Thứ Hai, 8 tháng 11, 2021

Nâng cao văn hóa pháp luật để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

(TG) - Văn hóa pháp luật - một trong những hình thái của văn hoá, có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện chiến lược xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện - trụ cột cơ bản của nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội XIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ chiến lược xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.



VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA PHÁP LUẬT

Văn hóa pháp luật là một trong những loại hình của văn hóa xã hội; là “tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật”(1).

Từ góc độ cấu trúc hệ thống, văn hóa pháp luật được cấu thành từ các thành tố cơ bản là: ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật, các thiết chế pháp luật, các phương tiện pháp luật; hành vi, lối sống pháp luật, trình độ sử dụng pháp luật. Đồng thời, từ phương diện ứng dụng trong thực tiễn đời sống nhà nước, pháp luật, văn hóa pháp luật là khái niệm chỉ một trạng thái tốt, trạng thái có chất lượng của đời sống pháp luật quốc gia, được thể hiện ở trình độ nhất định đạt được về sự hoàn thiện pháp luật, về ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật của mọi cá nhân.

Quan điểm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(2).

Hiện nay Chính phủ đang triển khai xây dựng dự thảo Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển con người toàn diện. Theo đó, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người, xây dựng con người văn hóa, phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh là một trong những quan điểm chủ đạo trong tổng thể nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, giàu lòng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết, cần cù sáng tạo là góp phần kiến tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Văn kiện Đại hội XIII cũng đã xác định rõ hơn yêu cầu về xây dựng “hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người” gắn với giữ gìn, phát triển “hệ giá trị gia đình Việt Nam” trong thời kỳ mới. Theo đó, bên cạnh các giá trị cốt lõi cần hướng tới như Công bằng, Quyền/quyền lợi Bình đẳng, Tự do, Khoan dung, Dân chủ; Hòa bình; Dân chủ; Tuân thủ pháp luật; trách nhiệm xã hội(3), hệ giá trị Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ, hội nhập cũng cần hội tụ những giá trị cơ bản: Yêu nước; Nhân ái; Nghĩa tình; Trung thực; Sáng tạo; Dân chủ; Pháp quyền; Bản lĩnh; Trách nhiệm và Hợp tác, bảo vệ môi trường.

“Nội dung cơ bản về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải bao gồm cả “xây”những phẩm chất tốt đẹp, “chống”những biểu hiện sai trái về đạo đức, pháp luật và “khắc phục” những hạn chế, yếu kém trong nhận thức, hành vi của con người Việt Nam.”

Việc xây dựng con người phát triển toàn diện chính là nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế, phát triển bền vững. Bởi, con người muốn phát triển toàn diện thì cần phải có những phẩm chất chính trị, đạo đức, pháp lý, khoa học, kỹ thuật, có năng lực sáng tạo tốt, có ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật, yêu nước, tự hào dân tộc, có lối sống văn hóa. Đồng thời nhận diện rõ và khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng, xuống cấp về đạo đức, vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương xã hội, tha hóa về lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tăng cường việc kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật.

Để thực hiện được các nhiệm vụ nêu trên, có rất nhiều công việc, giải pháp phải thực hiện đồng bộ, trong đó, xây dựng văn hoá pháp luật một cách bền vững có vai trò đặc biệt quan trọng cả trên phương diện xây dựng và thực thi pháp luật trong cuộc sống.

“Vai trò giáo dục của văn hóa pháp luật thể hiện ở sự định hướng cho các thành viên xã hội lựa chọn cách xử sự hợp lý để tránh xung đột với các cá nhân khác, cách giải quyết hài hòa các lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân mà không vi phạm pháp luật.

Văn hoá pháp luật góp phần tích cực trong việc điều tiết ý thức, hành vi, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật không chỉ trong các mối quan hệ của con người với nhau mà cả trong quan hệ của con người với môi trường thiên nhiên, định hướng con người đến những giá trị cốt lõi Chân - Thiện - Mỹ - Ích.”

MỘT SỐ  GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT

Để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp văn hoá, kinh tế, chính trị, pháp lý. Từ phương diện pháp lý, xin được đề cập một số giải pháp về văn hoá pháp luật góp phần thực hiện chiến lược xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

Một là, kết hợp giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức, lối sống tuân theo pháp luật và phù hợp đạo đức xã hội.

Giáo dục đạo đức kết hợp giáo dục pháp luật là điều kiện không thể thiếu được để hình thành hành vi hợp pháp và hợp đạo đức, hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật.

Giáo dục pháp luật hướng vào việc hình thành, nâng cao thái độ, tình cảm tôn trọng pháp luật, niềm tin của con người vào pháp luật, tôn trọng quyền, tự do, lợi ích chính đáng của con người, ý thức trách nhiệm đối với người khác, cộng đồng và xã hội. Giáo dục pháp luật còn giúp công dân biết đánh giá các hiện tượng pháp lý: tính đúng đắn hay không của một quyết định toà án, một quyết định hành chính; tích cực tham gia góp ý kiến xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật. Làm sao cho việc phòng, chống, việc xử phạt cái ác, khuyến khích, bảo vệ cái thiện phải được thể hiện rõ nét hơn trong pháp luật và thực thi pháp luật. Đó chính là cách tốt nhất để phát huy tác động tích cực giữa pháp luật và đạo đức, đồng thời là cách tốt nhất để vừa “thượng tôn pháp luật, vừa thực hành đạo đức” trong cuộc sống hiện đại.

Không chỉ dừng lại ở những chế tài pháp luật mà phải “gõ cửa”, “đánh thức” lương tâm mỗi con người để họ thận trọng hơn, có trách nhiệm hơn về mỗi hành vi của mình. Do đó, cần tạo dư luận xã hội để lên án những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật. Đồng thời, ủng hộ, khuyến khích, tạo điều kiện cho những hành vi hợp pháp, hợp đạo đức. Xây dựng, phát triển văn hóa pháp luật để vừa bảo vệ được đạo đức, vừa tạo điều kiện xoá bỏ những quan điểm phản tiến bộ; thúc đẩy hình thành những quan điểm, chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật, đảm bảo tiếp cận pháp luật, kỹ năng thực hành pháp luật.

Một trong những nội dung cần đổi mới trong phổ biến, giáo dục pháp luật chính là sự kết hợp phổ biến, giáo dục về kiến thức pháp luật với những kỹ năng cần thiết trong thực hiện pháp luật. Sự hiểu biết pháp luật là cơ sở để mỗi cá nhân hình thành ý thức tôn trọng và lối sống tuân theo pháp luật. Đưa các yếu tố pháp luật, kỹ năng thực hành pháp luật vào trong giáo dục đạo đức và ngược lại; phát triển các loại hình dịch vụ pháp lý, góp phần giảm thiểu những rủi ro pháp lý và nâng cao an toàn pháp lý cho các cá nhân, tổ chức trong các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội.

Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò to lớn tác động đến ý thức và hành vi hợp pháp của các cá nhân. Luật pháp muốn hiệu lực hiệu quả thì ngoài sức mạnh của công quyền và những “nguyên tắc, điều luật, thiết chế” thì còn cần huy động cả sức mạnh của tư tưởng và tinh thần, để pháp luật phải được con người nhận thức như là cái cần thiết và có cơ sở, phải tạo niềm tin và sự tôn trọng đối với pháp luật. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải sát thực, phù hợp với các nhóm đối tượng xã hội trong các lĩnh vực quan hệ xã hội.

