Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

NHẬN DIỆN MỐI QUAN HỆ BA BÊN GIỮA NHÀ NƯỚC, THỊ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 TCCS - Để có thể phát triển nhanh, bền vững đất nước, quản lý phát triển xã hội một cách hợp lý, có hiệu quả, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương nhận diện rõ và xây dựng cơ chế phù hợp, bảo đảm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Trong quá trình ấy, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay, cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cần nghiên cứu một cách có hệ thống, nhận diện rõ mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam hiện nay, tạo cơ sở khoa học cho những biện pháp xử lý hài hòa, phát huy được những mặt tích cực của mối quan hệ này và phòng, tránh được những hệ lụy tiêu cực phái sinh.

Để có thể phát triển nhanh, bền vững đất nước, quản lý phát triển xã hội một cách hợp lý, có hiệu quả cần nhận diện rõ và xây dựng cơ chế phù hợp, bảo đảm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thị sát công trình xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 (metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên)_Nguồn: baochinhphu.vn

Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội - một trong những quan hệ lớn cần được nhận diện, xử lý tốt trong giai đoạn phát triển mới

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu tiên xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, gồm: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XII của Đảng điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó, Đảng ta đã bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường” thành mối quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”, chính thức coi đây là mối quan hệ lớn thứ chín trong những mối quan hệ lớn cần được nhận diện, nghiên cứu có hệ thống trên bình diện lý luận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, cơ chế tác động, mối quan hệ giữa Nhà nước với xã hội, giữa thị trường với xã hội hay quan hệ ba bên giữa ba chủ thể này ở Việt Nam lại khá phức tạp, là vấn đề khoa học mới mẻ, chưa được nghiên cứu chuyên sâu.

Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ lớn, cơ bản, đòi hỏi phải giải quyết hài hòa trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết tốt mối quan hệ này cũng chính là góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững; đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI. Nhận thức ngày càng rõ hơn về vị trí, vai trò và ý nghĩa của mối quan hệ này, Đảng ta nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc nhận diện, nhận thức lại cơ cấu, chức năng để xử lý hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong điều kiện mới. Hội nghị Trung ương 5 khóa XII yêu cầu: “Xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ của Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng”(1).

Đánh giá chung về 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2030, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Về nhận thức lý luận, mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa, phát triển với những nhận thức quan trọng…; đổi mới phương thức vận hành của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; hoàn thiện mô hình tổ chức của Nhà nước,… coi trọng kiểm soát quyền lực nhà nước; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân”(2). Đồng thời, dự kiến bổ sung thêm mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là mối quan hệ thứ mười và lưu ý trong nhận thức và giải quyết các quan hệ lớn, cần chú trọng hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữ vững độc lập, tự chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Nhận thức bước đầu về mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội

Trên thực tế, mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam hiện nay là mối quan hệ bất đối xứng, được quản lý, xây dựng, hoàn thiện nhằm góp phần phát triển nhanh, bền vững đất nướcCó quan điểm cho rằng, mối quan hệ ba bên này là mối quan hệ ba bên đồng đẳng, cân bằng, ngang bằng theo kiểu “chủ nghĩa bình quân” và sơ đồ hóa thành một tam giác cân. Quan niệm về mối quan hệ ba bên đều nhau như vậy có lẽ là không thực sự phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn. Cần thấy rằng, theo cách tiếp cận lý thuyết hệ thống tổng quát, lý thuyết cấu trúc - chức năng và lý thuyết vị thế - vai trò xã hội, mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ ba bên bất đối xứng. Bởi vì, trong mối quan hệ này, Nhà nước có vị trí, vai trò của cả một hệ thống tổ chức nhà nước gồm các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương để thực hiện quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, thị trường chủ yếu có vị trí, vai trò định hướng, quy định và điều tiết hành vi, hoạt động trao đổi, mua bán, giao dịch của các bên tham gia thị trường, trong đó “Nhà nước” dưới hình thức tổ chức là các cơ quan nhà nước và xã hội dưới hình thức là các công dân, “người dân” có thể đóng vai người mua, người tiêu dùng và cả người cung cấp những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhất định. Mối quan hệ ba bên bất đối xứng thể hiện ở chỗ, “xã hội” dưới hình thức biểu hiện cụ thể là “người dân” có vị trí, vai trò của người làm chủ đất nước, vừa có quyền lực vừa có trách nhiệm tham gia quản lý xã hội, quản lý phát triển xã hội, thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật và các chính sách của Nhà nước.


Nhà nước cần vận dụng các quy luật của thị trường và thể chế hóa các quy định để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển (Trong ảnh: Công nhân trên dây chuyền lắp ráp tại nhà máy ô tô Vinfast ở Hải Phòng)_Ảnh: Tư liệu


Mối quan hệ ba bên bất đối xứng này được định hướng phát triển dưới sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, chính sách, với sự lãnh đạo của Đảng, sự tham gia của người dân và sự ủng hộ của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân. Điều đặc biệt quan trọng ở đây là, trong quản lý sự phát triển xã hội, Nhà nước cần vận dụng các quy luật của thị trường và thể chế hóa các quy định để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân phát triển; đồng thời, Nhà nước liên tục đổi mới và hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực quản lý nhà nước theo quy luật thị trường và xu thế dân chủ hóa, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước. Thị trường với các quy luật của nó có thể và cần phải được vận dụng một cách phù hợp để góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực, nâng cao được chất lượng và hiệu quả hành vi, hoạt động của các cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức và cả cơ quan quản lý nhà nước.

Mối quan hệ ba bên bất đối xứng này phụ thuộc rất nhiều vào vị trí, vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội và chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế - xã hội trong nước và bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam với thế giới.

“Nhà nước” - vị trí, vai trò và giới hạn

Khái niệm “Nhà nước”: Theo nghĩa chung nhất, nhà nước là một thiết chế quyền lực đặc biệt được thiết lập trong phạm vi lãnh thổ nhất định để duy trì trật tự xã hội và thực thi chủ quyền quốc gia; có bộ máy cai trị và quản lý xã hội; có quyền ban hành luật pháp, thu thuế, xét xử. Nhà nước tồn tại, hoạt động dựa trên quyền lực nhà nước, bản chất của nó chính là quyền lực chính trị được biểu hiện dưới hình thức quyền lực công. Nguồn gốc của quyền lực nhà nước là do dân ủy quyền. Tuy nhiên, nhân dân không ủy quyền toàn bộ quyền lực của mình cho nhà nước, mà chỉ ủy quyền cho nhà nước những việc mà nhân dân không thể tự mình làm được, giữ lại cho mình những quyền có thể làm tốt hơn nhà nước để tự quản cuộc sống và thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài xã hội sau khi đã ủy quyền.

Ở Việt Nam hiện nay, theo nghĩa rộng, Nhà nước là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo nghĩa hẹp, Nhà nước là hệ thống các cơ quan chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương các cấp thực hiện quyền hành pháp. Theo nghĩa hẹp này, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương có khả năng cụ thể hóa các đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong quản lý sự phát triển xã hội.

Tuy nhiên, ở đây, cần phải “bóc tách” và nhận diện rõ hơn các phương diện khác nhau của Nhà nước: 1- Là chủ thể quản lý có quyền ban hành luật pháp, thể chế, chính sách và sử dụng các công cụ, nguồn lực để can thiệp vào thị trường và xã hội; 2- Là chủ thể trên thị trường thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước, phải bình đẳng trước pháp luật, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường; 3- Là nhà đầu tư công, nguồn lực nhà nước được đầu tư, phân bổ không chỉ theo chiến lược, kế hoạch, quy hoạch mà còn phải theo cơ chế thị trường để dẫn dắt đầu tư tư nhân, tối đa hóa hiệu quả, nhất là đầu tư phát triển các dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công; 4- Là đối tác của doanh nghiệp trong các hợp đồng đối tác công tư, các đại diện của nhà nước phải có pháp nhân công đủ thẩm quyền để đàm phán, ký kết và đặt mình bình đẳng với doanh nghiệp, nếu sai phạm hợp đồng đều phải chấp nhận tranh tụng và chấp hành phán quyết công bằng của tòa án; 5- Là “hộ tiêu dùng” lớn nhất, mua sắm của Chính phủ cũng phải vận dụng các nguyên tắc cạnh tranh của thị trường, bảo đảm quyền tiếp cận của tư nhân, các tổ chức xã hội đối với các gói đấu thầu mua sắm công, các đơn đặt hàng cung ứng dịch vụ công; 6- Là trọng tài phân xử các tranh chấp trên thị trường và xã hội, cơ quan tư pháp phải thật sự độc lập, công tâm, minh bạch, đề cao công lý.

Vị trí và vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ ba bên: Xuất phát từ nội hàm khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, có thể thấy, Nhà nước luôn đứng ở vị trí tầm cao để thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với sự phát triển của đất nước, trong đó có sự tham gia của “thị trường” và “xã hội” và nhiều thành phần khác. Nhà nước có vị trí và vai trò thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất đối với thị trường, xã hội và mối quan hệ giữa thị trường và xã hội bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trong mối quan hệ ba bên này, cả thị trường và xã hội đều không thực hiện quyền lực nhà nước và có vị trí, vai trò khác hẳn và do vậy, khó có thể ngang bằng, cân bằng khi so sánh với Nhà nước.

Giới hạn và “khiếm khuyết” của nhà nước: 1- Thể chế, chính sách thiên vị vẫn thường xảy ra khi nhà nước chịu tác động bởi “nhóm trục lợi” hướng lái chính sách để giành lợi ích cho nhóm này mà hy sinh lợi ích của nhóm khác; 2- Phân bổ nguồn lực vụ lợi vẫn xảy ra đối với những nhà nước không thật sự tôn trọng quy luật của kinh tế thị trường trong phân bổ nguồn lực, sử dụng thô bạo quyền lực nhà nước khi phân bổ nguồn lực; 3- Đặc quyền, đặc lợi và tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của mọi nhà nước, nhưng nhìn chung, các nhà nước sở hữu và nắm quá nhiều quyền hành phân bổ nguồn lực thì tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng sẽ nghiêm trọng hơn; 4 - Tính khó lường phản ứng của thị trường. Thông tin về tình hình thị trường, tương tác trên thị trường và diễn biến thị trường rất khó lường để Nhà nước có thể ra quyết định được kịp thời và sát hợp; 5- Nhà nước khó thỏa mãn nhu cầu xã hội rất đa dạng, cụ thể của các cộng đồng xã hội vi mô. Do giới hạn thông tin và nguồn lực nên Nhà nước chỉ tập trung cho những nhu cầu cơ bản, thiết yếu, còn không ít nhu cầu đa dạng, cụ thể, trực tiếp, thậm chí là “sát sườn” của người dân lại dễ bị “bỏ sót”, nhất là với các tầng lớp yếu thế.

