Thứ Năm, 24 tháng 2, 2022

Quan hệ Nga-Mỹ đang trên bờ hoàn toàn sụp đổ

Tổng thống Joe Biden ngày 24/2 (giờ địa phương) công bố các biện pháp trừng phạt mới đối với Nga sau khi nước này có các động thái quân sự với Ukraine.

Tổng thống Mỹ Joe Biden tuyên bố áp thêm trừng phạt với Nga. Ảnh Getty Images.

Phát biểu tại Nhà Trắng, ông Biden liên tục dùng những lời lẽ nặng nề để gọi Tổng thống Nga Vladimir Putin. Dù vậy, cho đến nay Tổng thống Mỹ vẫn chưa đưa ra các biện pháp trừng phạt đối với bản thân ông Putin

Hiện tại, vẫn còn nhiều khác biệt giữa Mỹ và các đồng minh về quy mô và mức độ của các lệnh trừng phạt, trong khi nhiều ý kiến trong nước cho rằng ông Biden “nên làm mạnh tay hơn”.

Ông Biden cho biết mối quan hệ Nga-Mỹ sẽ hoàn toàn rạn nứt nếu Moscow tiếp tục con đường đang đi và rằng nhiều biện pháp trừng phạt đang được lên kế hoạch.

Các lực lượng Ukraine ngày 24/2 đã chiến đấu với quân đội Nga đổ bộ từ 3 phía sau khi Moscow tiến hành một cuộc tấn công trên bộ, trên biển và trên không, khiến hàng chục nghìn người phải rời bỏ nhà cửa.

“Đây là một cuộc tấn công được tính toán trước. Putin đã chọn cuộc chiến này. Và giờ cả ông ta và Nga sẽ phải trả giá”, Tổng thống Mỹ nhấn mạnh, đồng thời cho biết thêm các biện pháp trừng phạt được đưa ra có tác động lâu dài đối với Nga và giảm thiểu tác động đối với Mỹ và các đồng minh.

Các lệnh trừng phạt mới nhắm mục tiêu vào 5 ngân hàng lớn của Nga, bao gồm Sberbank và VTB được nhà nước hậu thuẫn, cũng như các thành viên của giới thượng lưu Nga và gia đình.

Ông Biden cho biết các biện pháp trừng phạt nhằm hạn chế khả năng kinh doanh bằng đồng USD, Euro, Bảng Anh và Yên của các ngân hàng Nga.

Nhà Trắng cũng công bố các hạn chế xuất khẩu đối với Nga nhằm hạn chế khả năng tiếp cận xuất khẩu toàn cầu của nước này đối với mọi mặt hàng, từ hàng điện tử, máy tính đến chất bán dẫn và các bộ phận máy bay.

Ông Biden cho biết NATO sẽ nhóm họp trong ngày 25/2 để vạch ra các biện pháp tiếp theo đồng thời nhắc lại rằng Mỹ sẽ không tham chiến với Nga. Tuy nhiên, ông Biden cho biết Mỹ sẽ đáp ứng các cam kết tại Điều 5 của hiệp định NATO, trong đó các thành viên NATO nhất trí rằng một cuộc tấn công vũ trang chống lại một trong số các nước thành viên ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ sẽ được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên khác. Vì Ukraine không phải là thành viên NATO nên những biện pháp bảo vệ đó không được áp dụng.

Tổng thống Biden nói thêm rằng đây là “thời khắc nguy hiểm đối với toàn châu Âu”, đồng thời, quân đội Mỹ đã được đặt trong tình trạng sẵn sàng triển khai tới Đức.

Trước đó, khi Tổng thống Nga tuyên bố công nhận “độc lập” đối với hai khu vực ly khai ở miền Đông Ukraine, Mỹ đã tuyên bố áp dụng một số biện pháp trừng phạt.

Anh cũng đã công bố các biện pháp mới nhằm vào các ngân hàng, các thành viên thân cận của ông Putin và giới giàu có của Nga.

Tiến Dũng (Theo Reuters) 

Thứ Tư, 23 tháng 2, 2022

Bộ Y tế nói gì về khan hiếm và tăng giá kit test COVID-19?

Bộ Y tế cho biết, qua các kênh thông tin cho thấy có hiện tượng đầu cơ, găm hàng hoặc lợi dụng dịch bệnh để tăng giá bán trang thiết bị y tế bất hợp lý.

Trong những ngày qua, giá kit test xét nghiệm COVID-19 khan hiếm và tăng giá, đặc biệt tại Hà Nội khi tình hình dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp. Hôm nay, cả nước ghi nhận hơn 60.000 ca nhiễm COVID-19 mới, trong đó Hà Nội gần 7.500 F0.

Giá kit test "nhảy múa" trong nhiều ngày qua và sự khan hiếm, tăng giá chưa được dừng lại. Trước việc tăng giá không thể kiểm soát, chiều 23/2 ông Nguyễn Minh Lợi, Vụ trưởng Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế, Bộ Y tế cho biết: Bộ Y tế đã nắm được thông tin hiện nay có tình trạng khan hiếm cục bộ và giá cả không thống nhất đối với kit test nhanh SARS-CoV-2. Có thể thấy rằng, trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhu cầu sử dụng kit test xét nghiệm SARS-CoV-2 của người dân tăng cao, nguyên nhân gây nhu cầu tăng do sau Tết người dân quay trở lại làm việc, đi du lịch, đi lễ hội hay như học sinh, sinh viên quay trở lại trường học,…

"Qua các kênh thông tin cho thấy có hiện tượng đầu cơ, găm hàng hoặc lợi dụng dịch bệnh để tăng giá bán trang thiết bị y tế bất hợp lý. Để kịp thời có những biện pháp phù hợp, sáng hôm nay, ngày 23/02/2022, Bộ Y tế đã tổ chức cuộc họp trực tuyến với các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu kit-test xét nghiệm SARS-CoV-2", ông Lợi nói.