Ba là, giáo dục ý thức về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người.

Trong nội dung giáo dục pháp luật kết hợp với giáo dục đạo đức cần trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành văn hóa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm con người.

Văn hóa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm con người là một thể thống nhất bao gồm các thành tố cơ bản là: sự hiểu biết - kiến thức cơ bản về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức, pháp lý của con người, ý thức tôn trọng quyền con người, tôn trọng các giá trị, chuẩn mực đạo đức; kỹ năng sử dụng, bảo vệ các quyền con người, thực hiện nghĩa vụ cơ bản, nghĩa vụ cụ thể theo quy định pháp luật.

Để xây dựng con người phát triển toàn diện, cần thiết phải xây dựng văn hoá quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm con người.

“Con người phát triển toàn diện trước hết phải là con người hiểu biết các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội; tôn trọng, tuân thủ pháp luật thành thói quen, ứng xử văn hoá trong mọi hoạt động xã hội của bản thân mình.”

Có một thực tế là, khi thực hành các quyền, tự do của mình, cá nhân rất dễ rơi vào trạng thái có nguy cơ lạm dụng, lợi dụng, vượt quá giới hạn và tràn sang miền cấm của pháp luật và đạo đức xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích của những người khác và xã hội. Trên thực tế, chúng ta thấy vẫn còn sự sai lệch cả trong nhận thức và hành vi, thực hành về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm con người.

Như một tất yếu, cuộc sống càng hiện đại, khoảng không tự do càng rộng thì lại càng cần đến ý thức và thực hành trách nhiệm - bổn phận cá nhân đối với những người xung quanh, cộng đồng và xã hội. Chẳng hạn, trong cuộc chiến phòng chống đại dịch COVID-19, vấn đề trách nhiệm cá nhân con người có tầm quan trọng đặc biệt. Không chỉ quyền, tự do, không chỉ một nghĩa vụ cụ thể mà cao hơn, bền vững hơn là trách nhiệm đạo đức, pháp lý con người đối với sự an toàn và công bằng trong xã hội.

Văn hoá nói chung, văn hoá quyền con người, văn hoá nghĩa vụ, trách nhiệm con người không chỉ là những hành vi nhất thời, hình thức mà phải trở thành những thói quen ứng xử, là nhận thức và hành vi thực tế của mỗi con người trong mọi không gian, thời gian, lĩnh vực, địa bàn; phải được nhận thức, thực hành thường xuyên, mọi nơi, mọi thời điểm, trong mọi hoạt động, đặc biệt là trong hoạt động của các cơ quan công quyền, cá nhân công quyền chứ không chỉ là những khẩu hiệu, báo cáo...

Giáo dục quyền con người nhằm trang bị cho con người những kiến thức cần thiết về quyền con người, cơ chế bảo vệ quyền con người, kỹ năng thực hành quyền con người, tạo lập ý thức, thói quen tôn trọng, bảo vệ quyền con người phù hợp với các nguyên tắc pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về quyền con người.

Tạo lập một cách bền vững văn hóa quyền con người, văn hóa nghĩa vụ, trách nhiệm con người cũng chính là tiền đề, điều kiện đảm bảo thực hiện mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay.

Bốn là, xây dựng văn hóa pháp luật đối với đội ngũ cán bộ, công chức.

Văn hóa pháp luật của cán bộ, viên chức, công chức nhà nước như một tất yếu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa pháp luật của các cá nhân trong đó có việc tạo lập niềm tin vào công lý và pháp luật - một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật. Đối với đội ngũ cán bộ, viên chức, công chức, trình độ văn hoá pháp luật phải được thể hiện, đo lường thông qua các tiêu chí cơ bản: trình độ hiểu biết pháp luật, bản lĩnh và kỹ năng áp dụng, thi hành pháp luật, ý thức, hành vi tôn trọng, tuân thủ pháp luật, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của con người.

Xây dựng văn hóa công vụ để hình thành một cách bền vững ý thức trách nhiệm đạo đức công vụ, tính chuyên nghiệp, tôn trọng, tuân thủ pháp luật thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, nghĩa vụ, nhiệm vụ được giao một cách trung thực, tận tuỵ, mẫn cán, cẩn trọng, tránh xung đột lợi ích, không vụ lợi cá nhân và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Sự tận tụy, nhiệt tình, chuyên nghiệp, thận trọng, công tâm, có trách nhiệm với con người và tổ chức, với công việc hàng ngày trong hoạt động công vụ là điều kiện cơ bản để tạo lập, vận hành nền công vụ phục vụ xã hội hiệu lực và hiệu quả.

Nội dung của xây dựng văn hóa công vụ bao hàm cả giáo dục liêm chính. Cần đưa nội dung giáo dục liêm chính vào trong giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật, giáo dục quyền con người theo cách mới, gắn với chế độ công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, phòng chống tham nhũng.

Năm là, đảm bảo công bằng, nghiêm minh, kịp thời trong thi hành, áp dụng pháp luật, xây dựng niềm tin pháp luật.

Tình trạng pháp luật không được thực hiện, hay thực hiện không nghiêm minh, không kịp thời, không minh bạch, công bằng trong thực thi pháp luật của các cơ quan công quyền sẽ dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đối với ý thức và hành vi hợp pháp luật của con người. Việc thiếu niềm tin vào tính công bằng, bình đẳng và nghiêm minh của pháp luật là một trong những yếu tố làm tăng thêm chi phí tổ chức thực hiện của pháp luật(4). Max Weber đã từng nhấn mạnh rằng, một Nhà nước có hưng thịnh hay không tuỳ thuộc vào việc những đạo luật do Nhà nước ban hành có được tuân thủ hay không(5).

Sáu là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo cân bằng các loại lợi ích, đơn giản,minh bạch, nhất quán, thống nhất, ổn định.

Tính ổn định tương đối, phù hợp cuộc sống, công khai, minh bạch của pháp luật và việc thực thi pháp luật nghiêm minh, công bằng, kịp thời sẽ là một trong những điều kiện cơ bản để tạo dựng môi trường pháp lý lành mạnh, hiệu quả. Tình trạng tần suất cao về sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản pháp luật, quy định pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo nhau, vi phạm nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp và Luật là những lực cản lớn cho việc thực thi pháp luật, dẫn đến tâm lý coi thường, mất niềm tin vào pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho những chuỗi vi phạm pháp luật ngoài vòng xử lý.

Các chế tài pháp luật cần đủ độ răn đe và phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện các hành vi hợp pháp, giảm thiểu vi phạm pháp luật. Các chế tài nghiêm minh và những biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc thực thi là điều kiện quan trọng có tác động mạnh mẽ đến ý thức và hành vi hợp pháp của con người.

Bảy là, xây dựng tính tích cực pháp luật, tạo lập dư luận xã hội lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật; hỗ trợ, tôn vinh những hành vi hợp pháp, có văn hóa pháp luật.