“Thị trường” - vị trí và vai trò; một số đặc điểm, biến đổi mới và “khuyết tật”

Khái niệm “thị trường”: Theo nghĩa chung nhất, thị trường là nơi diễn ra quan hệ trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Bản thân khái niệm “thị trường” (Market) đã trải qua một quá trình nhận thức lâu dài từ nhận thức trực quan, sinh động đến tư duy trừu tượng và trở lại vận dụng trong thực tiễn quản lý sự phát triển xã hội. Một cách trực quan, thị trường như một cái chợ, một cửa hàng, một siêu thị, là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Một cách trừu tượng, thị trường là hệ thống các thể chế, cơ chế, cấu trúc, quá trình, quan hệ xã hội, mà thông qua đó, các bên liên quan tham gia, tiến hành hoạt động trao đổi, mua bán và giao dịch.

Mua bán hàng hóa tại Trung tâm thương mại (Ảnh: Tư liệu)


Cơ chế thị trường: là quá trình tương tác giữa các chủ thể kinh tế để hình thành giá cả, phân bổ nguồn lực, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất. Cơ chế thị trường là cách tự phân bổ nguồn lực một cách tối ưu, với giá là trục xoay của thị trường phát tín hiệu; trên cơ sở đó, nhà sản xuất đưa ra quyết định đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Các quy luật của thị trường: Với nghĩa là hệ thống các thể chế, thị trường là hệ thống các quy luật có khả năng định hướng, điều chỉnh hành vi, hoạt động của các bên tham gia thị trường. Quy luật thị trường là mối quan hệ phổ biến nảy sinh và thể hiện một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Các quy luật này quy định, chi phối hành vi, hoạt động của người mua và người bán, buộc những người này phải tuân thủ nếu không sẽ bị loại khỏi thị trường hoặc bị thị trường trừng phạt một cách phù hợp. Cần nhận thức rõ hơn một số quy luật cơ bản của thị trường là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh và cho dù dưới bất kỳ hình thức biểu hiện nào thì thị trường, với các quy luật tự nhiên của nó, luôn có khả năng định hướng, quy định và điều chỉnh hành vi, hoạt động của người mua và người bán tham gia thị trường để trao đổi, mua bán và giao dịch đối với các hàng hóa, dịch vụ nhất định.

Đặc điểm và những biến đổi mới: Các loại thị trường hiện đại đều có chung một số đặc điểm và những biến đổi mới có thể làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá và ứng phó đối với thị trường. Thứ nhất, thị trường hiện đại lấy đồng tiền làm vật trung gian để định giá và trao đổi, theo đó bên bán cung cấp hàng hóa, dịch vụ và nhận lại số tiền theo giá trị trao đổi từ bên mua. Thứ hai, trong thị trường hiện đại, nhiều loại hàng hóa, dịch vụ mới xuất hiện và chiếm vị trí trung tâm thúc đẩy phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Đó là sức lao động trở thành hàng hóa và thị trường lao động, việc làm trở thành một loại thị trường có vị trí và vai trò ngày càng quan trọng đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động giáo dục, đào tạo của xã hội. Đồng thời, đồng tiền cũng trở thành một loại hàng hóa dưới hình thức “tư bản tài chính”, “vốn tài chính” và gắn liền với nó là các dịch vụ tài chính, ngân hàng và thị trường vốn, thị trường tài chính, tín dụng xuất hiện và phát triển rất mạnh trong xã hội hiện đại. Thứ ba, với sự xuất hiện các tiến bộ khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ truyền thông hiện đại, như máy tính nối mạng, Internet, điện thoại thông minh… dẫn tới nhiều hình thức giao dịch mới cũng xuất hiện trên thị trường và tương ứng, có nhiều loại thị trường giao dịch mới xuất hiện và chi phối hoạt động của mọi thành viên trong xã hội, bao gồm cả các cơ quan nhà nước và người dân. Ví dụ, trong xã hội hiện nay đã xuất hiện và vận hành “chính phủ điện tử”; trong đó, một phần các dịch vụ công được thực hiện thông qua hệ thống các máy móc thiết bị điện tử nối mạng làm tăng hiệu quả quản lý, chất lượng phục vụ và sự hài lòng đối với người sử dụng và các bên liên quan. Thứ tư, bất kỳ một sự biến đổi nào của thị trường đều ảnh hưởng nhiều chiều đến toàn bộ hệ thống các thị trường và ảnh hưởng lan tỏa đến sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Do vậy, điều quan trọng và cần thiết đối với lãnh đạo, quản lý xã hội là phải kịp thời nắm bắt những biến đổi của thị trường để phát huy những ảnh hưởng tích cực thúc đẩy phát triển xã hội và kiểm soát những biến đổi tiêu cực cản trở sự phát triển xã hội. Thứ năm, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chi phối hành vi kinh doanh của các chủ thể trên thị trường không chỉ là lợi nhuận mà cả giá trị xã hội, các lợi ích công cộng được tiêu chuẩn hóa trong cam kết đầu tư (như tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn nhân quyền, quyền công đoàn của người lao động…); mọi tranh chấp trên thị trường được ứng xử một cách văn minh qua phân xử và phán quyết của toà án; tính tự phát của thị trường, xung đột lợi ích giữa người tiêu dùng với người sản xuất được giảm thiểu thông qua điều tiết của các hiệp hội ngành nghề, cân bằng thông tin giữa các tổ chức xã hội đại diện cho lợi ích người tiêu dùng và người sản xuất.

Vị trí và vai trò của thị trường trong mối quan hệ ba bên: Theo nghĩa hẹp, “thị trường” có thể được nghiên cứu, khảo sát thông qua khái niệm “doanh nghiệp tư nhân”, bởi lẽ đây là một chủ thể tiêu biểu, điển hình của thị trường. Tất cả quy luật của thị trường đều có thể biểu hiện và hoạt động thông qua doanh nghiệp; cụ thể, doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh để sản xuất, lưu thông và bán hàng hóa trên thị trường đáp ứng nhu cầu của xã hội với chi phí thấp nhất có thể để tạo được giá trị thặng dư nhiều nhất có thể. Như vậy, trong quan hệ ba bên, thị trường - cụ thể ở đây là doanh nghiệp - có vị trí, vai trò của người sản xuất, kinh doanh, người bán các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ cho Nhà nước và “xã hội”. Trong mối quan hệ ba bên này, thị trường có vị trí bình đẳng như “xã hội” thể hiện ở việc doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước và đồng thời, phải tuân thủ pháp luật và thực hiện chính sách của Nhà nước. Nhưng do Nhà nước và “xã hội” đồng thời lại có thể đóng vai “người tiêu dùng” và “người mua”, nên thị trường cần phải coi Nhà nước và “xã hội” như khách hàng, như “Thượng đế” để có thể phục vụ tốt nhất nhằm bán được hàng hóa, dịch vụ và đổi lại là sẽ thu được tiền bán với mức sinh lời nhiều nhất có thể. Tuy nhiên, so với “xã hội”, Nhà nước luôn có vị trí và vai trò của “khách hàng lớn nhất”, có thể mua với lượng hàng lớn và trả những khoản tiền khổng lồ nên thị trường phải đặc biệt coi trọng vị khách hàng đặc biệt này. Trong khi đó, “xã hội” luôn có vị trí, vai trò của khách hàng thường xuyên đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì chiến lược bán hàng, chiến lược phục vụ phù hợp với vị “khách hàng thường xuyên” đó.

Bốc xếp sản phẩm phân bón Cà Mau đưa ra thị trường tiêu thụ (Ảnh: Tư liệu)


Mặt trái và “khuyết tật” của thị trường: 1- Các thế lực có lợi thế trên thị trường thường tìm cách tối đa hóa lợi nhuận bằng cách hướng lái chính sách của Nhà nước, giành lấy các cơ hội tiếp cận thông tin và nguồn lực có lợi, hình thành nên “nhóm trục lợi”, đe dọa đến lợi ích của các lực lượng ít có lợi thế hoặc các nhóm yếu thế trong xã hội; 2- Doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến những ai có khả năng thanh toán, chỉ theo đuổi và làm cái gì có lợi nhuận, mà thường ít chú ý đến các hàng hóa công cộng, lợi ích công cộng (khi ít hoặc không đem lại lợi nhuận); 3- Kinh tế thị trường lấy phân bổ kết quả sản xuất theo lao động, theo vốn đóng góp, gây nên tình trạng phân cực giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, nhất là tình trạng nghèo của những người không có cơ hội tiếp cận nguồn lực, người gặp rủi ro, có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; 4- Tìm kiếm, tối đa hóa lợi nhuận nên doanh nghiệp thường có thiên hướng hy sinh các lợi ích công cộng, thậm chí có doanh nghiệp còn chấp nhận cả những việc làm suy đồi đạo đức (như hy sinh môi trường, sức khỏe của người tiêu dùng, làm hàng giả, hàng kém chất lượng…); 5- Tính tự phát của kinh tế thị trường gây các cuộc khủng hoảng chu kỳ hoặc suy thoái, gây ra các hệ lụy khôn lường cả về kinh tế và xã hội.