Người dân Hà Nội chờ đợi mua thuốc và kit test xét nghiệm COVID-19.

Trong những ngày qua, giá kit test xét nghiệm COVID-19 khan hiếm và tăng giá, đặc biệt tại Hà Nội khi tình hình dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp. Hôm nay, cả nước ghi nhận hơn 60.000 ca nhiễm COVID-19 mới, trong đó Hà Nội gần 7.500 F0.

Giá kit test "nhảy múa" trong nhiều ngày qua và sự khan hiếm, tăng giá chưa được dừng lại. Trước việc tăng giá không thể kiểm soát, chiều 23/2 ông Nguyễn Minh Lợi, Vụ trưởng Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế, Bộ Y tế cho biết: Bộ Y tế đã nắm được thông tin hiện nay có tình trạng khan hiếm cục bộ và giá cả không thống nhất đối với kit test nhanh SARS-CoV-2. Có thể thấy rằng, trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, nhu cầu sử dụng kit test xét nghiệm SARS-CoV-2 của người dân tăng cao, nguyên nhân gây nhu cầu tăng do sau Tết người dân quay trở lại làm việc, đi du lịch, đi lễ hội hay như học sinh, sinh viên quay trở lại trường học,…

"Qua các kênh thông tin cho thấy có hiện tượng đầu cơ, găm hàng hoặc lợi dụng dịch bệnh để tăng giá bán trang thiết bị y tế bất hợp lý. Để kịp thời có những biện pháp phù hợp, sáng hôm nay, ngày 23/02/2022, Bộ Y tế đã tổ chức cuộc họp trực tuyến với các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu kit-test xét nghiệm SARS-CoV-2", ông Lợi nói.

Trần Hằng

Đề phòng bệnh hãnh tiến, hiếu thắng

Có một điểm chung từ những vụ án, vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, đó là đối tượng phạm tội, vi phạm kỷ luật, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... là người trẻ chiếm tỷ lệ cao.

Khi chưa bị điều tra, xử lý, không ít người trong số họ từng được đánh giá là cán bộ có năng lực, doanh nhân giỏi. Một trong những nguyên nhân khiến họ suy thoái, vi phạm pháp luật đó là tính hãnh tiến, hiếu thắng, muốn thành công bằng mọi giá...

Từ những bài học nhãn tiền

Vụ án tiêu cực xảy ra tại Công ty Việt Á liên quan đến hành vi móc nối, cấu kết “thổi” giá vật tư y tế để trục lợi trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn quốc, đang tiếp tục làm “nóng” dư luận. Việc cơ quan chức năng tiếp tục mở rộng điều tra vụ án, nhiều cán bộ ở một số ngành, địa phương liên quan bị khởi tố, đã cho thấy quyết tâm chống tham nhũng đến cùng, không có vùng cấm trong xử lý vi phạm của Đảng, Nhà nước ta. Trong một diễn biến khác, vụ việc Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cô Tô (Quảng Ninh) Lê Hùng Sơn bị khai trừ ra khỏi Đảng vì vi phạm nghiêm trọng phẩm chất đạo đức, lối sống, cũng là đề tài bàn tán xôn xao của dư luận xã hội. Điểm đáng chú ý ở những vụ án, vụ việc được dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt này là những cán bộ, người đứng đầu bị xử lý thuộc diện cán bộ trẻ. Nhìn lại những vụ án, vụ việc tiêu cực bị cơ quan chức năng kiểm tra, điều tra, xử lý được công bố rộng rãi trên công luận thời gian qua, chúng ta thấy, tỷ lệ người trẻ “nhúng chàm” chiếm đa số. “Soi” hồ sơ, tiểu sử của những đối tượng này, nhiều người bày tỏ sự xót xa, tiếc nuối. Nhiều người trong số họ là cán bộ được đào tạo căn bản, có triển vọng, từng có thành tích xuất sắc trong lãnh đạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, được trao tặng những phần thưởng danh giá. Một số trường hợp từng được kỳ vọng là “hạt giống đỏ” của ngành, địa phương, doanh nghiệp...

Trẻ chơi game ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển. Ảnh: Báo Pháp luật.

Vậy, điều gì khiến họ sa ngã, suy thoái về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng? Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ rõ, nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất... Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đảng: “Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng...”. Sự nể nang, cục bộ... trong công tác cán bộ diễn ra ở không ít tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương đã vô hình trung đưa vào bộ máy những nhân tố hãnh tiến, hiếu thắng, tư tưởng mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Khi còn sống, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) có kể cho chúng tôi nghe câu chuyện nhỏ, đáng suy ngẫm. Chuyện là khi ông mới nghỉ hưu, một cán bộ tổ chức của địa phương đến nhà chúc Tết, có tham khảo ý kiến ông về một số nhân sự đang được quy hoạch nguồn cán bộ kế cận. Ông đã góp ý về một trường hợp cụ thể, rằng cậu ấy chưa đủ độ "chín" để giữ cương vị đó, cần thời gian rèn luyện, tu dưỡng thêm. Đưa một cán bộ trẻ có tư tưởng hãnh tiến, hiếu thắng, “ngựa non háu đá” vào vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền, rất dễ gây họa. Mặc dù vậy, dự kiến của tổ chức vẫn không thay đổi. Vị cán bộ trẻ vẫn được bổ nhiệm theo quy trình. Mới đầu, anh ta gây chú ý bởi một số tuyên bố, hứa hẹn trong những lần đăng đàn hội nghị. Nhưng sau đó thì có biểu hiện lộng quyền, làm trái nguyên tắc, quyết định những vấn đề vượt thẩm quyền, kết bè kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ và cuối cùng là bị xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác.