Cần tạo lập tính tích cực pháp lý, gia tăng mức độ xã hội hóa pháp luật của các cá nhân, không chỉ có tuân thủ pháp luật mà còn tích cực tham gia vào việc xây dựng chính sách, pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống. Tạo lập dư luận xã hội chính là một trong những biện pháp mạnh mẽ để đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật, khuyến khích, hỗ trợ các hành vi hợp pháp, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như giao thông, sản xuất, kinh doanh các mặt hàng lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh.../.

GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ

TS. LÊ THỊ PHƯƠNG NGA

Đại học Quốc gia Hà Nội

__________________________

(1) Lê Minh Tâm: Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Luật học, số 5/1998.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, tr.143.

(3) Phạm Huy Đức: Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị điện tử ngày 14/6/2021.

(4) Nguyễn Sĩ Dũng: Việc tổ chức thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10/2010.

(5) Dẫn theo: Ulrich Karpen, Những điều kiện bảo đảm hiệu quả của Nhà nước pháp quyền, đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nước mới công nghiệp hoá, trong Josef Thesing (chủ biên): Nhà nước pháp quyền, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, tr. 335-379.

 

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch về nền kinh tế thị trường XHCN trong tình hình mới

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế đặc thù trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, chưa có tiền lệ trong nền kinh tế thế giới. Thời gian qua, các thế lực thù địch, những đối tượng cơ hội chính trị có nhiều quan điểm sai trái, lệch lạc về vấn đề này.

Một số quan điểm của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến nay

Vì vậy, việc xây dựng nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở nước ta là quá trình vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để có mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Khái niệm nền KTTT định hướng XHCN được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001). Đại hội IX xác định: “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó chính là nền KTTT định hướng XHCN”(1). Với mục đích của nền KTTT định hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất để từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, nâng cao đời sống của nhân dân và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.

Nhận thức về mô hình KTTT định hướng XHCN dần được sáng tỏ, được phát triển cả về lý luận và thực tiễn qua Đại hội X của Đảng. Đặc biệt là quan điểm về tính định hướng XHCN trong nền KTTT ở nước ta là: “Thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”; Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn” (2) , đó là kim chỉ nam cho sự phát triển mô hình có tính đặc thù mà trong lịch sử chưa có tiền lệ.

Một số loại hình kinh tế ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tạp chí Tuyên giáo

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu của nền KTTT định hướng XHCN: “Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”(3).

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đưa ra khái niệm về kinh tế thị trường định hướng XHCN về cả nội hàm, mục tiêu và cách thức thực hiện: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.(4)

Đại hội XII đã có bước phát triển mới rõ nét, khẳng định trong giai đoạn hiện nay, cần thống nhất nhận thức về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam: “Có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực Nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội”(5).

Tiếp tục làm rõ hơn, Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(6).

Đảng xác định mục tiêu xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là: “Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn” (7).

Về mục tiêu cụ thể, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế” (8).

Trong Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng cũng yêu cầu “ hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển KTTT định hướng XHCN”, nhưng với nội dung và mục đích mới. Nếu ở Đại hội XII, việc hoàn thiện thể chế nhằm “nâng cao hiệu lực” quản lý kinh tế và quản lý Nhà nước về kinh tế, thì Đại hội XIII nhấn mạnh mục đích “tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”. Đây là một cách tiếp cận vấn đề rất thực tế, một phương hướng hợp lý, tích cực nhằm phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh, bền vững.

Một số vấn đề đặt ra

Trong bài “Bối cảnh quốc tế, trong nước và các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng”, về xác định tình hình trong nước có đánh giá rất cụ thể. Chưa bao giờ tầm vóc và sức mạnh của dân tộc, của đất nước lại rạng rỡ và mạnh mẽ như hôm nay.

Nhưng mặt khác, những thách thức đối với cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch cũng không hề nhỏ mà lý do chính là những tồn tại, khiếm khuyết trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.

Trong những năm qua, kinh tế vĩ mô của nước ta cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc, nợ công tăng nhanh, nợ xấu giảm dần nhưng vẫn ở mức cao, sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. “Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường.

Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội.

Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới… Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút” (9).

Về tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế KTTT định hướng XHCN, được bắt đầu ngay từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, tuy nhiên đây là vấn đề rường cột trong nội dung đổi mới và rất phức tạp, đòi hỏi sự đổi mới trong nhiều lĩnh vực.

Vì vậy, trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội vấn đề này luôn được coi là một nội dung trọng tâm, cần phải được quán triệt cả về nhận thức và hành động. Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Thể chế KTTT định hướng XHCN còn nhiều vướng mắc, bất cập.

Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp. Môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thực sự thông thoáng, minh bạch. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Thể chế phát triển, điều phối kinh tế vùng chưa được quan tâm và chậm được cụ thể hóa bằng pháp luật nên liên kết vùng còn lỏng lẻo”(10).

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN 

Thực tiễn quá trình cách mạng của nước ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi.

Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của CNTB để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, những khó khăn của đất nước hoặc ở thời điểm quan trọng, nhạy cảm, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về tư tưởng, còn trong nội bộ có thể xuất hiện những quan điểm lệch lạc.

Vì thế, việc nghiên cứu xác định rõ những luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn; chống cả những quan điểm thù địch diễn ra thường xuyên và nhất là trong các thời điểm trước và sau những sự kiện quan trọng. Chúng ta cần tập trung một số vấn đề sau:

Nhận thức không thể phủ nhận thành tựu xây dựng CNXH và công cuộc đổi mới.

Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Nhận thức chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Leenin.

Nhận thức phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội

Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(11). Đây là bước tiến về nhận thức của Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước.

Ths ĐẶNG THỊ TỐ TÂM, Học viện chính trị khu vực I

(1) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật , H.2001, tr.86

(2) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, tr.77

(3) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.204-205

(4) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.102

(5) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.25 – 26

(6) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t1, tr.128

(7) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, tr.77

(8) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t1, tr.217

(9) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 67-68

(10) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t1, tr.80

(11) -  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, sdd, t.60, tr. 179

Tài liệu tham khảo

(1) – Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, GS.TS Vũ Văn Hiển chủ biên – “Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng”- Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, t1, H. 2020, tr 14 – 24

Trương Quốc Huy – “con rối” trong tay Việt Tân chống phá đất nước

Học hết lớp 7 thì bỏ giữa chừng, từng đi bộ đội nhưng Trương Quốc Huy bị trả về địa phương do vi phạm kỷ luật. Hai lần bị bắt giam; lần bắt thứ 2 (năm 2005) bị kết án 6 năm tù, ra tù trốn qua Thái Lan, sau đó sang Mỹ, Trương Quốc Huy trở thành “con rối” cho tổ chức khủng bố Việt Tân giật dây, xuyên tạc chống phá đất nước….

Đó là mớ thông tin về những việc làm bất hảo của kẻ phản bội Tổ quốc Trương Quốc Huy. Ngày 12-8, Công an thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã phát đi thông tin cảnh giác về đối tượng này.


Đối tượng Trương Quốc Huy. Ảnh: cand.com.vn

Vào những năm 2004, 2005, Trương Quốc Huy và Hàng Tấn Phát bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tổ chức phản động “Hội đồng Dân quân cứu quốc” do đối tượng khủng bố Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu. Tại đây, Trương Quốc Huy đã nhận tiền từ Trương Hữu Chánh để thực hiện thu thập, phát tán trên các trang mạng nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và phát tán tờ rơi xuyên tạc chính quyền “đàn áp tôn giáo”.