“Xã hội” vị trí, vai trò và những hạn chế

Khái niệm “xã hội”: Theo nghĩa rộng, xã hội là xã hội Việt Nam đang được xây dựng nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Theo nghĩa rộng của xã hội, Nhà nước là một trong các thành phần tạo nên xã hội. Tuy nhiên, xã hội theo nghĩa rộng này chưa cho thấy rõ “thị trường”, mà thị trường chỉ thể hiện đặc biệt rõ trong quá trình xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm “xã hội” được dùng để chỉ hệ thống xã hội với các thành phần, cấu trúc, các mối quan hệ xã hội phức tạp.

Theo nghĩa hẹp, “xã hội” được hiểu là “khu vực thứ ba” nằm cạnh Nhà nước và thị trường, gồm các giai tầng, cộng đồng (gồm cả gia đình), nhóm xã hội, được tập hợp thông qua các tổ chức xã hội hình thành một cách tự nguyện dựa trên các nguyên lý lợi ích (hiệp hội ngành nghề), nghề nghiệp (tổ chức xã hội nghề nghiệp), địa vực (làng/bản), huyết thống - hôn nhân (dòng họ, gia đình), đức tin (tôn giáo), nhân đạo, hữu nghị, sở thích…

Tổ chức xã hội: Là thiết chế tập hợp hội viên theo nguyên tắc tự nguyện, tự lập, tự dưỡng, hoạt động phi quyền lực chính trị, phi lợi nhuận, dựa vào các thể chế xã hội thành văn hoặc bất thành văn, theo đuổi giá trị xã hội và lợi ích của giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội nhất định. Khác với Nhà nước sử dụng biện pháp hành chính, doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm động lực, thì các tổ chức xã hội hướng dẫn hành vi của thành viên dựa trên các giá trị xã hội. Tổ chức xã hội vừa là một cơ sở xã hội của Nhà nước; vừa là thiết chế bảo vệ, thúc đẩy quyền lợi chính đáng, hợp pháp của thành viên; vừa là khách hàng của doanh nghiệp tham gia trên thị trường. Động lực của các tổ chức xã hội là giá trị xã hội và lợi ích chính đáng của mỗi giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội rất đa dạng.

Vị trí và vai trò của xã hội: Như đã phân tích, mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ ba bên bất đối xứng. Tính chất bất đối xứng này thể hiện rõ qua việc xã hội (theo nghĩa rộng) có thành phần là Nhà nước và đòi hỏi Nhà nước phải trở thành Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, Nhà nước luôn gặp giới hạn và không phải lúc nào cũng đem lại lợi ích tối đa cho tất thảy người dân, nhất là những người yếu thế;… vì vậy, các tổ chức xã hội là cơ chế bổ sung cho những giới hạn của Nhà nước đối với các “vùng trung gian”, “vùng lõm” nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội.

Nhà nước pháp quyền, dân chủ thường lấy lợi ích công cộng làm mục tiêu cao nhất cho tổ chức và hoạt động của mình (Trong ảnh: Thăm khám bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Sơn La)_Ảnh: Tư liệu


Trong mối quan hệ ba bên bất đối xứng đang được xây dựng, nhân tố xã hội (“xã hội” theo nghĩa hẹp) là người dân đóng vai trò làm chủ xã hội lớn, tham gia quản lý nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, xã hội theo nghĩa hẹp, cụ thể là những người dân, có vị thế, vai trò của chủ thể xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bị quy định bởi trình độ, điều kiện kinh tế thị trường cụ thể. Mục tiêu của phát triển xã hội theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp là phát triển con người; trong đó, thị trường có thể tạo ra động lực, cơ chế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo các điều kiện và nguồn lực vật chất cho phát triển xã hội. Nhà nước quản lý mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, thị trường và xã hội bằng pháp luật, chính sách nhằm bảo đảm phát triển xã hội hài hòa, bền vững.

Những hạn chế cơ bản của “xã hội”: 1-  Các giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội rất đa dạng, tính thuần nhất không cao, dễ tạo ra tình trạng phân tán, cát cứ, tản mát, vô chính phủ, nếu thiếu Nhà nước mạnh và thiếu cơ chế huy động, tập hợp xã hội thống nhất; 2-  Các tổ chức xã hội chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của thành viên mà ít quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội, hình thành nên các nhóm lợi ích đa dạng nhiều khi xung đột nhau hoặc xung đột với lợi ích chung, gây nên tình trạng bất cân xứng trong xã hội, làm tổn hại lợi ích các nhóm xã hội yếu thế; 3- “Xã hội” thường đề cao thể chế xã hội, cả thành văn và bất thành văn, gắn với tính tự quản, tự nguyện, dễ tạo ra những “lệ riêng” xa rời luật pháp, thậm chí phủ nhận luật pháp dưới các hình thức “bất tuân dân sự”; 4- Hoạt động phi lợi nhuận cũng là khu vực mà doanh nghiệp dễ lợi dụng tìm cách trốn thuế, chuyển giá; còn nếu dựa vào hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thì lại dễ bị hành chính hóa, làm hạn chế tính tự chủ, tính đại diện bảo vệ cho quyền lợi hội viên; 5- “Hội chứng đám đông” của “xã hội” thường gây nên các hệ lụy khó lường cả về kinh tế và chính trị, nhất là hoạt động mua bán cổ phiếu, bất động sản hay các hành vi có tính đám đông khi bị kích động chính trị chống đối Nhà nước.

Sự cần thiết phải bổ khuyết lẫn nhau để mỗi chủ thể trong mối quan hệ ba bên này phát huy được điểm mạnh và hạn chế được điểm yếu, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, hài hòa, bền vững

Nhà nước vừa theo đuổi lợi ích công cộng, vừa bảo vệ lợi ích của lực lượng chính trị cầm quyền. Nhà nước pháp quyền, dân chủ thường lấy lợi ích công cộng làm mục tiêu cao nhất cho tổ chức và hoạt động của mình thông qua tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường, mở rộng phúc lợi cho người dân, tìm cách chính đáng hóa lợi ích của lực lượng cầm quyền trong lợi ích xã hội. Tuy vậy, không phải lúc nào Nhà nước cũng đạt được lợi ích công cộng ở mức lý tưởng, bởi lẽ Nhà nước luôn gặp giới hạn khi tác động đến “vùng trung gian”, “vùng lõm”, nhất là trong xử lý mối quan hệ giữa nhóm xã hội có lợi thế và nhóm xã hội bất lợi thế, giữa vùng thuận lợi và khó khăn, giữa hoạt động kinh doanh theo thị trường và hoạt động phi thị trường… Vì vậy, các tổ chức xã hội đóng vai trò như là cơ chế bổ sung cho những giới hạn của Nhà nước đối với các “vùng trung gian”, “vùng lõm” nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, với tư cách là nhà đầu tư, Nhà nước không chỉ là nhà quản lý mà còn là đối tác của doanh nghiệp, có vị thế bình đẳng trên thị trường và bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước vận hành trong nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, hội nhập quốc tế không còn là nhà nước sở hữu, mà thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu và quyền tài sản của mọi chủ thể khác trong xã hội. Đó cũng là Nhà nước không cố nắm giữ mọi dịch vụ công mà chủ yếu chuyển sang kiểm soát chất lượng, sẵn sàng chuyển giao cho tư nhân và xã hội những gì họ làm tốt hơn Nhà nước(3).

Doanh nghiệp có xu hướng tối đa hóa lợi nhuận, xu hướng độc quyền, hạn chế cạnh tranh, hy sinh các lợi ích công cộng, gây nên các ngoại ứng tiêu cực (ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, gian lận thương mại…). Để tối đa hóa lợi nhuận, tiếp cận nguồn lực thuận lợi, doanh nghiệp và một bộ phận quan chức nhà nước có xu hướng bắt tay hình thành “nhóm trục lợi” hướng lái chính sách, vừa làm méo mó quy luật thị trường, vừa làm tha hóa Nhà nước, đe dọa đến lợi ích các nhóm bất lợi thế và yếu thế. Vì vậy, phải cần đến vai trò không thể thiếu của Nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh, chống độc quyền, hạn chế ngoại ứng tiêu cực, phân xử công bằng các tranh chấp; và cũng cần đến các tổ chức xã hội để cân bằng tiếng nói khi tham gia hoạch định chính sách giữa nhóm sản xuất và nhóm tiêu dùng, giữa ngành hàng này với ngành hàng khác…, góp phần kiểm soát quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, phòng ngừa “nhóm trục lợi” chính sách; tổ chức cung ứng dịch vụ xã hội phi lợi nhuận để khắc phục khuyết tật của thị trường vốn có thiên hướng chỉ quan tâm tới tối đa hóa lợi nhuận.

“Xã hội” có xu hướng theo đuổi các lợi ích cục bộ của giai tầng, cộng đồng, nhóm xã hội… mà giữa chúng nhiều khi xung đột nhau và cũng xung đột với lợi ích chung của toàn xã hội. Do đó, nếu thiếu bàn tay của Nhà nước thì sẽ gây nên tình trạng vô chính phủ, không giải quyết được lợi ích nhóm cục bộ và lợi ích công cộng; tương tự, nếu thiếu vận dụng nguyên tắc thị trường vào hoạt động quản trị tổ chức xã hội thì sẽ đẩy các tổ chức rơi vào trạng thái hành chính hóa, thiếu năng động, thiếu nguồn lực tài chính phục vụ cho mở mang phúc lợi. Có thể nhận thấy, “xã hội” theo đuổi giá trị xã hội, lấy giá trị văn hóa, đạo đức, nhân văn làm động lực phát triển, có ý nghĩa cân bằng với Nhà nước vốn dựa vào sức mạnh của quyền lực chính trị, cân bằng với doanh nghiệp vốn dựa vào sức mạnh của đồng tiền. Ở đây, “xã hội” dựa vào nhiều trụ cột phát triển nên có thể bảo đảm sự hài hòa, cân bằng và vấn đề đặt ra là phải có và thực hiện được sự kết hợp hợp lý giữa sử dụng quyền lực chính trị với quyền lực kinh tế và quyền lực văn hóa, đạo đức (giá trị xã hội). Vì vậy, cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của “xã hội” nhằm bổ sung cho giới hạn của Nhà nước và hạn chế, “khuyết tật” của thị trường, như hình thành các cơ chế tham gia giám sát, phản biện xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tiếng nói của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội được chuyển tải một cách cân bằng đến các cơ quan hoạch định chính sách, tránh để một “nhóm lợi ích” chi phối thông tin “đầu vào”, gây nên tình trạng bất cân xứng thông tin; tham gia điều tiết quan hệ cung - cầu trên thị trường thông qua các hiệp hội, liên hiệp hội ngành hàng(4).