Dẫn một ví dụ như vậy để thấy, đưa cán bộ vào bộ máy thì dễ, nhưng khi cán bộ làm trái nguyên tắc, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, việc kiểm tra, điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ để loại bỏ họ ra khỏi bộ máy lại vô cùng khó khăn, phức tạp. Khi đưa được họ ra khỏi bộ máy thì tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó đã bị “ngấm đòn”, yếu kém, bết bát kéo dài, hậu quả để lại rất nặng nề.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân... Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ nhiều trường hợp còn nể nang, cục bộ...”.

Nhận diện, ứng xử với “ngựa non”

Tính hãnh tiến, hiếu thắng thường xảy ra ở một bộ phận người trẻ, cán bộ trẻ. Nguyên nhân chính là do quá trình tu dưỡng, rèn luyện chưa đủ, non kém nhận thức, yếu bản lĩnh, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện của những người này là thích thể hiện, thích được chú ý, muốn thành công bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn. Câu chuyện về anh thanh niên giả danh “thạc sĩ”, “bác sĩ” vào khu cách ly điều trị F0 ở TP Hồ Chí Minh đang gây xôn xao dư luận, cũng là một dạng biểu hiện của thói hãnh tiến, “ngựa non háu đá”...

Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, trọng dụng cán bộ trẻ là chủ trương lớn của Đảng. Đó vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, xây dựng đất nước hùng cường. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài...”.

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng, cần phải làm thật tốt công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí cán bộ. Đảng ta tin tưởng, kỳ vọng vào cán bộ trẻ, nhưng đó phải là những nhân tố hội tụ đủ cả đức lẫn tài. Chính đội ngũ cán bộ trẻ, nguồn nhân lực trẻ của Đảng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là lực lượng chủ lực tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị. Để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ uy tín và năng lực lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi đội ngũ cán bộ trẻ phải thực sự là đạo đức, là văn minh từ tư duy, lời nói, việc làm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng”.

Đến Đại hội lần thứ XIII, hệ thống các quy định, hướng dẫn, nghị quyết... của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, bảo đảm chặt chẽ, khoa học. Thực hiện nghiêm các quy định, Điều lệ Đảng, sẽ không có chuyện bố trí sai người, sai việc. Tuy nhiên, mầm mống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền... trong hệ thống chính trị vẫn luôn là nguy cơ gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng. Bởi vậy, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng. Chỉ khi việc học tập trở thành nhu cầu tự thân, việc làm tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên thì chủ trương, chính sách, đặc biệt là trong công tác cán bộ, mới thực sự có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đảng khuyến khích và có chủ trương bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đây là những đặc trưng, thế mạnh của cán bộ trẻ. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá... hoàn toàn đối lập với thói hãnh tiến, hiếu thắng, làm liều. Phân biệt những thuộc tính này đối với cán bộ trên thực tế không khó. Những cán bộ hội tụ đủ cả đức và tài, sự năng động, sáng tạo, đột phá của họ luôn hướng đến lợi ích chung, làm lợi cho tập thể, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Ngược lại, thói “ngựa non háu đá” của một bộ phận cán bộ hãnh tiến, hiếu thắng, thực chất là biểu hiện, hệ quả của tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. “Ngựa non háu đá” thì lực của những cú đá chỉ đủ lắc rung nhành cây, ngọn cỏ. Vấn đề là, khi đã biết đó là “ngựa non” thì tuyệt đối đừng để nó “sổng” vào khu hoa màu, tác hại khôn lường.

PHAN TÙNG SƠN - BÁO QĐND

Đừng vì ích kỷ mà tiếp tay cho cái xấu

Từ ngày tiễn bạn trai lên đường nhập ngũ, Hương luôn tự hào với quyết định của người bạn trai.

Chị học xong cao đẳng về làm cán bộ đoàn ở địa phương, còn anh tốt nghiệp đại học, mới ký hợp đồng làm công tác hành chính tại xã. Khi nghe anh tâm sự muốn viết đơn tình nguyện nhập ngũ, Hương và cả gia đình anh rất ủng hộ. Đôi bạn trẻ hẹn ước với nhau, ngày anh hoàn thành nghĩa vụ quân sự sẽ làm lễ cưới.

Vốn là cô gái thông minh, xinh xắn, Hương cũng được những chàng trai khác để ý. Trong đó có một người bạn cùng học phổ thông. Mấy ngày gần đây, người này liên tục gửi qua tin nhắn Zalo cho Hương những bài viết, hình ảnh trên mạng xã hội sai sự thật về quân ngũ; thậm chí, có cả những clip xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh người chiến sĩ quân đội, chia rẽ đoàn kết hậu phương... Với nhận thức của mình, Hương biết dụng ý của người đó không tốt. Điều chị lo lắng hơn là anh bạn này đang bị đầu độc bởi các thông tin xấu, thông tin sai sự thật.

Ảnh minh họa/ qdnd.vn

Hương đã nhiều lần thẳng thắn phản hồi rằng, anh đừng làm phiền Hương, đừng đọc và đừng tin vào những thông tin bịa đặt đó. Thế nhưng người này cố tình không hiểu ý chị.

Cực chẳng đã, Hương báo cáo với đồng chí Bí thư đoàn xã. Cả hai trực tiếp đến gặp và phân tích cho anh bạn kia hiểu, quân đội là trường học lớn, là nơi thanh niên rèn luyện, trưởng thành hơn. Trong lịch sử dân tộc, nếu không có những thanh niên sẵn sàng lên đường nhập ngũ, chúng ta sẽ không có hòa bình như ngày hôm nay. Giờ đây, trong thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, quân đội luôn xung kích trên tuyến đầu, là chỗ dựa tin cậy của nhân dân. Vì vậy, chúng ta không nên chia sẻ, luận bàn những thông tin không đúng sự thật đã được kẻ xấu cố tình tạo ra với mục đích xuyên tạc, kích động, lợi dụng để thực hiện mưu đồ bất chính. Hương cũng thẳng thắn nói với anh bạn đó rằng, đừng vì ích kỷ mà vô tình tiếp tay cho cái xấu.