Năm 2005, Trương Quốc Huy và Lisa Phạm đã bị cơ quan chức năng của Việt Nam bắt để điều tra làm rõ hành vi sai trái. Sau thời gian bị tạm giam, nhờ chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, hai đối tượng cũng tỏ ra ăn năn hối lỗi, viết nhiều lá đơn cam kết từ bỏ hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, Trương Quốc Huy được trả tự do, Lisa Phạm bị trục xuất về Mỹ.

Tuy nhiên, với bản chất tráo trở, ngoan cố, sau khi được trả tự do, Trương Quốc Huy vẫn tiếp tục có hoạt động vi phạm pháp luật, gia nhập các tổ chức phản động. Cụ thể Huy đã gia nhập "Khối 8406" nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, kích động đòi lập một thể chế đa nguyên chống lại nhà nước.

Năm 2006, Trương Quốc Huy và anh trai bị bắt về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh, từ 6-2004 đến 6-2005, Trương Quốc Huy và Hàng Tấn Phát được một số tổ chức ở nước ngoài lôi kéo tham gia, cung cấp tiền bạc tiêu xài. Đáp lại, Huy và Phát phải thu thập các thông tin nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo, kích động nhân dân lật đổ chính quyền...

Trương Quốc Huy đã tới hai tỉnh Kiên Giang và An Giang thu thập thông tin, hình ảnh về các vụ khiếu kiện đất đai, hoạt động quá khích của nhóm tôn giáo... đưa lên diễn đàn trên mạng. Trương Quốc Huy đã viết bài xuyên tạc về đường lối, chính sách của nhà nước Việt Nam, in và phát tán hàng loạt tài liệu chống phá. Với những bằng chứng phạm tội rõ ràng, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã tuyên phạt Trương Quốc Huy 6 năm tù giam và 3 năm quản chế.

Năm 2012, sau khi mãn hạn tù, Trương Quốc Huy cùng Trương Quốc Tuấn trốn sang Thái Lan và bị bắt giữ vì hành vi nhập cảnh trái phép; sau đó đã được tỵ nạn tại Mỹ dưới sự bảo trợ, bảo lãnh của tổ chức, cá nhân phản động từng xúi giục, tiếp sức cho đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

Tại Mỹ, dưới sự chỉ đạo của tổ chức khủng bố Việt Tân, Trương Quốc Huy lập kênh N10TV trên youtube, facebook để phát tán tài liệu xuyên tạc, bịa đặt, chia rẽ đoàn kết giữa người dân Việt Nam với chính quyền, kích động bạo lực, gây bất ổn trong nước.

Thủ đoạn của Trương Quốc Huy thường là lợi dụng một số sai sót có tính cá biệt, nhất thời, vấn đề trên báo chí đã đăng, thông tin trên mạng xã hội chưa được kiểm định, thậm chí là “nghe đồn”… rồi xuyên tạc, thổi phồng, suy diễn, quy kết tùy tiện, vô căn cứ, qua đó gây hiểu lầm cho người dân, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực nhằm chống phá đất nước.

Gần đây, trước tình hình Covid-19 ở Việt Nam diễn biến phức tạp, kênh N10TV càng ra sức chống phá. Trương Quốc Huy bằng lời lẽ ngông cuồng, láo xược đã vu khống, xuyên tạc tình hình và công tác phòng, chống dịch, công tác điều hành của Chính phủ; kích động người dân biểu tình, thực hiện hành vi sai trái….

Với bản chất xấu xa, ngoan cố chống phá đất nước như vậy, Trương Quốc Huy sẽ không lừa được dư luận, chỉ là “con rối” cho các thế lực thù địch giật dây và nhận thất bại thảm hại.

THANH SƠN

 

Đường sắt Cát Linh-Hà Đông: Âm mưu sau lời kêu gọi “tẩy chay

Thật lạ là trong khi đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi vào hoạt động để được đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

Ngày 6-11, tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã chính thức vận hành, khai thác thương mại giai đoạn 1 với tần suất từ 6-15 phút/chuyến.

Sự kiện này được người dân Hà Nội, nhất là những người có nhu cầu đi lại trên tuyến đường thuộc loại đông đúc nhất Thủ đô mong chờ từ lâu, bởi đường sắt trên cao đi vào hoạt động sẽ đánh dấu bước phát triển của vận tải hành khách công cộng, góp phần quan trọng giúp người dân đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.

Thực tế những năm qua, người dân đã rất sốt ruột, thậm chí kêu ca, phàn nàn nhiều vì dự án này bị chậm tiến độ, không kịp thời “gỡ khó” cho tuyến giao thông trọng điểm, thường xuyên bị quá tải, ùn tắc, lưu thông rất khó khăn.

Thế nhưng, khác hẳn với đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông hoạt động, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

Đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi vào hoạt động sẽ góp phần quan trọng giảm ùn tắc giao thông trên tuyến đường trọng điểm này. Ảnh: Mạnh Hưng

Trước đó, ngay từ khi tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông được khởi công xây dựng, những đối tượng này đã ra sức chống phá: Nào là Trung Quốc làm tuyến đường sẽ “trấn yểm long mạch” Thủ đô của Việt Nam, “chặn linh khí quốc gia” làm cho nước ta lụi bại (!); lãnh đạo Việt Nam sợ Trung Quốc nên buộc phải giao cho Trung Quốc làm tổng thầu (!); công nghệ tàu điện và đường sắt trên cao của Trung Quốc lạc hậu (!)…

Đặc biệt, khi tuyến đường thi công chậm tiến độ, điều chỉnh, phát sinh nhiều hạng mục dẫn đến đội vốn (từ hơn 8.000 tỷ đồng lên hơn 18.000 tỷ đồng) thì các đối tượng càng lợi dụng để vu khống, chống phá quyết liệt. Dù không có bằng chứng, cơ sở nào nhưng họ vẫn ngang nhiên suy diễn, vu cáo rằng “các nhà lãnh đạo Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải, TP Hà Nội tham nhũng rất nhiều từ dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông” (!)

Âm mưu, bộ mặt thật của những đối tượng này đã bộc lộ rõ nhất ở chỗ: Mỗi lần dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông gặp sự cố (tai nạn lao động, chậm tiến độ…) thì chúng “vui như mở cờ” vì có cớ để thổi phồng, chống phá; còn khi công trình triển khai thuận lợi, được đơn vị liên danh tư vấn độc lập của Pháp (ATC) cấp chứng nhận an toàn, chạy thử thành công, được toàn bộ 9/9 thành viên Hội đồng kiểm tra Nhà nước chấp thuận đồng ý kết quả nghiệm thu có điều kiện để đưa vào vận hành, khai thác thương mại (ngày 29-10 vừa qua) thì chúng lại vô cùng tức tối.

Bởi, thực tâm những đối tượng này chỉ mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông (và các công trình khác ở Việt Nam) trở thành phế tích để có cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta, chứ chúng hoàn toàn không xót gì tiền bạc của nhà nước và nhân dân, cũng không cần biết nỗi khổ của người dân khi đi lại khó khăn, giao thông ách tắc.