Trong thực tế gần 35 năm đổi mới vừa qua đã xuất hiện sự điều chỉnh, hoán đổi, chuyển giao trách nhiệm giữa Nhà nước, thị trường và xã hội đối với nhiều nội dung thuộc lĩnh vực quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam. Chẳng hạn như: Khác với dịch vụ xã hội trước đổi mới do Nhà nước độc quyền cung ứng thì trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, dịch vụ xã hội do nhiều chủ thể đa dạng cung ứng, gồm Nhà nước, tư nhân, tập thể, cộng đồng. Vì thế, có loại dịch vụ xã hội thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước lập hệ thống tổ chức cung ứng, thường gọi là các đơn vị sự nghiệp công lập; có loại dịch vụ xã hội thuộc sở hữu tư nhân, do tư nhân cung ứng, hoạt động theo nguyên tắc của thị trường, tối đa hóa lợi nhuận; có loại dịch vụ xã hội thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng, hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận. Những dịch vụ xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận thường có nguồn gốc tài sản dịch chuyển từ sở hữu tư nhân thành sở hữu xã hội, sở hữu cộng đồng, với cơ chế tài chính đặc thù, chất lượng của dịch vụ không hoàn toàn đo lường được bằng giá cả theo trục xoay của giá thị trường, mà chúng bị điều chỉnh rất nhiều bởi giá trị đạo đức, nhân văn như trong giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội…

Vì vậy, trong thời gian tới, Đảng cần tập trung xác định, nhận thức lại rõ ràng và đầy đủ hơn chức năng của Nhà nước để xây dựng nhà nước quản trị, nhà nước phục vụ nhân dân; xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, góp phần củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và giải quyết tốt các vấn đề xã hội; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nhằm bổ sung cho giới hạn của Nhà nước và hạn chế “khuyết tật” của thị trường; dựa trên các giá trị công lợi, nhân văn, công bằng, phúc lợi cho người dân…, bởi đó chính là những giá trị chung và là cơ sở cho hợp tác, đối tác giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ở nước ta.

Về phương diện thực tiễn, nghiên cứu, nhận diện mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ở Việt Nam hiện nay phải xuất phát từ thực tiễn phát triển của Việt Nam, nhằm khắc phục tình trạng tách biệt giữa các chủ thể hiện nay, bảo đảm kết nối ba chủ thể này thành một phức thể trong quản lý phát triển xã hội, tránh chồng chéo, phân biệt đối xử; góp phần nâng cao hiệu quả phát triển xã hội nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.

-------------------------

Nguồn: GS, TS. Lê Ngọc Hùng - PGS, TS Nguyễn Chí Hiếu - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội.

* Bài viết là sản phẩm của đề tài cấp quốc gia: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam”, Mã số KX.01.50/16-20, thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia KX.01/16-20

(1) Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2017, tr. 28

(2) Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại đại hội đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương), Hà Nội, tháng 4-2020, tr. 22

(3) Xem: Nguyễn Chí Hiếu, “Định dạng cơ cấu và nhận thức rõ hơn chức năng, mối  quan hệ giữa Nhà nước với thị trường và các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 8 - 2020

(4) Xem: Đoàn Minh Huấn, “Phát huy vai trò của xã hội góp phần bổ sung giới hạn của Nhà nước và hạn chế khuyết tật của thị trường”, Tạp chí Cộng sản, số 11, 2019

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

Nhận diện thủ đoạn chống phá lực lượng CAND thời gian gần đây

Bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện âm mưu và các hoạt động “phi chính trị hóa” lực lượng CAND, tìm mọi cách làm cho cán bộ, chiến sỹ Công an suy yếu về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, từ đó thúc đẩy các hoạt động “tự diễn biến”, phá vỡ bức tường thép quan trọng trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Do vậy, cần nhận diện thủ đoạn, hoạt động mà các đối tượng thường sử dụng trong thời gian qua như sau:

Thứ nhất, các đối tượng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc về bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức lực lượng CAND, cho rằng “Công an là công cụ đàn áp của Đảng Cộng sản”, hay rêu rao rằng “Bộ Công an lấn quyền và tạo hình ảnh bất khả xâm phạm”; tìm mọi cách chia rẽ Công an với nhân dân, với Quân đội và các lực lượng khác trong hệ thống chính trị ở nước ta.

Thứ hai, lợi dụng việc một số tin báo điện tử trong nước đăng tin bài, hình ảnh phản ánh sai phạm của lực lượng Công an địa phương trong điều tra một số vụ án và hành vi tiêu cực của CSGT để thổi phồng các vụ việc, lấy sai phạm của một số cá nhân để quy kết, xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật nhằm bôi đen, làm mất uy tín lực lượng Công an, kích động quần chúng chống cán bộ Công an thi hành công vụ.

Thứ ba, cố ý bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh cán bộ, chiến sĩ CAND, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an.

Thứ tư, đối với một số vụ việc gây rối trật tự công cộng, có tính chấy nguy hiểm đối với xã hội, phải sử dụng lực lượng Cảnh sát cơ động, đặc nhiệm để giải quyết, các đối tượng cho rằng lực lượng CAND ngày nay không còn là của nhân dân, bảo vệ nhân dân, mà là công cụ để bảo vệ quyền lợi của một nhóm người có chức, có quyền, qua đó nhằm đối trọng nhân dân với lực lượng Công an.

Thứ năm, lợi dụng không gian mạng như: Youtube, Blog, Facebook…, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tạo lập hàng trăm tài khoản ảo, cắt ghép một số hình ảnh, video liên quan đến lực lượng Công an để đưa ra những bình luận ác ý, tung tin sai sự thật, bịa đặt nhằm công kích vào tâm lý người dân, gây sự hoài nghi, làm giảm sút lòng tin đối với chế độ.

Những âm mưu, thủ đoạn trên cần có cách nhìn khách quan, toàn diện,  cụ thể như sau:

Trước hết, cần khẳng định rằng, trong bất kỳ một xã hội có giai cấp nào thì điều tất yếu đó là phải tổ chức ra lực lượng bảo vệ chế độ, nhà nước đó.

Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam


Đối với nước ta, lực lượng CAND ra đời trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân, dân tộc sâu sắc.

Khi đề cập đến đặc điểm công tác, chiến đấu của CAND và công tác Công an, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, lực lượng CAND phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với QĐND và các ngành, các đoàn thể quần chúng trong công tác giữ gìn an ninh, trật tự.

Theo Người: “Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc”; vì vậy, Công an phải thường xuyên thực hiện tốt quan hệ hợp đồng tác chiến vì mục tiêu chung bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ và nhân dân. Tại lễ thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), tháng 3-1959, Hồ Chủ tịch khẳng định: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”.

Thực hiện chỉ dạy của Bác, CAND đã phối hợp chặt chẽ với QĐND và các tổ chức trong hệ thống chính trị; tập trung xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân vững chắc, tạo thành sức mạnh tổng hợp, thế trận liên hoàn trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự.

Hai là, ở Việt Nam, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của lực lượng CAND được quy định trong Luật CAND (sửa đổi) đã được Quốc hội Khoá XIV thông qua ngày 20/11/2018, tại Kỳ họp thứ 6. Luật CAND (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019 quy định rõ:

Vị trí CAND: Là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Chức năng: CAND có chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, Luật cũng xác định những nhiệm vụ, quyền hạn của CAND.

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của CAND:

1. Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an.

2. Được tổ chức tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ Trung ương đến cơ sở.

3. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; cấp dưới phục tùng cấp trên; dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Ba là, thực tiễn đã chứng minh CAND Việt Nam thực sự là đội quân tiên phong, nòng cốt trong đấu tranh chống phản cách mạng, chống gián điệp, phản động, phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, chế độ, chính quyền cách mạng và bảo vệ nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ Công an từ trong quá khứ, hiện tại và tương lai luôn cố gắng rèn luyện, phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng, hệ thống tổ chức đảng trong CAND không ngừng được củng cố và phát triển lãnh đạo mọi mặt công tác công an. Lực lượng Công an được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng đã trở thành đội ngũ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, “chỉ biết còn Đảng thì còn mình”, trung thành vô hạn với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của CAND đã được pháp luật quy định và trong thực tế không có chuyện Công an là công cụ đàn áp của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay Công an lấn quyền như những điều bịa đặt, vu khống mà họ tạo ra.

Với sự chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể, sự tin yêu, giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân, lực lượng CAND không ngừng trưởng thành, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, vững về pháp luật, sắc bén về nghiệp vụ và đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Thứ năm, đất nước ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, những kết quả đạt được trong công tác phòng chống dịch COVID-19, những nỗ lực không biết mệt mỏi trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai ở miền Trung vừa qua là sự quyết tâm đồng lòng của cả nước, đó là sự thống nhất ý chí và hành động của toàn dân và hệ thống chính trị, trong đó có những đóng góp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ CAND; sự cống hiến, hy sinh của lực lượng CAND trong thời chiến cũng như thời bình là điều không thể phủ nhận, chối bỏ như cách mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã làm trong thời gian qua.

Mặt khác, chúng ta không thể lấy những sai phạm, thiếu sót của một vài cá nhân để quy kết đó là sai phạm của cả tổ chức, lực lượng. Mọi sai phạm dù đó là ai đi chăng nữa đều phải xử lý theo pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ sai phạm.

Âm mưu, thủ đoạn và những việc làm của các thế lực thù địch là rõ ràng, càng chứng minh tính chất phản động, phản cách mạng của họ, thay vì có những đóng góp cho việc giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội thì họ lại cố ý phá vỡ tính ổn định đó bằng những luận điệu phi lý, lố bịch.