Hương khẳng định rằng, chị luôn tin và tự hào vì bạn trai của mình đã trở thành một chiến sĩ quân đội-anh Bộ đội Cụ Hồ. Chị sẽ chờ đợi để lên xe hoa cùng anh khi anh hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc trở về. Là một cán bộ đoàn, Hương sẽ đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, với những luận điệu xuyên tạc để mọi người không bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng.

Nghe đến đây, người bạn đã nói lời xin lỗi và cam kết từ nay sẽ không xem, không tin những thông tin bịa đặt, thông tin xấu độc và không làm phiền Hương nữa!

TRẦN ANH - QĐND

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

Mưu đồ phía sau cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà”

Mới đây, ngày 17-2-2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn chống phá nhân dân, Đảng, Nhà nước ta với mức độ ngày càng quyết liệt. Trong đó, chúng luôn mượn danh vấn đề nhân quyền để xuyên tạc tình hình đất nước, hòng làm mất đi hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển trên trường quốc tế.

Mới đây, ngày 17-2-2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Phúc trình được công bố đi kèm với những phát ngôn hồ đồ của Phil Robertson.

Hồ đồ bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà”

Cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam” thực chất là tổng hợp các nội dung mà HRW xuyên tạc về tình hình Việt Nam trong thời gian năm 2004 đến năm 2022.

Trong đó, tập trung vào việc vu cáo, xuyên tạc rằng Việt Nam đang hạn chế quyền tự do đi lại và các quyền cơ bản khác của các "nhà hoạt động", những người bất đồng chính kiến, người "bảo vệ nhân quyền".

Bản phúc trình dài 66 trang, được công bố cùng với những phát biểu hồ đồ và áp đặt của ông Phil Robertson, Phó giám đốc Ban Á châu của HRW: “Chính quyền Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các quyền dân sự và chính trị, khiến các nhà hoạt động và các nhà bất đồng chính kiến luôn phải đối mặt với rủi ro thường trực... “Nhà cầm quyền áp dụng các chiến thuật lạm dụng nhân quyền như quản chế các nhà hoạt động tại gia vô thời hạn, câu lưu khi họ rời khỏi nhà, và cấm xuất cảnh trên cơ sở các lý do an ninh quốc gia ngụy tạo.”

Bản phúc trình còn xuyên tạc trắng trợn: “Nhà cầm quyền đã áp dụng nhiều phương pháp để kiềm tỏa người dân tại gia, như cử các nhân viên an ninh mặc thường phục đóng chốt ngoài tư gia, khóa cửa ra vào của người bất đồng chính kiến bằng khóa ổ, thậm chí đổ keo đa năng vào các ổ khóa, dựng rào chắn và các chướng ngại vật, và huy động côn đồ địa phương đe dọa người dân.”

Để chứng minh cho những luận điệu vớ vẩn, áp đặt trên, HRW nêu lại các sự kiện quấy rối của các tay sai đắc lực trong quá trình chống phá đất nước ta như:  Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy.

Đây là những đối tượng thường xuyên làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các đối tượng này đã bị bắt và đang phải ngồi tù vì nhiều tội danh liên quan đến việc chống lại lợi ích dân tộc Việt Nam. HRW tuyên bố có hơn 170 nhà hoạt động, blogger và nhà bất đồng chính kiến, cùng với người thân của họ được đưa vào bản phúc trình.

HRW thường xuyên bôi đen về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. 

Nhận diện mưu đồ chống phá đằng sau “bản phúc trình”

Thực tế, lâu nay, các thế lực thù địch “khoác áo” nhân quyền để chống phá đất nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau như: Kêu gọi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”; phản đối việc bắt các tay sai mà chúng gọi là “nhà hoạt động”; phản đối, kêu gọi tẩy chay các bản án xét xử các đối tượng mà chúng đã lôi kéo thành công...

Các hình thức chống phá này được “nhai đi nhai lại” với mưu đồ là nói mãi điều sai sẽ thành điều đúng. Tuy nhiên, những năm gần đây, quần chúng nhân dân đã nâng cao cảnh giác, không nghe theo các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, các tay sai phản động lần lượt bị cơ quan chức năng kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa nên các “chân rết" của chúng bị chặt đứt dần dần.

Vì vậy, bản phúc trình nói trên thể hiện sự bế tắc của các thế lực thù địch khi mà không còn nhiều người trong nước bị lôi kéo, mua chuộc. Cực chẳng đã, chúng đành phải “chuyển hướng” xuyên tạc, bôi nhọ về quyền tự do đi lại của những kẻ phản bội. Bản phúc trình cũng thể hiện một “hướng” chống phá mới của các thế lực thù địch.

Đó là, khi chưa có những “quân tốt thế mạng” (như Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy) thì triệt để tìm những chuyện “bên lề” để hạ thấp hình ảnh Việt Nam.

Cách thức này như một chiếc áo được chúng “khoác” lên các tổ chức nhân quyền mà HRW là điển hình. Từ đó, chúng hướng các tổ chức nhân quyền khác làm theo và lập nên cái gọi là “hồ sơ nhân về quyền thông thường” ở Việt Nam và nhiều nước khác.

Công bố cái gọi là bản phúc trình, HRW đã “lòi đuôi cáo” khi Phil Robertson nói: “Các nhà tài trợ và đối tác thương mại của Việt Nam cần nhận thức được sự cản trở đối với quyền tự do đi lại đang diễn ra hằng ngày và gây sức ép để chính quyền Việt Nam chấm dứt cách hành xử gây tê liệt người dân như thế.”