Chủ trương xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông là hoàn toàn đúng, nhưng quá trình triển khai thực hiện dự án có nhiều thiếu sót do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến dự án chậm tiến độ gần 6 năm và đội vốn hơn gấp đôi so với dự toán ban đầu. Điều này đã được Kiểm toán Nhà nước kết luận rõ ràng và Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội đã công khai giải trình từng vấn đề mà báo chí và nhân dân có ý kiến, nêu trách nhiệm cụ thể đối với từng thiếu sót.

Nếu công dân không đồng tình với những kết luận, giải trình đó, có bằng chứng về những sai phạm thì hoàn toàn có thể đề nghị, thậm chí tố cáo để các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, làm rõ theo đúng quy định của pháp luật. Đảng, Nhà nước ta luôn khuyến khích nhân dân phát huy vai trò giám sát và chủ động tố giác khi phát hiện những sai phạm, chứ không hề cấm đoán việc này; nếu có sai phạm thì Đảng, Nhà nước sẽ xử lý nghiêm như thực tiễn đã chứng minh.

Thế nhưng, việc một số đối tượng cố tình kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” với những lý do chỉ có tính suy diễn, quy chụp, vu khống (hoàn toàn không có cơ sở nào) là không thể chấp nhận, cần phải xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể có chuyện tùy tiện suy diễn, quy chụp, vu cáo người nào đó tham nhũng trong khi không có bằng chứng gì. Khi xem xét bất kỳ sự việc gì cũng phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, chứ không thể phiến diện, thành kiến, chủ quan, “vơ đũa cả nắm”, áp đặt ác ý, gây tổn hại danh dự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức, cá nhân.

Thiết nghĩ, việc kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” để nhằm mục đích gì, có lợi cho ai và gây thiệt hại cho ai thì tất cả những người có lương tri đều biết tỏng. Có những kẻ ra sức kêu gọi, chỉ mong người dân không đi tàu đó, để rồi lại có cớ rêu rao, phủ nhận hiệu quả của một chủ trương đúng, từ đó cho rằng việc quyết định làm tuyến đường này không phải vì sự đi lại thuận lợi của nhân dân, vì tiến bộ và văn minh đô thị mà vì… lợi ích nhóm (chúng hướng tới mục đích sâu xa là gây mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước).

Bên cạnh đó, cũng có một số người a dua, hùa theo bởi sự đi lại thuận lợi của nhân dân phần nào làm giảm thu nhập của họ. Đó là bản chất của vấn đề mà mọi người cần tỉnh táo nhận rõ để có thái độ, ứng xử đúng đắn, không mắc phải những mưu đồ đen tối gây tổn hại cho nhân dân, đất nước và phụ công sức, sự nỗ lực của bao người.

HUY QUANG

Vạch mặt âm mưu lật sử, xuyên tạc về Cách mạng Tháng Mười Nga

Ngày 7-11-1917, Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lenin và Đảng Bolshevik lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.

Đằng sau ánh hào quang đó, có nhiều phần tử thù địch, cơ hội chính trị đã tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga nhằm phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái sự phát triển của nhân loại theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Luận điệu của những kẻ “trở cờ”

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở đầu một thời đại mới-thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Mặc dù cuộc cách mạng có tầm ảnh hưởng rất lớn, có ý nghĩa vạch thời đại nhưng ngay khi đó, các học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng xuyên tạc, phủ nhận giá trị của nó. Họ cho rằng Cách mạng Tháng Mười chỉ là “vụ cướp chính quyền”, “cuộc cách mạng mạo danh”, là “sự chệch hướng lịch sử”... Có kẻ còn cáo buộc sự ra đời của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sau Cách mạng Tháng Mười là “quái thai của lịch sử”...

Nguy hại hơn, không chỉ có những kẻ đứng trên lập trường tư sản mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản Liên Xô cũng lên tiếng phủ nhận, xuyên tạc giá trị của Cách mạng Tháng Mười. Điển hình là A.Yakovlev-Trưởng ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản Liên Xô, người có vai trò là một trong những “kiến trúc sư” trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Trong những năm cải tổ, A.Yakovlev lộ rõ bản chất của một kẻ chống cộng với tuyên bố Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”.

Theo ông ta, vì Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử” nên cần phải xóa bỏ mọi sản phẩm ra đời từ “sai lầm” đó, bao gồm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa và toàn bộ lịch sử Liên Xô kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Đây thực chất là luận điệu “lật sử”, “trở cờ” của A.Yakovlev. Ông ta đã phản bội lại lịch sử của dân tộc, phản bội lại cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại mà chính ông ta đã từng tham gia.

Hơn 100 năm đã trôi qua nhưng chủ đề về Cách mạng Tháng Mười Nga chưa bao giờ “hạ nhiệt”. Có không ít kẻ cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Nhất là khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, họ lại được dịp hả hê, coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận giá trị của cuộc cách mạng này. Họ cho rằng việc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công hướng lái nước Nga theo con đường xã hội chủ nghĩa là trái với quá trình “lịch sử-tự nhiên” mà Karl Marx đã chỉ ra.

Gần đây, trên các diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những phần tử phản động, cơ hội chính trị, trong đó có Trần Quốc Quân-kẻ đã viết bài đăng trên BBC lên tiếng coi “Cách mạng Tháng 10 Nga thực chất là một cuộc bẻ ghi đường tàu, khiến một phần nhân loại rẽ sang “đường vòng”. “Đường vòng” mà chúng nhắc đến là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhiều nước đang hướng đến.

Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên bang Nga và lãnh đạo các phong trào cánh tả tham dự lễ kỷ niệm 104 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. (Ảnh: TTXVN).

Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”, các đối tượng này còn lên tiếng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội nói chung; rêu rao rằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga là “đẻ non”, “chín ép” và đã đến “hồi kết thúc”...

Bản chất của sự xuyên tạc ấy không chỉ nhắm vào một sự kiện lịch sử cụ thể mà sâu xa hơn nữa là phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cho thấy sự nguy hại lớn của những luận điệu xuyên tạc này vì nó gây ra sự xáo trộn về tư tưởng chính trị, hoài nghi về mục tiêu và phản bội lại lý tưởng cách mạng. Do đó, chúng ta không thể coi thường, xem nhẹ âm mưu, thủ đoạn tinh vi của những kẻ “lật sử”, “trở cờ”!

Sức sống trường tồn

Cho đến nay, mặc dù Cách mạng Tháng Mười Nga đã diễn ra hơn một thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn rất sâu đậm trong đời sống chính trị-xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của thế kỷ 20; trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã đáp ứng đầy đủ những yêu cầu cấp thiết của lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng một chế độ xã hội mới-chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Để có được thắng lợi vang dội đó, những người Bolshevik Nga dưới sự lãnh đạo của V.I.Lenin đã chuẩn bị về mọi mặt như chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự...

Dưới ánh sáng của “Luận cương tháng Tư” và sự chỉ đạo của V.I.Lenin, những người Bolshevik xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất cho toàn Đảng là phải lôi cuốn đông đảo giai cấp công nhân và nhân dân lao động về phía cách mạng; thành lập đội quân chính trị đông đảo đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản cách mạng; thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị và chủ động đối phó với sự thay đổi của tình hình. Do đó, không thể nói thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự “ăn may” mà nó được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng và hội tụ đầy đủ cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi.

Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lenin và Đảng Bolshevik Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất” được ban hành ngay sau khi cách mạng thành công đáp ứng được ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc.

Sự thống nhất về mặt lợi ích của giai cấp vô sản với nhân dân lao động đã hình thành và phát triển một nguyên tắc đạo đức mới, đó là chủ nghĩa tập thể. Vì thế, những luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga là “cuộc bẻ ghi đường tàu”, “đưa một phần nhân loại vào đường vòng”, vào “khúc quanh của lịch sử” là hoàn toàn phiến diện, xuất phát từ dã tâm của những kẻ cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử và chống phá sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân Liên Xô.

Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào cách mạng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang ở bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong thế giới” .

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga; luôn kiên định với con đường cách mạng vô sản mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã lựa chọn. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ 20, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” 

Sự kiên định đó cũng chính là tình cảm, là niềm tin dành cho Cách mạng Tháng Mười Nga và là luận cứ để phản bác những luận điệu của những kẻ cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng này.

TS LÊ THỊ CHIÊN, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Luận điệu suy diễn quy định mới về những điều Đảng viên không được làm

Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1/11/2011 trước đây.

Ảnh minh họa

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37, từ đó suy diễn, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng.

Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”!

Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định 37. Họ tự cho mình vai trò “phán xét”, viện dẫn ý kiến của đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Điển hình như đối tượng Nguyễn Vũ Bình (từng có thời gian công tác tại một tạp chí ở Việt Nam) suy diễn trên RFA rằng: “Chắc chắn là không thể kiểm soát được, những quy định cấm đảng viên người ta đưa ra chỉ là những chiêu bài chứ nó không có hiệu quả trong thực tế”. Hay đối tượng Nguyễn Huy Vũ cũng “tát nước theo mưa”, xuyên tạc: “Mục đích duy nhất hiện nay chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị, đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản chỉ vì những lý tưởng thơ ngây”. Xuyên tạc những nội dung mới, số này tập trung khoét sâu vào một số quy định như cấm đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, cấm chuyển tài sản hay cấm thực hiện các giao dịch tài sản ở nước ngoài nhằm quy kết, rêu rao là vi phạm Hiến pháp…

Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

 

Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn.

Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Mỗi người khi vào Đảng đều phải rèn luyện, phấn đầu vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định, trung thành nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng… Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị.

Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay.

Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình.

Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Mặt khác, việc tăng cường kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh, khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng đảng viên. Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Nhiều tổ chức Đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, sửa đổi lề lối, phong cách, tác phong làm việc; nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Lê Thế Cương - Báo CAND

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

Người “truyền lửa” phải thực sự có “lửa”

“Bệnh” ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Trung ương đã chỉ ra. Đây cũng là một thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngại học lý luận chính trị, trong đó có những bất cập trong công tác giảng dạy hiện nay...

Bất cập thứ nhất là không ít người làm công tác giảng dạy lý luận chính trị chưa thực sự say nghề, chưa đầu tư nhiều trí tuệ, công sức vào việc chính của mình nên kiến thức chưa sâu, chưa đủ tầm để phân tích, chứng minh nội dung một cách thuyết phục; phương pháp truyền đạt chủ yếu là... đọc theo giáo án (hoặc có trình chiếu Powerpoint nhưng... toàn chữ như giáo án), người học chép mỏi tay! Kiểu giảng dạy như vậy khiến người học rất chán.

Cần làm gì để giảng viên lý luận chính trị thực sự say nghề, giỏi nghề? Trong rất nhiều giải pháp như: Lựa chọn người giỏi lý luận, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ... thì vấn đề có tính quyết định là phải thực sự quan tâm, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích, tạo động lực cho những người làm công tác này. Người xưa đã dạy “có thực mới vực được đạo”.

Giáo dục lịch sử, truyền thống ở Sư đoàn 308, Quân đoàn 1. Ảnh: THẾ DUY.

Thực tế những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị chỉ có thu nhập từ lương, phụ cấp (vì ít có dạy thêm, làm thêm); trong khi những cán bộ tuổi đời, trình độ tương đương (thậm chí thấp hơn, là học trò) thì có chức quyền và cuộc sống khấm khá... đã tác động không nhỏ tới động lực phấn đấu của không ít giảng viên, nhất là giảng viên trẻ.Thậm chí, có những thầy vốn rất tâm huyết, giỏi về lý luận chính trị, nhưng bị áp lực, nỗi lo "cơm áo, gạo tiền, đặc biệt là chuyện nhà đất"... khiến dần giảm nhiệt huyết. Người “truyền lửa” mà “thiếu lửa” thì không thể “tiếp lửa” cho người học. Chưa kể, điều rất đáng lo ngại là có những thầy còn bột phát “buông” lời thể hiện sự tủi thân, bất mãn trước học viên.

Bất cập thứ hai là nhiều giảng viên lý luận chính trị thiếu kiến thức thực tiễn nên ít có ví dụ, tình huống thực tế để liên hệ, chứng minh, vận dụng nội dung lý luận, khiến nội dung giảng dạy khô cứng, người học khó tiếp thu. Nhiều ví dụ cũ từ hàng chục năm trước được thầy nêu ra không còn phù hợp với hiện thời. Được biết, các học viện, nhà trường đều có quy định cử giảng viên lý luận chính trị đi thực tế, nhưng vì thời gian ngắn nên chưa nắm bắt được nhiều. Đặc biệt, việc đi thực tế ở nước ngoài thì... vô cùng hiếm, trong khi nhiều thầy phải giảng dạy các nội dung trực tiếp liên quan đến thực tế ở các nước.

Một trong những yêu cầu của nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị là phải gắn với thực tiễn, chống lý thuyết suông. Vì vậy, cần tăng cường tổ chức cho đội ngũ giảng viên dạy lý luận chính trị đi thực tế cơ sở, luân chuyển làm cán bộ, nhân viên ở các cấp; cử đi công tác, tìm hiểu ở nước ngoài để phục vụ giảng dạy những nội dung liên quan... Bên cạnh đó, các học viện, nhà trường cần tăng cường mời chuyên viên, chuyên gia, nhà lãnh đạo có trình độ lý luận gắn với kiến thức thực tiễn tham gia giảng dạy một số nội dung cho phong phú, sinh động, hấp dẫn người học...

Bất cập thứ ba là nội dung giảng dạy lý luận chính trị có sự trùng lặp ở các cấp học (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và một số nội dung trùng giữa các bộ môn, khiến người học ở các cấp học sau, môn học sau có cảm giác phải học lại, giảm hứng thú. Bên cạnh đó, khá nhiều giảng viên kết cấu bài giảng nặng về giải thích các khái niệm, các quan điểm liên quan và những nội dung có tính hàn lâm; trong khi thời gian dành cho bài giảng có hạn nên đến phần trọng tâm của bài mà người học rất cần (gồm những quan điểm, vấn đề cốt lõi và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn công tác) thì thầy lại giảng lướt hoặc nhắc học viên tự nghiên cứu tài liệu vì đã hết giờ lên lớp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo rà soát lại các giáo trình lý luận chính trị để hạn chế sự trùng lặp giữa các cấp học, môn học. Các học viện, nhà trường cần rà soát nội dung bài giảng, giáo án theo hướng tăng cường phần liên hệ, vận dụng lý luận vào thực tiễn; giảm những khái niệm không cần thiết (nhất là khi giảng dạy cho học viên trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Vì những khái niệm đơn giản thì cơ bản đối tượng này đã nắm được) và giảm những nội dung nặng tính hàn lâm (chỉ những người nghiên cứu chuyên sâu về lý luận mới cần học kỹ nội dung này).