Nguồn: Chu Thắng - Báo điện tử CAND

Khai mạc trọng thể Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 76

Sáng 7/12, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 76 khai mạc trọng thể tại TP HCM. Hội nghị nhằm tổng kết đánh giá tình hình, kết quả các mặt công tác Công an năm 2020; tổng kết phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” năm 2020; triển khai nhiệm vụ công tác năm 2021 và phát động phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” năm 2021 trong lực lượng CAND.

Hội nghị vinh dự được đón đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đến dự và phát biểu chỉ đạo. Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì Hội nghị.

Bộ trưởng Tô Lâm tặng hoa thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc


Dự Hội nghị có các đồng chí: Đại tướng Lê Hồng Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao; Mai Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Trần Lưu Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP HCM; Lê Hoài Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Trung tướng Phạm Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Thanh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương… Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương và TP HCM.  

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc duyệt đội danh dự Công an nhân dân.

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Tô Lâm khẳng định, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 76 diễn ra trong bối cảnh Đại hội đảng bộ các cấp đã được tổ chức thành công tốt đẹp và đang tích cực chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đất nước ta đã chủ động, sớm kiểm soát được dịch COVID-19, tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
Về phía Bộ Công an có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an: Thượng tướng Lê Quý Vương, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương; Thượng tướng Bùi Văn Nam; Thượng tướng Nguyễn Văn Thành; Trung tướng Trần Quốc Tỏ. Các đồng chí Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an: Trung tướng Nguyễn Văn Sơn, Trung tướng Lương Tam Quang, Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc. Các đồng chí Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an: Thiếu tướng Lê Quốc Hùng, Thiếu tướng Lê Tấn Tới cùng các đồng chí trong Đảng ủy Công an Trung ương; đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ; các đồng chí trong Ban nghiên cứu chuyên đề giúp việc Bộ trưởng; thư ký lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Văn phòng; các đồng chí Cục trưởng, tương đương đang biệt phái tại các bộ và Ủy ban quốc phòng an ninh của Quốc hội; Trưởng Cơ quan đại diện Bộ Công an tại nước Lào, Campuchia; Giám đốc các Học viện, Hiệu trưởng các trường CAND; Giám đốc các bệnh viện; Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các đồng chí lãnh đạo làm công tác tham mưu trong CAND…

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu dự hội nghị.




Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham quan một số trang thiết bị an ninh an toàn trưng bày tại hội nghị.


Năm 2020, tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, đặt ra nhiều khó khăn, thách thức và áp lực rất lớn đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Quân đội Nhân dân, các ban, bộ, ngành, địa phương, sự ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả của các tầng lớp Nhân dân; lực lượng CAND đã thể hiện quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động quyết liệt, trách nhiệm với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ công tác đã đề ra và đạt được những kết quả, thành tích rất quan trọng, toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo dấu ấn nổi bật trong năm 2020. 

Đó là: Tiếp tục giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ; đóng góp tích cực trong xử lý các vấn đề nổi lên, bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước. 



Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 76 sẽ kiểm điểm đánh giá đúng thực trạng tình hình, kết quả đạt được, chưa đạt được, làm rõ những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm trong thực hiện công tác Công an năm 2020. Đồng thời, có nhiệm vụ nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương, chỉ thị của Bộ về nhiệm vụ công tác Công an năm 2021 và những năm tiếp theo. Trọng tâm là bàn các giải pháp: “Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; tiếp tục tăng cường cơ sở, tạo chuyển biến toàn diện về an ninh, trật tự tại cơ sở”.

Bộ trưởng Tô Lâm nêu rõ, năm 2021 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cũng là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị trọng đại, như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Mặt khác, dự báo trong năm 2021, tình hình tội phạm sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, chưa thể giải quyết triệt để các nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm; tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, tác động trực tiếp, nhiều mặt đến nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tình hình đó đang đặt ra những khó khăn, thách thức và nhiệm vụ nặng nề, hết sức khẩn trương đối với lực lượng CAND. Bộ trưởng Tô Lâm nêu rõ, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 76 có nhiệm vụ kiểm điểm, đánh giá đúng thực trạng tình hình, kết quả đạt được, chưa đạt được, làm rõ những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm trong thực hiện công tác Công an năm 2020; nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương, Chỉ thị của Bộ Công an về nhiệm vụ công tác Công an năm 2021.

Bộ trưởng Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 76.


Sáng cùng ngày, tại Hội nghị, thay mặt Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, Thượng tướng Lê Quý Vương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương Thứ trưởng Bộ Công an đã trình bày báo cáo tóm tắt kết quả ngày làm việc đầu tiên và kết quả thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương năm 2020 và những năm tiếp theo…
Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị các đại biểu tập trung trí tuệ, phát huy tinh thần nêu gương, nhìn thẳng vào sự thật; nhận định, phân tích, dự báo sát xu hướng diễn biến của tình hình, nhận rõ thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đặt ra đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; xây dựng lực lượng Công an thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ; không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả các mặt công tác; tập trung thảo luận thống nhất các chủ trương, giải pháp để quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ công tác trong năm 2021 và những năm tiếp theo...

Trước đó, ngày 6/12, Bộ Công an tổ chức Hội nghị nội bộ để kiểm điểm công tác Công an năm 2020. Thay mặt lãnh đạo Bộ Công an, Trung tướng Lương Tam Quang, Thứ trưởng Bộ Công an trình bày báo cáo tóm tắt tình hình và kết quả công tác năm 2020; nhiệm vụ công tác Công an năm 2021. Đồng thời, Hội nghị đã thảo luận các chuyên đề công tác năm 2020.

Nguồn: Báo Công an nhân dân online.

  

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

Nhân dân cần gì?

(TG) - Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch nước Lê Đức Anh (1/12/1920- 1/12/2020), TCTG trân trọng đăng bài viết "Nhân dân cần gì?" của nhà báo Hồ Quang Lợi – người đã có may mắn được tháp tùng Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong các chuyến công tác trong và ngoài nước. Bài viết chia sẻ những suy nghĩ từ kỷ niệm đối thoại về báo chí với Chủ tịch.

Trên cương vị là Bộ trưởng Quốc phòng hay Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh đều dành sự quan tâm và tình cảm đối với báo chí. Tôi nhớ một buổi tối đầu tháng 12-1995, trong một cuộc gặp gỡ với Ban Biên tập và phóng viên báo Quân đội nhân dân, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã chia sẻ nhiều suy nghĩ và quan điểm về công tác báo chí.

Chủ tịch nước Lê Đức Anh với nhân dân xã Phú Ðình, huyện Định Hóa, tỉnh Bắc Thái (tháng 1/1995). Ảnh: Cao Phong/TTXVN


Cuộc hẹn hôm đó, Chủ tịch Lê Đức Anh ra tận cửa đón chúng tôi, thân mật bắt tay từng người và ân cần mời chúng tôi ngồi. Sau vài câu thăm hỏi, Thiếu tướng Phan Khắc Hải, Tổng biên tập muốn được biết ý kiến của Chủ tịch nước về chất lượng của báo Quân đội nhân dân trong thời gian gần đây.

Chủ tịch Lê Đức Anh nói:

- Báo chí ta, cả báo Quân đội nhân dân “hiếu hỉ” còn nặng lắm. Do nhiều “hiếu hỉ” nên thông tin còn ít. Cái mà dân cần báo chí cung cấp là thông tin. Tin trong nước, tin thế giới, tin văn hóa-thể thao, chuyện lạ đó đây… rất hấp dẫn người đọc. Nên coi trọng tin và bình luận ngắn. Mỗi sự kiện nổi bật xảy ra trong nước hoặc thế giới cần có bình luận kịp thời, ngắn gọn, sắc bén làm rõ vài ba ý để hướng dẫn dư luận. Có người nói thẳng với tôi rằng, đối với nhiều báo của lãnh đạo, họ thường chỉ xem lướt qua cái đầu đề, vì những điều báo đề cập đã được nói rõ ở các nghị quyết. Tin hay bài, điều quan trọng là ở lượng thông tin, không có thông tin mới người ta không đọc.

Tổng biên tập Phan Khắc Hải thưa với Chủ tịch:

- Việc giảm bớt “hiếu hỉ” là một nội dung lớn đã được anh em trong tòa soạn nêu lên trong các lần bàn bạc để nâng cao chất lượng tờ báo. Thời gian qua, chúng tôi đã giảm được một phần.

- Phải giảm mạnh hơn nữa, Chủ tịch Lê Đức Anh nói, thông tin về hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội là rất quan trọng, nhân dân cần phải biết. Vấn đề là đưa tin như thế nào? Theo tôi, mỗi hoạt động chỉ nên viết về người lãnh đạo vài ba dòng thôi, còn thì phải thông tin cho dân biết nơi các đồng chí lãnh đạo đến làm việc tình hình ra sao, cả mặt tốt và mặt chưa tốt. Dân rất cần biết những điều đó. Báo chí đưa tin hoạt động của lãnh đạo, chứ không phải tuyên truyền cho lãnh đạo.

Một phóng viên nêu ra khó khăn:

- Thưa Chủ tịch, biết “hiếu hỉ” nhiều là không ổn, bạn đọc thiệt thòi, nhưng giảm mạnh quá lại sợ phản ứng của thói quen đã hình thành từ lâu.

Chủ tich Lê Đức Anh giải đáp ngay:

- Không sợ gì cả, làm việc có ích cho dân, cho nước, không có sai phạm, tại sao lại sợ? Làm báo phải dũng cảm.

Những lấn bấn lâu nay của chúng tôi về cải tiến việc đưa tin hiếu hỉ, lễ tân, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, trước hết là trên trang nhất, sau ít phút đã được Chủ tịch khai thông. Chủ tịch rất đồng tình với ý kiến của một phóng viên: Cách làm báo của ta phải đạt hai yêu cầu: Được lãnh đạo chấp nhận và nhân dân đồng tình.