Rõ ràng, mục đích chính của chúng là làm méo mó hình ảnh của đất nước ta trên trường quốc tế. Từ đó, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các đối tác thương mại tẩy chay Việt Nam. Về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội; từ đó, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thực chất, HRW không vì nhân quyền ở Việt Nam.

Tất nhiên, với các tổ chức nhân quyền như HRW, ngoài việc tài trợ của các thế lực thù địch thì việc tuyên bố các bản phúc trình như trên cũng không ngoài mục đích kêu gọi tài trợ.

Vì thế mà trên website của tổ chức này luôn hiện từ “donate now” (ủng hộ ngay bây giờ); và, sau mỗi bài viết đều có một biểu mẫu kêu gọi: “Món quà được khấu trừ thuế của bạn có thể giúp ngăn chặn vi phạm nhân quyền và cứu sống khắp nơi trên thế giới. Ủng hộ ngay: 50$, 100$, 250$...”.

Và tất nhiên, số tiền tài trợ, ủng hộ cho tổ chức này sẽ không được sử dụng để bảo vệ nhân quyền mà chỉ nhằm chống phá những đất nước không cùng “phe” với chúng.

 Thông điệp kêu gọi tài trợ sau mỗi bài viết của HRW.

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) là một tổ chức phi chính phủ thành lập năm 1978, có trụ sở tại thành phố New York, Hoa Kỳ cùng văn phòng ở thủ đô và thành phố lớn nhiều nước như Hà Lan, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Canada...

HRW dưới danh nghĩa “nhân quyền” để thành lập các tổ chức hoạt động chống chủ nghĩa xã hội. Từ đó, tạo cớ để Mỹ, các nước phương Tây tăng cường hoạt động tác động về tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền rồi tiến hành xoá bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, Liên Xô trước đây.

HRW bị nhiều quốc gia phản đối vì không bảo vệ quyền con người theo đúng nghĩa mà ngược lại, thường tìm cách can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan chức năng một số nước.

Đối với Việt Nam, HRW cổ súy, tán dương với những nhân vật hoạt động chống đối Nhà nước, vi phạm pháp luật. Tổ chức này thường xuyên phác thảo ra những bản báo cáo, phúc trình xuyên tạc tình hình nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam.

Trần Lâm - Báo QĐND online

Một góc nhìn nghệ thuật An Nam

So với các vấn đề lịch sử, văn hóa, tập tục, dân tộc học hay địa lý nhân văn, nghệ thuật An Nam không được các học giả Pháp đầu thế kỉ XX dành quá nhiều bận tâm và nỗ lực khảo cứu kĩ lưỡng. Tuy vậy, mô hình tiếp cận và các quan điểm, nhận định của họ thì vẫn có nhiều điểm khả thủ dành cho độc giả hôm nay muốn tìm hiểu đa chiều hơn về lịch sử nghệ thuật nước nhà.

1. Năm 1933, Henri Gourdon (1876-1943), người từng đảm nhận chức Giám đốc (đầu tiên) của Nha học chính Đông Dương, đã công bố một khảo cứu ngắn có tên “Nghệ thuật xứ An” Nam (L'art de l'Annam). Cuốn sách không hẳn là sự bổ sung nhưng chắc chắn có ý nối tiếp, làm rõ hơn những gì mà học giả trước đó, Léopold Cadière (1869-1955), trình bày một cách công phu trong chuỗi bài nghiên cứu nghệ thuật Huế đăng trên tạp chí Những người bạn cố đô Huế (BAVH) từ tháng 1 - 3 năm 1919.

Cũng giống như Léopold Cadière, H. Gourdon không vội vàng bàn thẳng vào nghệ thuật mà trước tiên dựng lại đôi nét về đất nước, con người và lịch sử An Nam, một bối cảnh mà ông tin rằng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh thành, phát triển và đặc trưng nghệ thuật nơi đây. Việc dựng lại này, tuy thoáng qua và có không ít tri thức cần xem lại, vẫn bắt gặp nhiều chi tiết đáng lưu ý vì nó phần nào thể hiện một nhãn quan dân tộc học khá tinh tế: “công cuộc nam tiến” của người Việt tạo nên sự đa dạng của thành tố không gian; địa vị của phụ nữ An Nam cao hơn hẳn so với các phụ nữ trong các xã hội phương Đông khác; sự phức tạp đến khó hiểu trong tư tưởng tôn giáo của người An Nam sẽ chi phối trực tiếp và mạnh mẽ vào các sản phẩm nghệ thuật, từ kiến trúc (lăng mộ) đến các đồ thủ công mỹ nghệ liên quan đến việc thờ cúng hoặc thực hành tôn giáo.

Tiếp nối quan điểm của Léopold Cadière, H. Gourdon cho rằng đặc điểm chung của nghệ thuật An Nam bắt nguồn từ “nỗi ám ảnh tín ngưỡng”, vì thế, thứ “ngôn ngữ trang trí” trong các đồ thêu, chiếc bình hay một tấm hoành phi, đều “hoàn toàn vay mượn từ nội hàm thần bí của những tín ngưỡng dân gian hoặc những tôn giáo”. Một tư duy nghệ thuật gắn với chức năng nghi lễ, như vậy, sẽ giải thích vì sao truyền thống nghề kim khí, nghề mộc, nghề sơn đôi khi chỉ nằm ở mức độ “thợ” chứ không thể đạt tới tư cách nghệ sĩ độc sáng với cái tôi riêng có của mình.

Từ căn nền chủ nghĩa cá nhân của phương Tây, Gourdon không khỏi ngạc nhiên, thậm chí, có phần nặng lời vì “sự tự nguyện cúi đầu trước các bậc thầy xa xưa” của những người thợ thủ công, khiến nghệ thuật An Nam “chủ yếu mang tính vô danh” và bản thân ông “không tìm thấy tác phẩm nào có ký tên tác giả”.