Bất cập thứ tư là không ít giảng viên lý luận chính trị thiếu nghiệp vụ sư phạm, giảng với giọng đều đều, động tác và lời giảng không có điểm nhấn, thiếu sinh động dẫn đến người học dễ... buồn ngủ! Nội dung lý luận chính trị vốn khô khan mà người giảng không có phương pháp sư phạm tốt thì không thể tạo hứng thú cho học viên, người học rất khó tiếp thu. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên lý luận chính trị, các học viện, nhà trường cần xem xét chuyển những giảng viên không thể có phương pháp sư phạm tốt (do cố tật, sở đoản) sang làm việc khác phù hợp hơn. Bên cạnh đó, một giải pháp hiệu quả các trường cần vận dụng là tổ chức ghi hình những bài giảng mẫu của giảng viên giỏi rồi trình chiếu cho học viên xem, sau đó tổ chức nghiên cứu, thảo luận...

Bất cập thứ năm cần sớm khắc phục là tình trạng chưa coi trọng phát huy sự chủ động, tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học; quá trình giảng dạy lý luận thường thông tin một chiều kiểu thầy nói-trò nghe và thầy đọc-trò chép; giảng viên ít gợi mở để người học suy nghĩ, phát biểu ý kiến của mình dẫn đến người học thụ động, không hưng phấn. Cùng với đó, thời gian dành cho thảo luận còn ít nên số học viên được phát biểu không nhiều, những ý kiến phản biện chưa có điều kiện làm rõ, phần vì hết thời gian, phần vì không phải giảng viên nào cũng có khả năng giải thích, kết luận rõ ràng, thuyết phục. Thực tế, sau giờ thảo luận vẫn có những học viên băn khoăn, thắc mắc vì chưa được giảng viên giải đáp thỏa đáng, nhất là với những vấn đề thực tế đang diễn ra đã có những điểm khác so với nội dung giáo trình, giáo án. Vì vậy, việc giảm thời gian giảng dạy, tăng thời gian cho học viên nghiên cứu, trao đổi, thảo luận và người dạy kết luận rõ ràng, thuyết phục đối với từng nội dung là rất cần thiết để tránh hiện tượng sau khi học xong mà học viên vẫn còn băn khoăn, chưa “tâm phục, khẩu phục”.

Cuối cùng là thời gian học lý luận chính trị cũng cần nghiên cứu điều chỉnh cho hợp lý, không nên tổ chức học tập trung kéo dài và học theo kiểu “nhồi nhét” dẫn đến người học căng thẳng, hiệu quả không cao. Việc đào tạo lý luận chính trị ở bậc trung, cao cấp cần theo hướng gợi ý, nêu vấn đề và gửi các tài liệu cần thiết để người học tự nghiên cứu trước; các buổi học tập trung chủ yếu dành cho thảo luận, giải đáp những nội dung khó mà người học chưa hiểu rõ. Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học lý luận chính trị nên theo hướng đề mở, đưa ra các tình huống thường gặp, người học vận dụng kiến thức đã tích lũy được để giải quyết; hạn chế tối đa kiểu kiểm tra học thuộc lòng lý thuyết và không nên yêu cầu viết bài kiểm tra quá dài (kể cả viết bài thu hoạch, tiểu luận, luận văn); cần khuyến khích học viên hiểu bản chất vấn đề lý luận và biết vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác.

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải học lý luận chính trị, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, đường lối và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên, để cán bộ, đảng viên nói riêng và người học nói chung không ngại học lý luận chính trị thì rõ ràng những bất cập trong công tác giảng dạy lý luận chính trị cần phải được khắc phục. Đặc biệt, việc quan trọng nhất là cần quan tâm chăm lo, có chính sách thỏa đáng để tạo động lực cho đội ngũ giảng viên luôn tâm huyết với nghề, đồng thời thu hút người giỏi làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, vì người “truyền lửa” có làm tốt vai trò “tiếp lửa” thì người học mới nắm chắc, thấm nhuần lý luận và biết vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác. Đó cũng là một trong những giải pháp hàng đầu phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

LÂM SƠN - DIỆP ANH - Báo QĐND

Lê Văn Thương - từ kẻ vô kỷ luật đến chống phá đất nước

Thời gian gần đây, một số đối tượng vì bất mãn, hám lợi đã bị các phần tử xấu, các tổ chức phản động dụ dỗ, lôi kéo thực hiện những hành vi sai trái, chống phá đất nước.

Mặc dù đã chạy trốn ra nước ngoài, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, nhưng các đối tượng này vẫn ngoan cố lợi dụng không gian mạng tán phát thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ chính quyền khiến dư luận hết sức bất bình.

Một trong số đó là Lê Văn Thương, kẻ vô kỷ luật, thoái hóa biến chất, hiện đang bị cơ quan công an truy nã với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

Đối tượng Lê Văn Thương

Lê Văn Thương (sinh năm 1988 tại Quảng Ngãi) từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện để phấn đấu trưởng thành, nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng, nhiều lần vi phạm kỷ luật. Mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.

Thương được cho phục viên về quê mở xưởng mộc. Lẽ ra, nếu giữ gìn bản lĩnh và nhân cách, Thương có thể làm lại cuộc đời, sửa chữa sai lầm bởi xưởng mộc của Thương cũng khá đông khách. Nhưng Thương lại bị kích động, lôi kéo, bỏ trốn ra nước ngoài và lên mạng xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, quân đội.

Với giọng điệu ngông cuồng của kẻ thoái hóa biết chất, Lê Văn Thương còn tuyên bố thành lập lực lượng hòng thay đổi chế độ ở Việt Nam. Mặc dù chỉ được ở trong quân ngũ thời gian ngắn, nhưng Lê Văn Thương đã ảo tưởng tuyên bố có thể chỉ huy những đội quân lớn, có thể làm thay đổi tình hình đất nước.

Trước những hoạt động chống phá đất nước, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an tỉnh Quảng Ngãi phát lệnh truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động, kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Sau khi bỏ trốn ra nước ngoài, Lê Văn Thương tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi khi núp bóng các thế lực phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Để được các thế lực ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Lê Văn Thương đã tạo lập các tài khoản trên không gian mạng để xuyên tạc, nói xấu tình hình đất nước. Trên tài khoản facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, Lê Văn Thương đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội khi liên tục phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt.

Chính Lê Văn Thương đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chọn con đường quay lưng lại với trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây. Nhiều đồng đội đau xót cho Thương chỉ vì thiếu bản lĩnh mà sa ngã. Đó là bài học đắt giá về việc rèn luyện, giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nếu không tu dưỡng, rèn luyện có thể sa ngã, thậm chí từ tự diễn biến tự chuyển hóa chuyển rất nhanh sang tiếp tay cho thế lực thù địch.

THANH SƠN - Báo QĐND VN

Đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự

Các thế lực chống phá tìm cách đánh tráo bản chất các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó kêu gọi Nhà nước Việt Nam cần “huỷ bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự”.