Thời gian ngắn ngủi còn lại của buổi gặp, Chủ tịch Lê Đức Anh đã nói đến nhiều vấn đề hết sức cập nhật của báo chí như thông tin phải trung thực, đa dạng, nhiều chiều; tính hấp dẫn và thuyết phục; phê phán cái xấu nhưng phải coi trọng  xây dựng cái tốt, hướng tới điều tốt đẹp… Chủ tịch nói:

- Báo chí ta thường có nhược điểm là hay nói một chiều. Trước đây, nói đến chủ nghĩa tư bản là chỉ nói đến những điểm xấu. Bây giờ, đi ra nước ngoài, được người ra dẫn đi xem những cái hay, cái đẹp của chủ nghĩa tư bản, thế là về nước viết bài ca ngợi hết lời và phủ định luôn chủ nghĩa xã hội. Viết như thế là đúng điều anh em đã nhìn thấy nhưng lại không đúng bản chất, không đúng với thực trạng tình hình ở các nước đó, vô hình chung là không trung thực vì đó mới là một phần của sự thật. Viết về chủ nghĩa xã hội cũng vậy. Những bài viết hô khẩu hiệu, lên gân không đi vào lòng người được đâu. Các đồng chí phải viết thế nào để trong bài viết không cần có chữ “định hướng”, mà từ chi tiết đến toàn bài lại toát ra định hướng, ngấm vào người đọc một cách tự nhiên. Sức thuyết phục của báo chí chính là chỗ đó… Muốn viết được những bài báo như thế, nhà báo phải làm việc căng thẳng, phải lao tâm khổ tứ, phải mất nhiều tâm sức.

Chủ tịch Lê Đức Anh nói tiếp:

- Báo chí muốn hấp dẫn người đọc thì phải mang đến những thông tin họ quan tâm. Đó cũng chính là những vấn đề các nhà lãnh đạo phải tập trung suy nghĩ giải quyết để đưa đất nước đi lên. Ví như báo chí phải tích cực tham gia phát huy tích cực và chống tiêu cực. Càng đi ra nước ngoài nhiều càng thấy thế giới ngày nay cạnh tranh quyết liệt lắm, làm ăn khó lắm. Đồng vốn vay về quay đi quay lại “bốc hơi” một ít. Sản xuất, kinh doanh kém, thua lỗ, lãi mẹ để lãi con thì thật nguy hiểm. Nếu như vậy thì hậu quả khó tránh là đến đời con, đời cháu chúng ta cũng không trả hết nợ do cha, ông để lại. Thấy vị giám đốc nào đi xe đẹp, xây nhà to mà xí nghiệp, công ty làm ăn thua lỗ, đời sống công nhân khó khăn các đồng chí cứ nêu lên báo để nhân dân phán xét.

Về mối quan hệ giữa “xây và chống”, Chủ tịch Lê Đức Anh lấy ví dụ:

 

- Mới đây tôi có xem một vở kịch ngắn trên truyền hình, trong đó nói về người nông dân Hà Nam nghèo khó nhưng lại có tấm lòng, có đạo đức, còn mấy kẻ giàu có ở Hà Nội là thân nhân của cháu bé bị lạc lại quá vô lương tâm. Nhưng nếu vì thế mà lại khái quát lên rằng tất cả mọi người dân Hà Nội đều vô lương tâm, chỉ có dân quê nghèo khó mới có đạo đức thì lầm to. Đúng như lời bác thợ cạo trong vở kịch là: “Ở Hà Nội có rất nhiều người tốt. Cái bọn xấu kia chỉ là rác rưởi, phải tìm cách quét nó đi”. Vì thế, bên cạnh việc chống tiếu cực, phê phán cái xấu, phải hết sức chú trọng phát hiện biểu dương những nhân tố mới; những điểm sáng trong sản xuất, kinh doanh; người tốt việc tốt ở các địa phương, các ngành, các đơn vị.

Nhân dân cần gì? Đó là điều sâu sắc nhất mà chúng tôi cảm nhận được trong cuộc đối thoại cởi mở thân tình của Chủ tịch nước Lê Đức Anh với những người làm báo. Giọng nói ấm áp, mộc mạc, như một bạn đọc của Chủ tịch nước đã để lại cho những người làm báo Quân đội nhân dân có mặt hôm ấy một ấn tượng khó quên.

Trên đường về, chúng tôi tiếp tục thảo luận sôi nổi những vấn đề Chủ tịch nước vừa nêu trong tâm trạng vừa phấn khởi vừa lo lắng. Phấn khởi vì nỗi nhọc nhằn của người làm báo các đồng chí lãnh đạo rất thấu hiểu. Lo lắng vì cảm thấy trách nhiệm của người cầm bút thật lớn và để làm được những điều Chủ tịch căn dặn thật không đơn giản. Tờ báo giống như một gương mặt, như tấm gương soi. Trên mặt báo, mọi điều, không chỉ có hoạt động xã hội, mà cả lao động báo chí đều được phản ảnh giữa thanh thiên bạch nhật. Sản phẩm của các nhà báo được sự đón đợi của hàng triệu người, như thế cũng có nghĩa rằng công việc của họ chịu sự giám sát nghiêm khắc của quần chúng nhân dân.

  25 năm đã trôi qua, nhưng cuộc đối thoại cởi mở và ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước Lê Đức Anh về chống lối làm báo nặng về hiếu hỉ, lễ tân cũng như trách nhiệm của báo chí trong nêu gương tốt, chống thói hư, tật xấu và tệ nạn trong xã hội, phục vụ quyền lợi thiết thân của người dân thì vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Người làm báo phải khách quan, công tâm, tôn trọng sự thật, bảo vệ công lý và lẽ phải, vì lợi ích của đất nước, hạnh phúc của nhân dân. Đó là những nguyên tắc hành nghề, những cam kết thiêng liêng đã được nêu rõ trong 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của Người làm báo Việt Nam mà Hội nhà báo Việt Nam đã ban hành và có hiệu lực từ 1-1-2017. Đó là ngọn lửa trong tim những người làm báo Việt Nam chân chính.

 Đối với không ít bạn đọc, công việc cũng như suy tư hàng ngày của các nhà lãnh đạo quốc gia là điều không dễ hình dung. Cuộc chuyện trò tối hôm đó tại nhà ở của Chủ tịch Lê Đức Anh đã cho chúng tôi một nhận thức sâu sắc hơn về mối quan tâm thường nhật của vị Chủ tịch nước. Không có gì bức xúc hơn là những nhu cầu thiết yếu của người dân, chỉ những điều có ý nghĩa đối với cuộc sống của nhân dân thì mới có giá trị đích thực. Đã có lần chúng tôi nhìn thấy Chủ tịch Lê Đức Anh xắn quần lội trong nước lũ ở đồng bằng sông Cửu Long để thăm hỏi, động viên những dân mất nhà mất cửa, cuộc sống gặp muôn vàn khó khăn. Lúc đó, điều quan tâm nóng bỏng nhất của Chủ tịch là cái ăn, cái mặc, chỗ nương thân của người dân. Còn bây giờ, khi gặp cánh nhà báo chúng tôi, Chủ tịch lại quan tâm trên hết đến nhu cầu thông tin, quyền được thông tin của nhân dân. Chúng tôi hiểu đó không chỉ là một tấm lòng, mà còn là một trí tuệ năng cảm luôn trăn trở trước những đòi hỏi chính đáng và ước muốn của người dân lao động.

 Đại tướng Lê Đức Anh mãi mãi đi xa vào ngày 22-4-2019. Một cuộc đời lừng lẫy. 99 tuổi đời, 81 năm tuổi Đảng, Đại tướng Lê Đức Anh gánh vác nhiều trọng trách trong các thời kỳ lịch sử. Trải qua các chiến trường với nhiều chiến dịch lớn với các nhiệm vụ chỉ huy: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Khu Sài Gòn Chợ lớn, Tham mưu phó Bộ tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh quân khu 9, Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia khỏi hoạ diệt chủng, rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch nước..., cuộc đời chiến đấu của Đại tướng Lê Đức Anh thật oanh liệt và vẻ vang, gắn liền với những thời điểm lịch sử hiểm nghèo và trọng đại của đất nước.

 Trong trái tim của đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn in đậm hình ảnh gần gũi một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo xuất sắc, suốt đời chiến đấu, cống hiến vì đất nước và nhân dân, mà trong cuộc đời làm báo 40 năm của mình, tôi  may mắn có được những kỷ niệm không thể nào quên./.

Nguồn: HỒ QUANG LỢI

Phó Chủ tịch Thường trực Hội nhà báo Việt Nam

Cảnh giác trước những cuộc điện thoại lạ yêu cầu chuyển tiền

Càng về cuối năm, tội phạm lừa đảo qua mạng hoạt động càng mạnh và tinh vi hơn, chỉ tính riêng 6 tháng trở lại đây, đã có hơn 800 vụ người dân tố giác bị lừa đảo qua điện thoại, mạng xã hội, chiếm đoạt số tiền cả nghìn tỷ đồng. Bộ Công an liên tục đưa ra những cảnh báo trước loại tội phạm này.

Suýt mất tiền vì cuộc điện thoại lạ

Trưa 20-11, Công an phường Quang Trung, quận Hà Đông, Hà Nội, nhận được thông báo từ Chi nhánh Ngân hàng GP Bank, địa chỉ tại số 198 Quang Trung, quận Hà Đông về việc 1 khách hàng tới làm thủ tục chuyển tiền có biểu hiện lạ, có dấu hiệu bị lừa đảo.

Cán bộ Công an phường Quang Trung giải thích cho người dân hiểu về thủ đoạn cũng như phương thức của đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản.


Ngay sau khi nhận được tin báo, Đại úy Lê Nam Cường, cán bộ Tổ Cảnh sát phòng chống tội phạm, Công an phường Quang Trung đã có mặt tại Chi nhánh Ngân hàng GP Bank. Tại đây, Đại úy Lê Nam Cường gặp vị khách hàng là T. Bà T cho biết, vào khoảng 9h30 sáng cùng ngày, bà nhận được 1 cuộc điện thoại từ người lạ gọi vào số máy bàn của gia đình. Người gọi xưng là trung tá Công an, họ và tên  Trần Hữu Bình, đội trưởng đội điều tra tội phạm và yêu cầu bà T phải rút toàn bộ số tiền gửi  tiết kiệm là 400 triệu để gửi vào số tài khoản do Bình đưa ra.