Gourdon cũng nhắc lại một lý do xác đáng cho vấn đề này: thợ thủ công giỏi thường bị triều đình tuyển mộ một cách độc đoán. Trong trường hợp đó, người thợ coi như bị kết án lao động suốt đời, phải tuân theo kỷ luật như binh lính, không được phép phàn nàn khi bị thất sủng. Hoàn cảnh phải che giấu tên tuổi như thế, theo Gourdon, gây khó khăn cho việc phân loại “các trường phái và xác định các phong cách”, nhất là khi dữ kiện và tư liệu để nghiên cứu nghệ thuật An Nam vào thời điểm đó (đầu thập niên 1930) mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu.

Hai khảo cứu của người Pháp về nghệ thuật Việt Nam: “Nghệ thuật xứ An Nam” của
H. Gourdon và “Nghệ thuật Huế” của Léopold Cadière và Edmond Gras.

2. Là một nhà giáo dục, H. Gourdon chắc không có tham vọng mô tả và phân tích trọn vẹn nghệ thuật An Nam. Tuy vậy ông vẫn đưa ra mô hình tiếp cận khá bài bản, hợp lí: đi từ kiến trúc bởi nó là “nền tảng để những môn nghệ thuật khác phái sinh”, đến điêu khắc và hội họa và dừng lại ở nghề thủ công mỹ nghệ.

Trong kiến trúc An Nam, Gourdon đặc biệt chú ý đến kiến trúc quân sự (điển hình như thành nhà Hồ và thành Đồng Hới), cung điện, kiến trúc tôn giáo và lăng mộ. Vì chú mục vào “sự tồn tại” nên ông chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực Huế (với 140 công trình và địa điểm thờ cúng thống kê được), và tỏ tiếc nuối vì “sự vắng bóng những công trình cổ” ở các vùng khác.

Phạm vi thực địa không lớn nên gây cảm giác chưa kĩ lưỡng ở vài hạng mục (chẳng hạn, phần viết về kiến trúc dân sự “nhà ở” không chi tiết bằng một học giả Pháp cùng thời là Pierre Gourou trong công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, 1936). Nhưng nhìn tổng thể, Gourdon vẫn có những quan sát, phát hiện sắc sảo, hấp dẫn. Đó là khi ông bình phẩm về điêu khắc và hội họa thường khai thác từ “những chủ đề quan thuộc được rút ra từ các điển tích”; thợ điêu khắc tượng thì “óc sáng tạo rất tốt đối với những con vật tưởng tượng”; nghề khảm trai là nghề “đạt đến mức hoàn thiện”. Gourdon đặc biệt chú ý các vật liệu sử dụng tuy “khiêm nhường” nhưng rất hiệu quả khi chế tác: tre, cói, giấy dó, da trâu… Chúng góp phần tạo ra đặc tính bản địa trong các sản phẩm thoạt tiên tưởng tầm thường, nhỏ bé.

Nếu đồng ý với H. Gourdon, chúng ta có thể tự hào về một số nghề thủ công mỹ nghệ giàu tính nghệ thuật vẫn còn duy trì đến hôm nay. Chẳng hạn như nghề khảm trai. Đây là công việc mang tính cá nhân rất cao. Khác với các thợ thủ công trang trí đình chùa thường phải tuân theo những khuôn mẫu có sẵn, thợ khảm trai (vốn cung cấp mặt hàng cho “dân chơi” lắm tiền nhiều của) có thể tung tẩy trổ tài, thêm bớt màu sắc, đường nét và thần thái, bố cục khi chế tác.

Tương tự, khi Gourdon ấn tượng với những pho tượng tạc chân dung “những vị sư trụ trì quá cố” thì có thể thấy tay nghề của người thợ ở đây đã chủ động, tự do hơn. Họ không còn bị ràng buộc vào quy chuẩn làm tượng có tính ước lệ (để đặt trong gian thờ) mà hướng đến sự đơn giản, chân thật dựa trên hình mẫu sống hoặc theo trí nhớ. Tuy nhiên, đúng như H. Gourdon cảm nhận, các sản phẩm hội họa (theo nghĩa là những sáng tạo của một cá nhân xác thực như trong hội họa phương Tây) thì không tồn tại trong lịch sử An Nam ngay cả khi dòng tranh dân gian phát triển đa dạng.

Lý do có thể vì môi trường khí hậu có độ ẩm lớn và không gian tôn giáo (chùa, đình, đền) không có chỗ cho treo tranh đã tước mất năng khiếu hội họa của người thợ. Hơn nữa, để có một nền hội họa phát triển, các điều kiện kinh tế và chính trị cũng phải ổn định, bền vững trong khi quá trình tạo dựng quốc gia Việt thời trung đại lại có quá nhiều biến động, thiên tai địch họa.

Như để nhấn mạnh tầm quan trọng của người Pháp, H. Gourdon đã chỉ ra những biến đổi tích cực sau khi nghệ thuật truyền thống được gặp gỡ, tiếp xúc với phương Tây. Nổi bật hơn cả là các bảo tàng được thành lập để tiếp nhận những tác phẩm đẹp nhất, ngăn chặn thất thoát những món đồ giá trị; bộ máy hành chính Pháp khuyến khích, chăm chút thợ thủ công, tạo cho họ những thị trường tiêu thụ mới. Và không thể bỏ qua Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với mục đích truyền đạt, diễn giải tư duy kiểu Pháp đến nghệ sĩ bản xứ. Là người chứng kiến những thành tựu bước đầu của ngôi trường này, Gourdon đã chốt lại cuốn sách bằng niềm tin “vào sự hình thành một trường phái An Nam thực thụ với những xu hướng và cách thức thể hiện riêng”.

