong công cuộc đổi mới, Đảng rất coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với nội dung quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Trong ba kỳ đại hội gần đây, Đảng đều chọn Hội nghị Trung ương 4 là hội nghị đầu mỗi khóa để bàn về công tác xây dựng Đảng. Kết luận số 21-KL/TW về "Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”" của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Điều này khẳng định Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện là then chốt để xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.

Khu lưu niệm Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ

Với tinh thần của tác phẩm “Tự chỉ trích”, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII đã tự phê bình sâu sắc khi nhìn thẳng vào khuyết điểm: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Khắc phục những khuyết điểm đó cần đến hệ thống giải pháp, trong đó giải pháp đầu tiên được nêu ra là “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình”. Để thực hiện tốt giải pháp đó, trên cơ sở học tập tinh thần và phương pháp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã nêu trong “Tự chỉ trích”, cần tập trung thực hiện các nội dung sau:

Một là, phải luôn nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vai trò của công tác tự phê bình và phê bình đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, tuy đất nước đã có sự phát triển vượt bậc, vai trò cầm quyền của Đảng được củng cố vững chắc, nhưng chúng ta vẫn đang đối diện với không ít nguy cơ, thách thức, trong đó có những nguy cơ phức tạp hơn, khó lường và nghiêm trọng hơn so với thời kỳ trước, nhất là nguy cơ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Do vậy, tiếp nối tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, đến khóa XIII, Đảng ban hành Nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó đặt yêu cầu về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở mức độ cao hơn, gắn chặt việc phòng ngừa với chủ động tiến công để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, tác phong của cán bộ đảng viên, qua đó tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị, thực sự là đạo đức, là văn minh, ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân, ngày càng được nhân dân tin tưởng; đủ uy tín và năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, phải có tinh thần và phương pháp tự phê bình và phê bình đúng đắn. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII khẳng định: Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hoà vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Nếu thiếu ý thức vì dân, vì Đảng; thiếu tinh thần “tự soi, tự sửa”, việc phê và tự phê hoặc sẽ hình thức, qua loa đại khái hoặc bị lợi dụng để đả kích, gây chia rẽ, làm suy yếu tổ chức, làm suy yếu năng lực và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tác phẩm “Tự chỉ trích” là mẫu mực về tinh thần tự phê bình và phê bình của Đảng ta, thể hiện tinh thần kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, cả tả khuynh và hữu khuynh, làm sáng tỏ đường lối, quan điểm của Đảng, góp phần đập tan mọi sự mơ hồ, lẫn lộn trong tư duy và hành động của cán bộ, đảng viên, đi tới sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. “Tự chỉ trích” không chỉ đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cách mạng trong nước lúc đó, mà tinh thần, nội dung và những vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm này vẫn soi rọi và chỉ dẫn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Ba là, chống cả hai khuynh hướng hữu khuynh và tả khuynh trong công tác tự phê bình và phê bình. Trong thời kỳ Đảng chưa giành chính quyền, những khác biệt về quan điểm trong hàng ngũ của Đảng chủ yếu là từ trình độ nhận thức của đảng viên. Trong điều kiện Đảng cầm quyền và phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng, những khác biệt nảy sinh không chỉ do trình độ nhận thức, mà phần lớn là do tác động lợi ích cũng như ảnh hưởng của nhiều mối quan hệ của đời sống xã hội, nhiều luồng văn hóa tư tưởng. Vì vậy, tự phê bình và phê bình hiện nay càng không được né tránh, phủ nhận, không “tự đóng cửa để che giấu khuyết điểm” mà phải thật sự cầu thị, mở rộng dân chủ, thảo luận công khai trong Đảng cũng như huy động tối đa sự tham gia đóng góp ý kiến của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội; gắn với nắm bắt diễn biến tâm lý, tư tưởng, kiểm soát các quan hệ lợi ích, kiểm soát quyền lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà Đảng ủy thác và nhân dân ủy quyền. Bên cạnh đó, Đảng luôn giữ vững nguyên tắc mácxít, không để các vấn đề nội bộ Đảng bị thế lực thù địch và cơ hội chính trị lợi dụng chống phá Đảng. Đấu tranh để đi đến thống nhất, đoàn kết trong Đảng, triệt tiêu mọi mầm mống của chủ nghĩa cơ hội hoặc chủ nghĩa biệt phái; cũng như không để cuộc đấu tranh nội bộ Đảng bị bên ngoài lợi dụng kích động để hạ thấp uy tín, gây chia rẽ trong nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân.