Việc làm này theo lời Bình để nhằm chứng minh bà T vô tội cũng như để điều tra xem bà T có liên quan đến đường dây buôn bán ma tuý không. Đáng chú ý, đối tượng yêu cầu bà T không được nói với ai về nội dung trên và yêu cầu bà phải ngay lập tức ra ngân hàng rút toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm là 400 triệu đồng để gửi cho đối tượng.

Do sợ hãi cũng như chưa hiểu biết đầy đủ về các thủ tục, quy định của cơ quan Công an khi làm việc nên bà đã chủ động tới ngân hàng để yêu cầu rút toàn bộ số tiền tiết kiệm mình đang có là 400 triệu đồng và yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản của đối tượng đã cung cấp trước đó…

Rất may cho bà T, vì tại ngân hàng nơi bà thực hiện giao dịch, các nhân viên tại quầy giao dịch ở đây đều đã được Công an phường Quang Trung tuyên truyền về các phương thức, thủ đoạn chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao nên khi thấy nhiều biểu hiện nghi ngờ đã tạm thời ngưng yêu cầu giao dịch của bà và ngay lập tức báo tin cho Công an phường Quang Trung.

Theo Đại úy Lê Nam Cường, các đối tượng thực hiện hành vi lừa đảo bà T rất tinh vi, chúng thực hiện gọi điện thoại cho bà T bằng ứng dụng trên mạng internet và cuộc gọi được mã số hoá nên không có số thuê bao để lại. Ngay sau khi biết hành vi của mình đã bị phát giác, chúng lập tức xoá bỏ hết toàn bộ mọi thông tin của bản thân và tắt máy ko giữ liên hệ với bà T.

Tại các điểm giao dịch của ngân hàng, cơ quan Công an đã có cảnh báo để người dân biết các thủ đoạn lừa đảo.


Trung tá Phạm Mạnh Cường, Trưởng Công an phường Quang Trung cho biết, việc các đối tượng sử dụng internet để tham gia mạng xã hội (facebook, zalo,…) lừa đảo diễn biến ngày càng phức tạp.

Đáng chú ý, gần đây, đối tượng không chỉ mạo danh cán bộ Công an, còn liều lĩnh gọi video khoác sắc phục ngành yêu cầu chuyển tiền, như vụ việc mới xảy ra gần đây, ngày 7-10.

Theo đó, hồi 15h30, ngày 7-10, sau khi nhận được thông báo từ Chi nhánh Ngân hàng Eximbank trên địa bàn về việc 1 khách hàng tới làm thủ tục chuyển tiền có dấu hiệu bị lừa đảo, Công an phường đã nhanh chóng xuống hiện trường. Bà Đ, SN 1963, trú tại huyện Thanh Oai, Hà Nội, người tới giao dịch tại ngân hàng tâm trạng đầy lo âu, sợ sệt cho biết: Sáng cùng ngày, bà nhận được 1 cuộc điện thoại, đầu dây bên kia là một người đàn ông, tự giới thiệu là cán bộ Công an đang công tác tại Bộ Công an. Người này  nói bà có liên quan tới một vụ án ma túy nên yêu cầu bà rút hết toàn bộ số tiền tiết kiệm để chuyển vào một tài khoản mà đối tượng yêu cầu để chứng minh mình vô tội.

Các đối tượng gọi điện thoại cho nạn nhân bằng ứng dụng trên mạng internet và cuộc gọi được mã số hoá.


Để tạo lòng tin, đối tượng đã gọi video cho thấy đang mặc sắc phục Công an nhưng không cho bản thân bà nhìn thấy mặt. Do sợ hãi cũng như chưa hiểu biết đầy đủ về các thủ tục, quy định của cơ quan Công an khi làm việc nên bà đã chủ động tới ngân hàng để yêu cầu rút toàn bộ số tiền tiết kiệm mình đang có là gần 200 triệu đồng và yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản của đối tượng đã cung cấp trước đó…

Không được may mắn như bà V.T.T.T và bà Đ, ngày 1-10, ông K, SN 1953, cán bộ hưu trí trú tại địa bàn nhận được một cuộc điện thoại gọi tới số máy cố định của gia đình ông. Đối tượng xưng là cán bộ Công an và thông báo ông K đang liên quan tới đường dây buôn bán ma túy xuyên quốc gia. Là người thật thà, muốn chứng minh mình hoàn toàn không liên quan gì tới hành vi phạm tội nên ông đã đến Chi ngánh Ngân hàng GP Bank trên địa bàn rút toàn bộ số tiền 500 triệu đồng và chuyển vào tài khoản đối tượng yêu cầu.

Khi phát hiện mình bị lừa đảo, ông K tới trụ sở Công an phường Quang Trung để trình báo thì mọi thông tin về đối tượng đã lừa đảo ông K gần như không hề có do đối tượng liên hệ với ông K qua số thuê bao cố định…

Cẩn trọng trước những cuộc điện thoại lạ

Theo thống kê của cơ quan chức năng, thời gian qua, các vụ lừa đảo qua điện thoại kiểu này tập trung nhiều nhất tại hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Tại hội thảo về an toàn, an ninh mạng Việt Nam gần đây, lãnh đạo Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) cho biết,  nhóm tội phạm lừa đảo thông qua không gian mạng, lừa đảo qua tin nhắn rác, nhắn tin làm quen, gửi quà hoặc giả danh cơ quan thực thi pháp luật gọi điện yêu cầu người dân nộp tiền vào tài khoản; nhắn tin trúng thưởng; chiếm quyền tài khoản xã hội; mua bán qua mạng, kinh doanh đa cấp.

Nhiều người dân gửi thư cảm ơn CBCS Công an phường Quang Trung, quận Hà Đông.


Các nhóm đối tượng lừa đảo lợi dụng sự kém hiểu biết của người dân để doạ là họ có liên quan đến đường dây tội phạm như: ma tuý, rửa tiền… hoặc các vụ án hình sự khác. Thậm chí chúng còn làm giả lệnh bắt giam, khởi tố gửi đến nạn nhân thông qua mạng xã hội, làm tăng mức độ nghiêm trọng.

Trong khi đó, trên thực tế, những hoạt động điều tra đều được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, cụ thể là cơ quan chức năng sẽ gửi giấy mời, giấy triệu tập đến địa chỉ của người liên quan, chứ không mới làm việc, thông báo qua điện thoại. Trường hợp người dân nhận được những cuộc gọi điện thoại lạ, xưng là người của cơ quan công quyền hay yêu cầu chuyển tiền thì lập tức báo với cơ quan Công an gần nhất để phối hợp điều tra, xử lý.

Đại diện Tập đoàn VNPT cho biết, khi gặp các cuộc gọi lừa đảo như trên, khách hàng cần trình báo ngay cho cơ quan Công an để xử lý hoặc thông báo đến số điện thoại trực ban hình sự 0692348560 của Cục Cảnh sát hình sự để được hướng dẫn kịp thời. Đồng thời, VNPT thông báo rộng rãi tới khách hàng qua các kênh truyền thông như website, tổng đài chăm sóc khách hàng, tin nhắn...  để nâng cao cảnh giác.

Nguồn: Xuân Trường - CSTC

Người dân được đốt loại pháo hoa không phát ra tiếng nổ

Người dân được đốt pháo hoa trong dịp sinh nhật, đám cưới, lễ khai trương... song là loại không phát ra tiếng nổ và phát sáng ở tầm thấp.

Đại tá Vũ Minh Hùng, Trưởng phòng Hướng dẫn Quản lý Vật liệu nổ Công cụ hỗ trợ và pháo, Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hôi (Bộ Công an) cho biết, quy định trên của Nghị định 137/2020 thay thế Nghị định 36/2009.

Đại tá Vũ Minh Hùng, Trưởng phòng Hướng dẫn Quản lý Vật liệu nổ Công cụ hỗ trợ và pháo. Ảnh: Bá Đô


Theo ông Hùng, sau hơn 10 năm có hiệu lực, Nghị định 36/2009 quy định về quản lý, sử dụng pháo đã bộc lộ một số hạn chế và không phù hợp với điều kiện quản lý hiện nay, như chưa nêu rõ các trường hợp thế nào là pháo hoa (không nổ), pháo hoa nổ.

Trong khi đó những năm qua các loại pháo hoa phát ra tiếng nổ từng gây ra nhiều tai nạn chết người và gây thiệt hại lớn về kinh tế. Đơn cử như vụ nổ container pháo hoa nổ ở Mỹ Đình năm 2010, vụ nổ nhà máy sản xuất pháo hoa nổ ở Phú Thọ năm 2013. Dịp Tết năm 2019-2020 tình trạng đốt pháo hoa nổ tăng đột biến khiến 200 người gặp nạn.

Bên cạnh tình trạng sử dụng pháo hoa nổ trái phép, thời gian qua nhiều tổ chức, cá nhân đã mua bán trái phép pháo hoa (không nổ), nhưng việc xử lý gặp khó khăn vì chưa rõ khái niệm. Trước thực tế đó, Bộ Công an chủ trì xây dựng Nghị định 137/2020, tách riêng khái niệm về pháo hoa gồm pháo hoa và pháo hoa nổ. Đây chính là điểm mới đáng chú ý của Nghị định này.

Về việc phân biệt pháo hoa và pháo hoa nổ, đại diện Bộ Công an giải thích, "pháo hoa khi đốt tạo ra ánh sáng, màu sắc, âm thanh chỉ xì xẹt mà không phát ra tiếng nổ". Đơn cử như cây pháo dài một gang tay, nhỏ bằng ngón tay cái mà người dân thường dùng đốt, cắm trên bánh sinh nhật, hoặc loại tròn to bằng cổ tay và dài vài chục cm hay đốt trong đám cưới, tân gia hoặc lễ động thổ khai trương.

Còn pháo hoa nổ là loại pháo tạo ra tiếng rít và tiếng nổ, tạo hiệu ứng màu sắc trong không gian. Loại này thường được sử dụng ở các dịp lễ tết, hay trong cuộc thi bắn pháo hoa nổ được cấp phép.

"Các loại quả pháo hoa nổ có thể tầm thấp, tầm cao; nếu quả pháo đường kính không vượt quá 90 mm và tầm bắn không vượt quá 120 m thì tầm thấp; còn loại tầm cao đường kính trên 90 mm, tầm bắn trên 120 m", ông Hùng nói.