Ảnh minh họa

Pháp luật là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội loài người, phản ánh ý chí của Nhà nước, giai cấp thống trị. Sự xuất hiện của Nhà nước hay nói cách khác là giai cấp cầm quyền cũng chính là nguyên nhân cho sự ra đời của pháp luật, hoạt động quản lý Nhà nước bằng pháp luật dựa trên ý kiến tổng hợp, đóng góp của người dân, từ đó đưa ra các qui định chung điều chỉnh, quản lý xã hội. Như vậy, pháp luật ra đời gắn liền với lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của những người dân trong xã hội đó. Pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mang lại lợi ích chung cho toàn dân tộc. Thế nhưng, đi ngược lại với lợi ích của đại đa số người dân, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước tìm cách tác động, hướng lái, tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ một số điều trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm thay đổi bản chất, giá trị; bình luận sai lệch một số điều luật và sự điều hành, quản lý xã hội của Nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trước khi diễn ra phiên tòa phúc thẩm xét xử các đối tượng Cấn Thị Thêu (SN 1962, thường trú tại Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội); Trịnh Bá Tư (SN 1989, trú tại Đại Đồng, Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117 BLHS, các đối tượng phản động, chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ điều luật này. Không chỉ riêng Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, mà một số đối tượng như Phạm Chí Dũng (SN 1966, quê Đồng Tháp, thường trú tại phường 1, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn Công Em (SN 1971, cư trú tại Mỹ Thạnh, Giồng Trôm, Bến Tre), Nguyễn Tường Thụy (SN 1950, cư trú tại Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội), Nguyễn Thị Cẩm Thúy (SN 1976, thường trú tại Cam Thành Bắc, Cam Lâm, Khánh Hòa)… cũng đã vi phạm quy định của điều luật trên và cơ quan chức năng đã và đang tiến hành các biện pháp tố tụng theo đúng quy định của pháp luật để xử lý hành vi phạm tội.

Chính vì những “tổn thất” trong hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, các đối tượng chống đối trong, ngoài nước ra sức đòi yêu sách với đề nghị xóa bỏ Điều 117, BLHS.

Các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS trong thời gian qua được các đối tượng phản động, chống đối tuyên truyền rộng khắp, đặc biệt là trên không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin tuyên truyền, đưa ra các lý lẽ yêu cầu Việt Nam xóa bỏ điều luật này. Điều 117, BLHS quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung từ Điều 88 BLHS năm 1999 với một số điểm mới về tên điều luật, nội dung điều luật theo hướng qui định cụ thể hơn và mở rộng phạm vi khách quan của tội này. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLHS nói chung, Điều 88 của BLHS cũ nói riêng nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, các mặt khách quan trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Trước đó, Điều 88 BLHS năm 1999 cũng là điều luật mà các đối tượng chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, yêu cầu xóa bỏ. Sau khi điều luật này được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo Điều 117, BLHS 2015 thì các phần tử chống đối cũng không từ bỏ âm mưu, mà tiếp tục “bài ca” kêu gọi xóa bỏ nhằm đạt được âm mưu, ý đồ chống phá Nhà nước với mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Liên quan đến hoạt động kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, Đài RFA (Đài Á Châu Tự do) dẫn lời của Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cùng một số đối tượng chống đối trong nước vu cáo rằng Điều 117, BLHS là “mơ hồ, dập tắt tiếng nói trái chiều”.  Trước đó, diễn đàn “Văn Việt” cũng đã đăng tải một bức thư của nhóm hành nghề luật sư ở hải ngoại kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS với nội dung qui kết rằng: “Điều 117  vi phạm Hiến pháp và đang sử dụng như là một phương tiện trấn áp nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị dưới danh nghĩa luật pháp quốc gia…”. Đặc biệt, khi “nghe tin” phiên tòa xét xử các bị cáo Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang sắp diễn ra, số thành phần bất mãn, chống đối chính trị trong, ngoài nước lại tiếp tục kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS với luận điệu “Điều 117 là hạn chế và cản trở quyền công dân qui định tại điều 25 Hiến pháp…”. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các đối tượng chống phá Nhà nước không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xóa bỏ Điều 117, BLHS để đạt được các mục tiêu, ý đồ phá vỡ quy tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy hoạt động lợi dụng “quyền tự do ngôn luận” để tuyên truyền chống phá chế độ, tạo tiền đề, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vậy, câu hỏi đặt ra, tại sao các đối tượng phản động, chống phá lại kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS?

Kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, các đối tượng phản động, chống phá nhằm tác động trực tiếp đến nền tư pháp Việt Nam. Các lập luận, quan điểm xóa bỏ Điều 117, BLHS nhằm tạo ra kẽ hở về mặt pháp lý cho các phần tử phản động, chống phá có thời cơ để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Có thể nói rằng, muốn có cơ hội cho hoạt động tuyên truyền, tán phát các tài liệu chống phá Nhà nước mà không bị các cơ chế pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên các đối tượng cần phải kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS cũng là lý do để tuyên truyền, xuyên tạc, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, can thiệp vào quyền “tự do ngôn luận” nói lên tiếng nói của công dân. Các hoạt động kêu gọi xóa bỏ điều luật nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng chống phá nhà nước tuyên truyền, can thiệp vào các lĩnh vực nhạy cảm của đời sống xã hội của Việt Nam trong vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những mục tiêu mà các đối tượng phản động, chống đối đặt ra là có thời cơ, điều kiện thuận lợi để tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, mọi hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống phá là một đòi hỏi phi lý, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Phải khẳng định rằng, Điều 117, BLHS nói riêng, BLHS nói chung được ban hành hoàn toàn hợp hiến, không vi hiến như các đối tượng chống đối vẫn tuyên truyền, xuyên tạc. Việc thảo luận, lấy ý kiến trước khi ban hành điều luật này dựa trên các căn cứ, cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành, của toàn xã hội và tuân theo một quy trình rất chặt chẽ, đồng thời nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, ngoại trừ các đối tượng có mục đích, ý đồ xấu. Các dấu hiệu, hành vi liệt kê trong Điều 117, BLHS đe dọa đến an ninh quốc gia, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, việc ban hành điều luật này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, không thể cho rằng Điều 117, BLHS là “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, bởi lẽ trên thực tế ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ và đó cũng là quyền cơ bản của công dân theo qui định của Hiến pháp. Tuy nhiên, ở đây cần phải hiểu rằng, quyền tự do ngôn luận luôn gắn với nghĩa vụ của công dân, gắn với chế độ chính trị của từng quốc gia, do đó cần phải hiểu đúng các qui định về vấn đề này. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có các giới hạn, quy định riêng về các quyền tự do ngôn luận để phù hợp với đặc thù của chế độ xã hội, tình hình chính trị, văn hóa của các quốc gia đó. Bàn về vấn đề này, năm 1993, Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Vienna (Áo), đại diện các quốc gia đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo”…

Các lập luận, viện dẫn các thông tin cho rằng Điều 117, BLHS “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận” là hoàn toàn không có cơ sở, thiếu căn cứ để ràng buộc. Rõ ràng, đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống đối nhằm hướng đến mục đích, ý đồ xâm phạm an ninh quốc gia, đe dọa đến sự tồn tại của chế độ, của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Nguyễn Huân (Học viện ANND)


Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...