Bốn là, gắn tự phê bình và phê bình với kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Vấn đề xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên vừa đảm bảo tính nghiêm minh theo quy định của quy định pháp luật, Điều lệ Đảng, vừa mang tính nhân văn, nhằm đẩy lùi phần xấu, khơi dậy phần tốt mỗi con người. Khi đã xác định được khuyết điểm, phải có kế hoạch và biện pháp sửa chữa kịp thời, bởi mục đích của tự phê bình và phê bình không phải là làm “Đảng yếu đi”, mà để “sửa chữa khuyết điểm, thống nhất tư tưởng và hành động”, làm “Đảng mạnh hơn, phát triển hơn”, thực hiện nhiệm vụ chính trị tốt hơn, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Năm là, việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tự phê bình và phê bình nói riêng, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung có liên hệ mật thiết với công tác cán bộ. Đối với công tác cán bộ - khâu trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, Đảng nêu ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, vừa kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền, vừa không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”. Bên cạnh việc tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận, giáo dục, rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu. Chú trọng nâng cao năng lực, trình độ thực tiễn và tổ chức thực tiễn cho cán bộ, đảng viên, tạo cơ sở vững chắc cho việc nắm bắt, kiểm nghiệm chân lý qua phê bình và tự phê bình.

TS. Lê Thị Hằng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

--

(1) Nguyễn Đức Bình: Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 47.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.6, tr. 620

(3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) Nguyễn Văn Cừ: Một số tác phẩm, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2010, tr. 221, 216, 215, 242, 243, 220, 219, 216, 242.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.11, tr. 608.

Nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin

(TG) - Tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin là một thuộc tính căn bản, đồng thời là tiêu chí đánh giá chất lượng của hoạt động này. Nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin là phương thức quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ảnh minh họa

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng, bao gồm triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là một hệ thống lý luận và phương pháp luận khoa học, được kết tinh từ những thành tựu trí tuệ, tinh hoa văn hóa của nhân loại; không chỉ nhận thức thế giới, mà còn cải tạo thế giới phù hợp với những quy luật khách quan. Quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin luôn gắn với cuộc đấu tranh phản bác các trào lưu tư tưởng phi mác xít, phản mác xít, chủ nghĩa cơ hội - xét lại với những biến dạng tinh vi, khó lường. Đấu tranh, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin là quy luật trong quá trình ra đời và phát triển. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Không có gì là lạ nếu học thuyết của Mác, một học thuyết trực tiếp dùng để giáo dục và tổ chức giai cấp tiên tiến của xã hội hiện đại, đã vạch ra nhiệm vụ của giai cấp ấy và chứng minh rằng, do kinh tế phát triển, những trật tự mới nhất định sẽ thay thế chế độ hiện tại; không có gì là lạ nếu mỗi bước tiến của học thuyết ấy trên con đường sinh tồn đều phải kinh qua chiến đấu”(1).

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, cũng như tương quan lực lượng dường như có lợi cho chủ nghĩa tư bản từ sau chiến tranh lạnh đã được các học giả tư sản, chủ nghĩa chống cộng triệt để lợi dụng, công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là “dấu chấm hết”, là “sự cáo chung” và “kết thúc trong thế kỷ XX”. “Bám đuôi”, “ăn theo” với chúng là những phần tử cơ hội, xét lại. Vì thế, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên khó khăn, nhiều thách thức hơn bao giờ hết.