Loại pháo hoa dùng để đốt trong sinh nhật, cắm vào bánh hiện nay. Ảnh: Bá Đô


Theo đại diện Bộ Công an, từ 10/1/2011, người từ 18 tuổi trở lên được đốt các loại pháo hoa không phát ra tiếng nổ trong sinh nhật hoặc lễ tết, đám cưới, khai trương.Thực chất các loại pháo hoa này đã được sử dụng công khai nhiều năm qua dù bất hợp pháp, do chưa có chế tài cụ thể nên cơ quan chức năng không xử lý được.

Quy định mới nêu rõ người dân phải mua pháo hoa ở các cửa hàng của quân đội, nơi được phép mua bán loại pháo hoa này. Còn mua ở các hiệu tạp hóa, cửa hàng trang trí như hiện nay là không đúng luật.

"Không phải bất cứ lúc nào người dân cũng có thể mua pháo hoa không nổ để đốt, càng không được đốt lung tung ở ngoài đường, chỗ đông người", Đại tá Vũ Minh Hùng nói và cho hay, người nào cố tình đốt pháo hoa không đúng dịp (ví dụ không đúng dịp sinh nhật, không đúng dịp lễ tết...) sẽ bị xử phạt như đốt pháo hoa nổ trái phép.

"Việc đưa ra các quy định nêu trên là để cơ quan chức năng quản lý tốt hơn, chứ không phải khuyến khích người dân đốt pháo hoa trong các dịp lễ tết", ông Hùng nói thêm.

Loại pháo hoa nổ để trong hộp vuông gồm 36 quả nhập lập từ Trung Quốc. Ảnh: Phương Sơn


Với loại pháo hoa nổ, Chính phủ cấm hoàn toàn, nghĩa là người dân không được mua bán, sử dụng. Pháo hoa nổ chỉ được sử dụng theo giấy phép và phải đăng ký trước. Việc bắn pháo hoa nổ do quân đội phụ trách; các cơ quan, tổ chức khác ngoài quân đội không được bắn pháo hoa nổ, trừ các trường hợp Thủ tướng quy định phục vụ cuộc thi bắn pháo hoa.

Theo quy định, trường hợp vận chuyển, mua bán, sử dụng từ 6 kg pháo trở lên sẽ bị xử lý hình sự.

Người dân, tổ chức sử dụng các loại pháo hoa nổ trái phép sẽ bị xử phạt từ đến 2 triệu đồng; trường hợp mua bán, sản xuất trái phép loại pháo hoa này sẽ bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng.

Nguồn: Vnexpress - Bá Đô

Thủ tướng yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc lây nhiễm COVID-19

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết ông đã gọi điện thoại cho lãnh đạo TPHCM và Bộ Y tế để có biện pháp mạnh hơn. “Tôi yêu cầu phải làm rõ trách nhiệm về việc lây nhiễm này, ở bộ phận nào, cá nhân nào trong thực hiện quy trình cách ly. Cơ quan nào chịu trách nhiệm”, Thủ tướng nêu rõ.

Chiều nay (1/12), tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ nghe Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống COVID-19 báo cáo tình hình và các biện pháp phòng chống.

Phát biểu mở đầu cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, thời gian qua, chúng ta đã tích cực triển khai các biện pháp phòng chống, đề cao cảnh giác, chứ không phải “mất bò mới lo làm chuồng”. Hôm qua, đã có ca lây nhiễm đầu tiên ra cộng đồng sau 88 ngày không ghi nhận. Thủ tướng cho biết ông đã gọi điện thoại cho lãnh đạo TPHCM và Bộ Y tế để có biện pháp mạnh hơn. “Tôi yêu cầu phải làm rõ trách nhiệm về việc lây nhiễm này, ở bộ phận nào, cá nhân nào trong thực hiện quy trình cách ly. Cơ quan nào chịu trách nhiệm”, Thủ tướng nêu rõ.

Thủ tướng yêu cầu làm rõ trách nhiệm về trường hợp lây nhiễm COVID-19 từ cơ sở cách ly. Ảnh VGP/Quang Hiếu.

Đề nghị thảo luận thêm một số biện pháp mạnh mẽ hơn, Thủ tướng lưu ý, thời gian tới sẽ có nhiều cuộc họp, hội nghị, đại hội, sự kiện lớn của đất nước, tập trung nhiều người như tổng kết năm của các bộ, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc, đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII… “vậy chúng ta có biện pháp nào để không ảnh hưởng đến sự kiện chính trị lớn nhất của nước ta và các đại hội quy mô quốc gia khác”.

Bên cạnh đó, hiện nay, chúng ta đón nhiều công dân từ các “trung tâm dịch” của thế giới về nước. Vậy quyết sách về vấn đề này như thế nào.

Thủ tướng cho biết có ý kiến đặt vấn đề tại sao Hà Nội và TPHCM quy định chặt chẽ việc đeo khẩu trang nơi công cộng, trong khi một số tỉnh, thành phố khác lại không, “vậy chủ trương nhất quán của chúng ta là tất cả các phương tiện công cộng, nơi đông người… phải thực hiện một số khâu của Thông điệp 5K”.

Tại cuộc họp, Thủ tướng cũng đề nghị báo cáo về tình hình vaccine ngừa COVID-19 hiện nay như thế nào, biện pháp hợp tác như thế nào trong vấn đề này.

Theo báo cáo của Bộ Y tế (tính đến 10h ngày 1/12/2020), sau 88 ngày không ghi nhận trường hợp mắc tại cộng đồng, ngày 30/11/2020, Bộ Y tế ghi nhận trường hợp bệnh nhân COVID-19 (BN1347) có tiền sử tiếp xúc với tiếp viên hàng không trong thời gian cách ly tại nhà và sau đó được xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 (BN1342). Đây là trường hợp COVID-19 lây nhiễm thứ phát từ trường hợp về từ vùng dịch đã được ngành y tế TPHCM điều tra và xử lý kịp thời.

Sau khi xét nghiệm 2 lần cho kết quả âm tính (ngày 15 và 18/11/2020), tiếp viên hàng không được về cách ly tại nhà trọ (P305, lầu 3, số 50 Bạch Đằng, phường 2, quận Tân Bình, TPHCM). Trong quá trình cách ly, tiếp viên này có tiếp xúc trực tiếp với 3 người, gồm mẹ đẻ và hai người bạn (một nam, một nữ). Trong đó, người bạn nam (SN1988, trú tại phường 3, quận 6, TPHCM) có tới sống cùng. Ngày 28/11, tiếp viên được lấy mẫu xét nghiệm lần 3, cho kết quả dương tính với SARS-CoV-2 (BN1342, thông báo ngày 29/11/2020). Trước đó, trong khoảng thời gian từ ngày 14 đến ngày 18/11/2020 BN1342 có tiếp xúc với đồng nghiệp trên chuyến bay khác và sau đó xét nghiệm dương tính là BN1325 (thông báo ngày 26/11/2020).

Ngay khi nhận được kết quả xét nghiệm dương tính của BN1342, Sở Y tế TPHCM đã tổ chức điều tra ổ dịch, cách ly và lấy mẫu xét nghiệm các trường hợp có tiếp xúc gần với bệnh nhân, kết quả ngày 30/11/2020 có một mẫu dương tính là bạn nam (BN1347). Theo kết quả điều tra dịch tễ ban đầu của BN1347 cho thấy, trong thời gian từ ngày 18 đến ngày 25/11, BN1347 đã đi dạy tại Trung tâm Anh ngữ KEY English (59 Nguyễn Bá Tuyển, phường 12, quận Tân Bình) và chi nhánh khác ở quận 10; tới quán cà phê và quán karaoke.

Một trường hợp lây nhiễm từ người cách ly (bệnh nhân 1347) là bệnh nhi nam, 1 tuổi, ở Quận 6, TPHCM. Bệnh nhi có tiền sử tiếp xúc gần với BN1347 ngày 22, 23, 25, 27/11 (Bố mẹ bệnh nhi có gửi bé qua nhờ BN1347 trông hộ). Ngày 30/11/2020, sau khi biết thông tin BN1347 dương tính với COVID-19, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật TPHCM đã điều tra và đưa bé cùng mẹ bé đi cách ly tập trung tại Bệnh viện Nhi đồng TPHCM, bố bé và các thành viên trong gia đình được cách ly tại nhà. Bé được lấy mẫu, xét nghiệm có kết quả dương tính với SARS-CoV-2 đêm ngày 30/11.

Ảnh VGP/Quang Hiếu

Tổng số tiếp xúc đang được điều tra là 513 người, trong đó tiếp xúc gần (F1) theo điều tra ban đầu là 99 (đã cách ly, lấy mẫu xét nghiệm toàn bộ, có 81 trường hợp âm tính, 18 trường hợp đang chờ kết quả); trường hợp tiếp xúc với người tiếp xúc gần (F2) là 414 (cách ly tại nhà, đã lấy mẫu xét nghiệm 337 trường hợp, 123 trường hợp âm tính, còn lại đang chờ kết quả xét nghiệm).

Đến 6h00 ngày 1/12/2020, số trường hợp xác định liên quan đến ổ dịch nêu trên là 2 trường hợp, 204 trường hợp tiếp xúc có kết quả âm tính, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TPHCM tiếp tục điều tra, lấy mẫu xét nghiệm, cách ly 506 trường hợp, trong đó cách ly tập trung 111 trường hợp, cách ly tại nhà 395 trường hợp; đồng thời phong tỏa các địa điểm mà 2 trường hợp này từng đến.

Theo Bộ Y tế, đến nay, trên cả nước hiện đang cách ly 16.756 người, trong đó cách ly tại cơ sở y tế: 175, tại khu cách ly tập trung: 15.741 và tại nhà/nơi lưu trú 840 người.

Các cơ sở cách ly do quân đội quản lý hiện đang cách ly 5.228 người tại 56 điểm cách ly, tổng số đã thực hiện cách ly là 145.451 người, trong đó hết cách ly là 140.223 người.

Nguồn: B.S (theo VGP)

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...