3. Mang tính cách giới thiệu, dẫn nhập nhưng “Nghệ thuật xứ An Nam” nhanh chóng trở thành tài liệu tham khảo cho các trí thức Việt Nam bấy giờ, đặc biệt trong hai công trình vang danh là “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938) và “Văn minh Việt Nam” (1944). Đào Duy Anh không chỉ trích nguyên nhiều nhận định mà còn triển khai rõ thêm một số ý của Gourdon. Chẳng hạn, về tình trạng quanh quẩn trong phạm vi chật hẹp và tính chất tôn giáo, Đào Duy Anh cho rằng “nước ta là một nước nghèo, sự sinh hoạt của người thường không thể kích thích nghệ thuật được, mà các bậc vua chúa công khanh đối với nhà nghề lại chỉ một mặt áp chế, cho nên nghệ thuật phải xoay về tôn giáo để sống trong cái hoàn cảnh siêu tự nhiên đầy những điều bó buộc”.

Còn Nguyễn Văn Huyên, trong công trình kinh điển “Văn minh Việt Nam”, dù chỉ dành dung lượng rất nhỏ để bàn về nghệ thuật, nhưng cũng đã chỉ ra nét cơ bản của nó và một lần nữa, nhấn mạnh “họa sĩ và nhà điêu khắc chỉ là một người phụ trợ của kiến trúc sư. Nền kiến trúc này chủ yếu có tính chất tôn giáo”. Rõ ràng, đã có một sự cộng hưởng giữa các học giả bản xứ và ngoại quốc. Từ đó, rộng hơn, những tương tác học thuật đóng vai trò chìa khóa quan trọng để thúc đẩy sự thông hiểu lẫn nhau về văn hóa.

Ngày nay đọc lại, cuốn sách của H. Gourdon vẫn nhắc nhở chúng ta nhiều điều. Đáng chú ý là thói quen “dễ dàng chấp nhận phá bỏ các công trình cũ để lấy vật liệu tái sử dụng cho công trình mới” mà chúng ta không khó kiểm chứng trong cái gọi là trùng tu di tích hiện nay. Không có tư duy và phương pháp trùng tu đúng đắn, như Gourdon cảnh báo, sẽ gây hại rất lớn đến nghệ thuật kiến trúc. Thứ nữa, nghệ nhân An Nam cũng rất dễ mủi lòng và nhanh chóng chạy theo các gu thẩm mỹ lai tạp một khi các sản phẩm được hàng hóa hóa. Bản tính “năng nhặt chặt bị” hàng xén ấy khiến nghệ thuật truyền thống, điều chúng ta lấy làm tự hào và kêu gọi phục dựng, đang bị manh mún trong các cửa hiệu đồ lưu niệm khắp chốn.

Sau hết và là điều khiến tôi thắc mắc rằng tại sao xã hội ngày càng chạy đua làm những vật phẩm “hoành tráng”, “siêu to khổng lồ” (từ món bánh chưng, bánh dày trở đi) để thiết lập kỷ lục, trong khi, như Gourdon tỏ lòng ngưỡng mộ, người Việt chỉ tôn thờ sự khéo léo, trau chuốt, sự tỉ mẩn, độ khó của hình mẫu ở các vật phẩm cỡ nhỏ và vừa. Liệu chúng ta có đang ham hố chứng thực một điều gì ngoài tầm với năng lực và sở trường của mình không?

Mai Anh Tuấn - Báo điện tử CAND

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

Lầu Năm Góc vẽ kịch bản xe tăng Nga tràn vào chiếm Kiev

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin cho rằng kịch bản xe tăng Nga tràn vào chiếm đóng thủ đô Kiev của Ukraine "khả năng cao" sẽ xảy ra nếu Moscow thực sự động binh với quốc gia láng giềng.

Trong cuộc phỏng vấn với đài ABCNews hôm 20/2 (giờ địa phương), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin một lần nữa cảnh báo khả năng Nga động binh với Ukraine, đồng thời khẳng định Moscow hiện duy trì nhiều xe tăng, thiết giáp, pháo và lực lượng tên lửa gần biên giới phía Tây.

Xe tăng của Nga tham gia các hoạt động huấn luyện. Ảnh: ITN

Khi được hỏi liệu xe tăng Nga có tiến vào thủ đô Kiev của Ukraine hay không, ông Austin nói: "Điều đó có khả năng cao sẽ xảy ra. Bạn có thể thấy điều đó. Bạn có thể thấy một sức mạnh chiến đấu đáng gờm tới hạ gục Kiev".

Theo lời quan chức quốc phòng Mỹ, trong trường hợp một cuộc chiến như vậy xảy ra, thương vong dân sự là khó tránh khỏi, bên cạnh các nguy cơ về người tị nạn. "Điều đó thật sự rất nguy hiểm", ông nói.

Tuy nhiên, khác với quan điểm của Mỹ, Ukraine khẳng định họ chưa thấy bất cứ dấu hiệu nào cho thấy Nga chuẩn bị động binh. Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Alexey Reznikov ngày 20/2 nói rằng, Nga đến nay chưa hề thành lập đơn vị tấn công nào gần biên giới.

"Theo quan điểm của tôi, những cảnh báo về một cuộc tấn công có thể xảy ra ngày mai hay ngày kia là không phù hợp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nguy cơ này là thấp, không có nghĩa không có mối đe dọa nào", Bộ trưởng Reznikov nói.

Trước đó, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cũng tỏ ra hoài nghi trước thông tin từ phương Tây về khả năng Nga động binh, đồng thời nhấn mạnh những lời đe doạ chiến tranh sắp xảy ra đã tác động xấu đến kinh tế cũng như sức khoẻ tinh thần của người Ukraine.