Hoạt động giảng dạy lý luận Mác - Lênin trong các cơ sở giáo dục, đào tạo ở nước ta có những ưu thế thể hiện tính chiến đấu trong hệ thống lý luận khoa học về những nguyên lý, quy luật chung nhất là cơ sở, phương pháp luận để luận giải sự vận động, biến đổi và phát triển tất yếu của xã hội loài người, được thay thế bởi các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao; là lý luận khoa học và cách mạng xoay quanh tính tất yếu, nội dung, cách thức, biện pháp, phản ánh những quy luật và tính quy luật chính trị - xã hội trên con đường đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Thông qua hoạt động giảng dạy với những phương pháp dạy học tích cực, hiện đại, tăng cường sự tương tác giữa người dạy và người học, một mặt tiếp tục khẳng định giá trị vĩnh hằng của chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, định hướng, bồi dưỡng, giác ngộ cho người học về nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách khoa học, bài bản, thực chất, hiệu quả. Với ưu thế về nội dung, phương pháp, đối tượng thể hiện tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay”. Từ quán triệt sâu sắc đến vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn là một quá trình chuyển biến nhận thức và hành động. Không thể vận dụng đúng đắn, sáng tạo nếu như nhận thức chưa đầy đủ, thiếu sâu sắc bản chất tinh thần cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thực tiễn giảng dạy các môn lý luận Mác - Lênin ở các cơ sở giáo dục, đào tạo, nhất là các học viện, nhà trường lớn đã thể hiện tính chiến đấu ở các mức độ khác nhau tùy theo cấp học, bậc học và đối tượng học tập. Quá trình giảng dạy, người dạy đã lồng ghép giữa truyền thụ tri thức lý luận, thực tiễn về lý luận Mác - Lênin với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Qua đó, giúp người học nâng cao nhận thức lý luận, củng cố lập trường tư tưởng, bồi đắp tình cảm, niềm tin cách mạng; đồng thời từng bước hình thành, hoàn thiện kỹ năng đấu tranh, bảo vệ những giá trị lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Tuy nhiên, tính chiến đấu ở không ít bài giảng còn hạn chế, hoặc chưa thể hiện rõ. Bài giảng còn truyền đạt một cách xuôi chiều, chưa đi sâu làm rõ bản chất và những giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận giải thiếu tính thuyết phục, khi chưa xác định rõ nội dung (vấn đề) hình thức, phương pháp thể hiện tính chiến đấu. Một số giáo viên, giảng viên trẻ có biểu hiện né tránh việc nhận diện những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó ngại thiết kế vấn đề trao đổi, những tình huống mâu thuẫn giữa các trường phái, quan điểm đối lập để bảo vệ giá trị của lý luận.

Để nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy các môn lý luận Mác - Lênin góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức về tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin cho đội ngũ giảng viên và học viên.

Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, đảm bảo sự thống nhất về nhận thức cả người dạy và người học. Nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc là nhân tố chủ quan của sự hạn chế, thiếu hiệu lực, hiệu quả về tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin. Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy các học viện, nhà trường, trực tiếp nhất là các khoa, bộ môn có nội dung giảng dạy lý luận Mác - Lênin, các cơ quan, đơn vị quản lý học viên, sinh viên phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, quán triệt vị trí, vai trò, yêu cầu về tính chiến đấu trong giảng dạy đối với đội ngũ giảng viên, học viên. Nội dung giáo dục, quán triệt phải tập trung làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa truyền thụ lý luận khoa học với đấu tranh xuyên tạc, phủ nhận lý luận ấy trong giảng dạy, vai trò của nó đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hình thức giáo dục, quán triệt phải được thực hiện một cách đa dạng, phong phú như: thông các diễn đàn khoa học về giảng dạy lý luận chính trị nói chung, lý luận Mác - Lênin nói riêng, các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, hoạt động phương pháp, thông tin khoa học, dự giảng, kiểm tra bài giảng, ra đề thi, đáp án, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm...


Hai là, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, năng lực giảng dạy và nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin.

Tính chiến đấu của bài giảng các môn lý luận Mác - Lênin tùy thuộc vào tổng hòa các phẩm chất, năng lực của người giảng viên. Với người giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin, bản lĩnh chính trị là “tấm khiên, manh giáp”; còn sự am hiểu tường tận, sâu sắc kiến thức chuyên môn, năng lực phân tích nội dung sâu rộng, kỹ năng nhận diện, đấu tranh phản bác sắc bén chính là “thanh kiếm” của họ.

Bản lĩnh chính trị của giảng viên là sự kết tinh các yếu tố về thể chất và  tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí chính trị theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, được thể hiện vững vàng trước mọi hoàn cảnh, tình huống chính trị thực tiễn. Bản lĩnh chính trị, trình độ kiến thức, năng lực giảng dạy và nhận diện đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của giảng viên không phải tự nhiên mà có, mà phải được hình thành, phát triển trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện ở nhà trường và thực tiễn công tác. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với quá trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ giảng viên.

Đối với giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị là yếu tố hàng đầu, là “bệ đỡ” để họ tự tin, vững vàng đấu tranh một cách triệt để, bảo vệ giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu không có bản lĩnh chính trị, lập trường kiên định, vững vàng, không có sự tỉnh táo, sáng suốt thì tính chiến đấu của bài giảng không thể đúng hướng.

Không thể nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin, nếu như đội ngũ giảng viên chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện thấp, trình độ chuyên môn, năng lực hạn chế, nhất là kỹ năng nhận diện, xây dựng tình huống phê phán, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ lý luận cách mạng trong bài giảng. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn là quá trình tìm tòi, nghiên cứu để nắm vững, hiểu sâu nguồn gốc, bản chất các nguyên lý, quy luật chính trị - xã hội của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển biến tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời giảng viên phải nắm chắc kiến thức liên ngành như triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nhà nước và pháp luật, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, xã hội học, dân tộc học, quan hệ quốc tế…

Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng trình độ kiến thức chuyên môn chuyên ngành, liên ngành là nền tảng tri thức quan trọng để bồi dưỡng năng lực giảng dạy, tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận của giảng viên. Trong đó, bồi dưỡng các kỹ năng thao tác sư phạm, truyền tải hệ thống tri thức gắn với nhận diện, phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù  địch, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận các môn lý luận Mác - Lênin là nội dung trọng tâm.

Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng, phương pháp xây dựng và thực hiện tính chiến đấu trong giảng dạy cho đội ngũ giảng viên và học viên. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy các môn lý luận Mác - Lênin. Từ hoạt động này, cả người dạy và người học từng bước hình thành các kỹ năng nhận diện, phân tích, đối chiếu, nêu luận cứ phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy đòi hỏi các chủ thể phải được bồi dưỡng, rèn luyện từ thực tiễn đấu tranh tư tưởng, lý luận. Quá trình giảng dạy, giảng viên và học viên cùng nhau tương tác, tạo ra các tình huống tư duy đấu tranh lý luận; từ đó hình thành, phát triển kỹ năng nhận diện đấu tranh không khoan nhượng với những trào lưu tư tưởng, lý luận đối lập. Bên cạnh đó, giảng viên cần tích cực tham gia các diễn đàn khoa học, sinh hoạt chuyên môn, trao đổi học thuật, tọa đàm, hội thảo để thể hiện chính kiến, quan điểm của mình; đồng thời có cơ hội cọ xát, bồi đắp năng lực tư duy, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, năng lực giảng dạy, kỹ năng thể hiện tính chiến đấu cho đội ngũ giảng viên, đòi hỏi phải phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng, ban lãnh đạo, các nhà quản lý các cấp ở các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, trực tiếp nhất là lãnh đạo, quản lý các khoa giáo viên có nhiệm vụ giảng dạy lý luận Mác - Lênin; đồng thời, nêu cao vai trò, trách nhiệm của học viên - đối tượng tương tác trong hoạt động này.

Ba là, kịp thời cung cấp thông tin, tư liệu, định hướng đấu tranh cho đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn lý luận Mác – Lênin.

Tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin được nâng cao, thiết thực, hiệu quả nếu luôn kịp thời nắm bắt và đấu tranh kịp thời với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, phản động nảy sinh, những vấn đề nổi cộm, nóng bỏng mới xuất hiện trong đời sống xã hội. Trong khi đó, không cá nhân giảng viên nào, dù tích cực và nhạy bén nhất, có thể đủ khả năng nắm bắt kịp thời mọi vấn đề, có đủ tư liệu, thông tin để đấu tranh tức thì một cách hiệu quả.

Hiện nay, hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận của Đảng đang được tổ chức chặt chẽ, với các lực lượng chuyên trách hoạt động có tính chuyên nghiệp. Trên cơ sở đó, cần phát huy tốt vai trò của các cơ quan, lực lượng trong nắm bắt thông tin, kịp thời cung cấp cho các “đầu mối” tiến hành hoạt động đấu tranh tư tưởng lý luận, trong đó chú trọng các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thông tin cung cấp cần phải nhanh chóng, cập nhật, tập trung vào những vấn đề nổi cộm, nóng bỏng, bức xúc; những luận điệu và hoạt động chống phá nguy hiểm; đồng thời phải có định hướng rõ ràng về quan điểm, chủ trương, phương châm đấu tranh. Dưới tác động của công nghệ thông tin hiện đại, dòng thông tin luân chuyển liên tục, thông tin sinh ra thông tin, song thông tin cũng giết chết thông tin; thì việc bảo đảm tính cập nhật, kịp thời thông tin chính thống là dữ liệu quan trọng phục vụ cho công tác giảng dạy chất lượng, hiệu quả.

Bốn là, thường xuyên quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, có chính sách, cơ chế phù hợp đối với giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin.

Để nâng cao chất lượng bài giảng nói chung, tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin nói riêng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, lãnh đạo, quản lý các cơ sở giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cần quan tâm bảo đảm các điều kiện cần thiết như: cơ sở vật chất nơi làm việc, giảng đường, thư viện, phòng hoạt động phương pháp, cùng với các phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho biên soạn bài giảng và thực hành giảng bài. Tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học về giảng dạy lý luận chính trị, về đấu tranh tư tưởng, lý luận; tham gia nghiên cứu đề tài các cấp, biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học… nhằm bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức và kỹ năng tư duy lý luận. Trong tập thể các khoa, bộ môn giáo viên, cần tạo dựng được môi trường dân chủ, nhân văn để mọi cán bộ, giảng viên có thể tham gia các hoạt động trao đổi, tọa đàm, nhất là về các vấn đề mới, khó, những quan điểm trái chiều, những luận điệu chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, qua đó vừa nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn, vừa nâng cao trách nhiệm của giảng viên trong thực hành tính chiến đấu của bài giảng.

Bên cạnh đó, tính chiến đấu cần được xác định trong quy chế, quy định về đánh giá chất lượng của bài giảng; ý thức, trách nhiệm, năng lực giảng dạy, cũng như tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của giảng viên.

Năm là, phát huy tính tích cực, tự giác của giảng viên trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin.

Nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin sẽ chỉ là khẩu hiệu chung chung, phi hiện thực nếu không phát huy tính tích cực, tự giác của giảng viên. Đòi hỏi mỗi giảng viên cần phát huy tính tích cực chính trị, đề cao lòng tự trọng, danh dự, nhân phẩm của nhà giáo đối với nhiệm vụ giảng dạy và đấu tranh bảo vệ, phát triển các môn lý luận Mác - Lênin trong bối cảnh hiện nay. Giảng viên, đồng thời là đảng viên cộng sản, phải coi việc đấu tranh, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin là trách nhiệm vinh quang, là sự cống hiến vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Giảng viên phải không ngừng học tập, nghiên cứu, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn, rèn luyện phẩm chất, năng lực giảng dạy, đấu tranh tư tưởng, lý luận; đồng thời nêu gương “tự soi, tự sửa” để không ngừng hoàn thiện bản thân, xứng đáng là nhà giáo mẫu mực - chiến sĩ tiên phong tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Lãnh đạo, quản lý các cấp cần thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá, phân loại, biểu dương, khen thưởng; đồng thời kịp thời rút kinh nghiệm, bồi dưỡng, khắc phục những hạn chế, thiếu sót của giảng viên.

Tóm lại, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao, thì nâng cao tính chiến đấu trong giảng dạy lý luận Mác - Lênin là một phương thức cần được quan tâm và đầu tư nghiêm túc. Đòi hỏi, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, trước hết là các cơ sở giáo dục, đào tạo cần được phát huy; trong đó, đội ngũ giảng viên giảng dạy giữ vai trò trực tiếp quyết định./.

Đại tá, PGS. TS. LÊ XUÂN THỦY

Chủ nhiệm khoa, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

__________________

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2005, t.17,  tr.19.

Trăm sự phi lý phía sau “bộ cánh tự do tôn giáo”

Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây.

Những đòi hỏi vô lý, quá trớn

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo... Ảnh minh họa: TTXVN 

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

Cần xem lại cách nhìn, quan niệm về tự do tôn giáo

Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.

Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc.

Tính đến tháng 4-2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31-12-2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân.

Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này.

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?

Vũ Hùng - Báo QĐND

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nội dung này được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách đất đai của Việt Nam, âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn.

Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu để phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam là bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi giai tầng trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo bởi như vậy mới giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống. Do đó, đất đai với tư cách là một trong những loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định trong phát triển kinh tế cũng thuộc quyền sở hữu toàn dân.

Từ đây có thể thấy, quan điểm cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu thì phải thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai) như nhiều nước trên thế giới mới phù hợp và bảo đảm dân chủ, công bằng là hết sức võ đoán và phi lý. Ở nhiều nước tư bản hiện nay thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước, tuy nhiên đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân, mà chủ yếu là các nhà tư bản.

Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Tất nhiên, theo quy định pháp luật khi cần Nhà nước cũng có thể thu hồi đất của tư nhân để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội hay thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Nhưng Nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lập nên và sử dụng để bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, do đó, nếu có thu hồi, trưng dụng đất tư vì bất cứ mục đích gì thì cũng không nằm ngoài phạm vi bảo vệ và phục vụ tốt hơn cho lợi ích cho giai cấp tư sản.

Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là nhằm mưu đồ đòi hỏi từ bỏ những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo đúng ý đồ của các thế lực thù địch.

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết các quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng của người dân trong việc thực hiện các quyền với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế ở mức thấp nhất những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai. Hơn nữa, việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhằm mục đích để tài nguyên đất được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của nhân dân. Do đó, việc các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng “sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân bởi thực chất, đất đai thuộc quyền sở hữu, quản lý của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức và những người trong bộ máy Nhà nước” là đánh tráo khái niệm nhằm mục đích dẫn đến cách hiểu sai lầm về bản chất của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, luật pháp Việt Nam nhất là Luật Đất đai năm 2013 đã cung cấp những căn cứ để phân định rõ ràng quyền hạn cũng như trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất) và người đại diện chủ sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể: Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 7, 8 của Luật Đất đai cũng quy định rõ cá nhân nào có đủ tư cách là đại diện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất theo Điều 5; đồng thời luật cũng phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21).

Như vậy, không có chuyện như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Và càng không thể có chuyện phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này.

Ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình.

Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.

Có thể thấy, tất cả những quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay là mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động đất đai để làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, cảnh báo người dân không bị lôi kéo, tin nghe theo các thông tin sai sự thật liên quan đến vấn đề đất đai; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai./.

TS. Hoàng Thu Trang (nhandan.vn)

Giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng

10 năm qua, sự ra đời và hoạt động của Ban Chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực đã góp phần quan trọng từng bước kiềm chế, ngăn chặn được tham nhũng, tiêu cực.

Kết quả trong đấu tranh PCTN, tiêu cực góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cảnh tỉnh, răn đe, góp phần ngăn chặn tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội.

Sự ra đời tất yếu

10 năm trôi qua, nhưng hẳn nhiều người chưa thể quên câu chuyện diễn ra tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XI (tháng 10-2012). Đó là hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nghẹn ngào phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương. Trên cương vị người đứng đầu Đảng, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về "một số khuyết điểm lớn" cả hiện tại lẫn ở các nhiệm kỳ trước. Bởi, thời điểm trước đó, hàng loạt sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, gây nhiều hệ lụy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước. Tham nhũng, tiêu cực, sai phạm do đội ngũ cán bộ gây ra làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong hàng ngũ của Đảng khi ấy, nhiều người rất quyết liệt chống tham nhũng, nhưng chống từ đâu, chống bằng cách nào? Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội, chỉ sau Hội nghị Trung ương 6, khóa XI chưa đầy 4 tháng, vào ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập BCĐ Trung ương về PCTN, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban để chỉ đạo toàn diện công tác PCTN trên phạm vi cả nước. Ngay trong phiên họp đầu tiên của BCĐ (ngày 4-2-2013), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: “Chúng ta phải cam kết với nhau, mỗi thành viên BCĐ phải là một tấm gương về liêm sáng, trung thực, công tâm, khách quan, nếu không dân không tin”. Thực tiễn 10 năm qua minh chứng: Sự ra đời của BCĐ Trung ương về PCTN là việc làm cần kíp, là sản phẩm trí tuệ, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị trước một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Khẳng định sứ mệnh đặc biệt

Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN giai đoạn 2013-2020 (tháng 12-2020) thống nhất đánh giá: Từ khi BCĐ được thành lập đến nay, công tác PCTN có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, hưởng ứng, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Chính sự nêu gương, trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao trước Đảng, trước dân, các thành viên BCĐ đã thực hiện triệt để, hiệu quả quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: “Không có vùng cấm trong đấu tranh PCTN, tiêu cực”, trong 10 năm qua, BCĐ đã thực hiện tốt một số nhiệm vụ, như: Phát hiện và trừng trị những tập thể, cá nhân có hành vi tham nhũng; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế-xã hội và PCTN. Kết quả công tác đấu tranh PCTN đã góp phần rất quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Ảnh minh họa/tuyengiao.vn

10 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, trực tiếp là BCĐ, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước được tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PCTN, tiêu cực. 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang... Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Qua công tác thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân sai phạm; kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính hơn 975.000 tỷ đồng, gần 76.000ha đất; chuyển cơ quan điều tra gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thay thế hơn 2.000 văn bản pháp luật.

 

Đặc biệt, BCĐ đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó BCĐ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc; các cơ quan chức năng đã kết thúc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm 120 vụ án/1.083 bị cáo, có 37 bị cáo nguyên là cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.

Đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực BCĐ Trung ương về PCTN, tiêu cực, khẳng định: "Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ cấp cao như vừa qua. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, rất đau xót khi phải xử lý kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, nhưng vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, sự nghiêm minh của pháp luật, vì niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nên buộc phải làm".

Bước tiến về tầm nhìn và tư duy

Trước thềm Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, đại biểu nhiều địa phương bày tỏ niềm tin tưởng, lạc quan trước quy mô, tầm mức và phương thức tổ chức hội nghị lần này. Đặc biệt, dư luận kỳ vọng, BCĐ Trung ương về PCTN, tiêu cực sẽ tiếp tục có những tham mưu, sáng kiến mới, hiến kế cho Trung ương Đảng, Bộ Chính trị chỉ đạo cuộc đấu tranh đẩy lùi “giặc nội xâm”; đồng thời gửi thông điệp, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao hơn nữa cho mọi cấp, mọi ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh PCTN, tiêu cực.

10 năm qua, BCĐ luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan tham mưu chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về công tác PCTN, tiêu cực với cách làm bài bản, đồng bộ, khoa học. Sự tham mưu “đúng” và “trúng” là căn cứ quan trọng giúp xây dựng, hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và PCTN. Từ chủ trương của Trung ương và yêu cầu thực tiễn, Quốc hội sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.000 nghị định, quyết định; các bộ, ngành, địa phương ban hành hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế-xã hội, PCTN, tiêu cực, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý tham nhũng, tiêu cực hiệu quả. Đây chính là việc chúng ta “nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”. Và tính hiệu quả của nó được chứng thực rõ rệt, vì gần đây, nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực dù rất tinh vi, xảo quyệt cũng đều bị phơi bày sự thật và xử lý triệt để, nghiêm minh.

PCTN đã thực sự trở thành phong trào hành động cách mạng rộng khắp trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở được quan tâm nhiều hơn, từng bước khắc phục biểu hiện "trên nóng, dưới lạnh". Riêng năm 2021, tất cả địa phương đã khởi tố những vụ án mới về tham nhũng. Một số địa phương phát hiện, khởi tố vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực lớn như: Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Thái Nguyên...

Việc PCTN, tiêu cực được triển khai toàn diện cả theo trục dọc lẫn chiều ngang, trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, PCTN, tiêu cực trong công tác cán bộ có nhiều đổi mới, dân chủ, công khai, minh bạch; nhiều vấn đề tồn tại trước đây trong công tác cán bộ được chỉ đạo giải quyết quyết liệt.

Như vậy, qua 10 năm hoạt động, dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trưởng BCĐ, hoạt động của BCĐ có nhiều đổi mới, nền nếp, bài bản, khoa học, quyết liệt và hiệu quả. Vừa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực; vừa quyết liệt chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, với nhiều cơ chế, giải pháp, cách làm bài bản, hiệu quả và không chịu tác động không trong sáng của tổ chức, cá nhân nào; vừa chọn những khâu yếu, việc khó trong công tác PCTN, tiêu cực để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục.

Đặc biệt, ngày 16-9-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BCĐ để chỉ đạo cả công tác PCTN và công tác phòng, chống tiêu cực.

Mới đây, thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương 5, khóa XIII, Ban Bí thư ban hành Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của BCĐ PCTN, tiêu cực cấp tỉnh. Hiện nay, tất cả các tỉnh ủy, thành ủy đang khẩn trương quyết định thành lập và triển khai hoạt động của BCĐ cấp tỉnh nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác PCTN, tiêu cực ở địa phương, cơ sở. Tính đến ngày 27-6-2022, đã có 34 tỉnh, thành phố thành lập BCĐ PCTN, tiêu cực cấp tỉnh.

Dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng công bằng mà nói, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực hiện nay vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, có sự cấu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với các doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Vì vậy, hôm nay (30-6), Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 sẽ là cơ hội để cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy trao đổi nhằm tiếp tục thống nhất nhận thức, trao đổi kinh nghiệm, đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập trong công tác PCTN, tiêu cực; đồng thời thể hiện quyết tâm chính trị trong cuộc chiến với “giặc nội xâm” của toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân.

NGUYỄN TẤN TUÂN – BÁO QĐND ONLINE

Cái quý nhất là sự gương mẫu

Tuần trước tôi về quê. Vừa về đến nhà, bố tôi kể luôn chuyện về một đại tá-cựu chiến binh trong xã nhiều lần vận động ông đứng ra thành lập “Hội cán bộ cao cấp”.

Tiêu chí tham gia hội là cán bộ Quân đội và Công an về nghỉ hưu tại xã, có cấp hàm từ thượng tá trở lên. Chẳng là xã tôi có gần 20 cán bộ Quân đội và Công an nghỉ hưu có cấp bậc quân hàm như thế.

Bố tôi không tán thành, nhưng ông này tiếp tục năn nỉ: “Vì bác là đại tá nâng lương, lại được cán bộ và dân chúng trong làng, trong xã nể trọng, thôi thì bác cứ cho chúng em lấy cái danh của bác đứng ra thành lập hội, còn mọi việc, mọi hoạt động sau này để chúng em lo tất”. Bố tôi cũng không đồng ý.

Ảnh minh họa - qdnd.vn

Lần sau, đại tá-cựu chiến binh nọ lại đi cùng một cựu thượng tá Công an đến nhà tiếp tục vận động bố tôi. Lần này hai “cán bộ cao cấp” xuống thang, hy vọng bố tôi chấp thuận-“Thôi không yêu cầu bác đứng ra thành lập hội và không làm chủ tịch hội, nhưng đề nghị bác chỉ cần tham gia hội cũng được, cũng tạo thuận lợi cho chúng em...”.

Nghe xong, bố tôi đã bày tỏ rõ quan điểm và những lời khuyên chân tình với những người mong muốn thành lập “Hội cán bộ cao cấp”. Rằng, chúng ta là cán bộ nghỉ hưu nhưng chúng ta vẫn là những đảng viên của Đảng, vì thế nhất nhất phải chấp hành nghiêm điều lệ và kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt những điều đảng viên không được làm. Việc đảng viên tự đứng ra thành lập hội, nhóm là vi phạm nguyên tắc lãnh đạo và xây dựng Đảng.

Hiện chúng ta đang là hội viên của nhiều tổ chức hội, như: Hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi; có người còn là thành viên của hội giáo chức, hội sinh vật cảnh... thì hãy làm tốt vai trò hội viên, thành viên của tổ chức hội đó. Trước đây ai có cấp bậc, chức vụ gì thì cán bộ và người dân cũng biết cả, chứ không phải ai tham gia “Hội cán bộ cao cấp” người dân mới biết là trước đây ông ấy, bà ấy làm to!”. Cái quý nhất, nể trọng nhất của cán bộ, nhân dân địa phương dành cho những người về hưu là ở sự gương mẫu, tiếp tục cống hiến, xây dựng quê hương, chứ không phải trước đó người ấy làm ông to, bà lớn gì. Việc thành lập hội và ai tham gia “Hội cán bộ cao cấp” là tự tách mình ra với các hội, đoàn chính thống, với người dân, chẳng lợi ích gì mà kẻ xấu lại dễ suy diễn, chụp mũ, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, của chế độ và mối quan hệ giữa Đảng với dân...

Sau hôm ấy, nghe bố tôi nói vậy, chắc những người chủ định thành lập “Hội cán bộ cao cấp” ở xã tôi đã thấm nên không còn ai có ý định thành lập và tham gia cái hội ấy nữa.

THANH TÙNG – BÁO QĐND ONLINE

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...