Thái Hà - Báo CAND

“Bắt đúng bệnh, tìm đúng thuốc”

(TG) - Bắt đúng những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên thường mắc phải để có phương thuốc phòng ngừa, chữa trị kịp thời, không để biến chứng, lây lan là công việc hết sức quan trọng nhằm tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.



NHỮNG CĂN BỆNH DỄ MẮC

Cần thẳng thắn thừa nhận thực tế là từ khi nước nhà thống nhất cho đến nay có thời gian, có nơi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”(1)

Từ đánh giá đó, Đảng ta đã đi vào “mổ xẻ từng ung nhọt trên cơ thể mình”. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ các căn bệnh chính của cán bộ, công chức, đảng viên đó là: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.v.v... Các căn bệnh như đã nêu được Đảng ta quy thành hai nhóm, đó là những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và nhóm những việc làm sai trái trong công tác cán bộ mà cụ thể là tình trạng chạy chức, chạy quyền.

Nguyên nhân cơ bản của những căn bệnh trong Đảng và hệ thống chính trị dù ở nhóm nào cũng từ chủ nghĩa cá nhân (CNCN) mà ra. Đảng ta coi CNCN như một thứ vi trùng vô cùng độc hại gây ra đủ các thứ bệnh rất nguy hiểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng ta xác định, đấu tranh chống CNCN là một nội dung trọng tâm và cũng là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Có thể nói Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, vấn đề còn lại là tìm “đúng thuốc” để phòng ngừa, chữa trị.

Những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên dễ mắc phải không khó để nhìn thấy, nhận thấy nhưng khi đi vào mổ xẻ, phân tích để công khai, chỉ tên từng con người cụ thể là việc không hề đơn giản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác...”(2). Mục đích của tự phê bình và phê bình theo đúng nghĩa rất nhân văn và hữu ích. Nhưng với không ít người sau khi đối mặt với phê bình, chỉ trích, danh dự, uy tín bị ảnh hưởng đã sa sút ý chí phấn đấu, giảm sút tinh thần, thậm chí có người tìm cách trả đũa người đã phê bình mình... Nói như thế để thấy cuộc đấu tranh phòng ngừa, điều trị những căn bệnh trong Đảng rất khó khăn, phức tạp.

Dân gian có câu "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Những lời chỉ trích mạnh mẽ, những hình thức xử lý kỷ luật dù khó chấp nhận, nhưng lại góp phần rất quan trọng vào sự phát triển, thành công của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên cũng như từng tập thể, tổ chức trong Đảng và hệ thống chính trị. Trong 5 năm (2016 - 2020), hơn 25.000 cán bộ, đảng viên suy thoái, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị kỷ luật, trong đó hơn 8.200 đảng viên bị xử lý kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, hơn 15.000 cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống; hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có 27 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương và 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị… Những con số biết nói ấy đã phần nào thể hiện rõ tinh thần quyết tâm, tính chất quyết liệt của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Sự dũng cảm, mổ sẻ và kiên quyết chặt bỏ những “cành sâu mọt” ấy không làm Đảng ta yếu đi mà thực sự đã và đang làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên. Nhiều mặt hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra đã được khắc phục. Bước đầu chúng ta đã ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định trong xã hội ta công tội rõ ràng, tốt xấu phân minh, trắng đen không thể lẫn lộn. Đảng và Nhà nước ta không thể để những người suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự tung tự tác làm tổn hại tới thanh danh của Đảng và hệ thống chính trị.

Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần cảnh báo, răn đe, giáo dục với đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên trong Đảng và hệ thống chính trị; làm cho xã hội trong sạch, lành mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố và tăng cường. Đây là nguồn động lực to lớn để Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.


XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG GẮN VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt những nhiệm kỳ gần đây của Đảng đã khẳng định: Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng góp phần rất quan trọng có tính quyết định vào thành tựu chung của đất nước. Nhờ những kết quả đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; TSVM hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố, nâng cao hơn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là bài học quý báu, là vấn đề then chốt quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta. Nhận thức cho đúng đắn, sâu sắc về vị trí, ý nghĩa và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là hết sức quan trọng.

Tạo bước chuyển mới trong nhận thức không chỉ là cơ sở nền tảng mà còn là chìa khóa phát huy tinh thần trách nhiệm, nêu cao ý chí, quyết tâm, kiên quyết, kiên trì, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết vượt khó trong quá trình thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Đảng ta. Bước chuyển trong nhận thức chính cũng là cơ sở để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức, thái độ nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Chính vì thế trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của các tổ chức đảng cũng như cá nhân các đảng viên, yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải nâng cao nhận thức.

Một trong những kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Muốn tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đưa công tác này lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM thì trước hết đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên của Đảng phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung của nhiệm vụ “then chốt” này. Mới đây, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: “Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của kết luận và quy định, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện”(3).

Ý thức rõ sự cần thiết phải tạo được bước chuyển biến mới về nhận thức nên thời gian qua các tổ chức đảng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến, quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn những khoảng trống. Những biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn, chưa sâu sắc về nhiệm vụ “then chốt” vẫn tồn tại ở một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Tồn tại đầu tiên trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”(4).

Thực tế tại nhiều địa phương, không phải cán bộ, công chức, đảng viên nào cũng hiểu rõ tính chất quan trọng, cấp bách, cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Một nguyên nhân dẫn đến hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị xử lý kỷ luật trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đó là nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn hời hợt, nên tổ chức thực hiện chưa tốt, có biểu hiện xem nhẹ, hình thức.

Chủ trương tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Vậy mà trong một số ít cán bộ, đảng viên xuất hiện những suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm sai trái khi cho rằng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là hai công việc khác nhau. Xây dựng hệ thống chính trị là công việc của chính quyền. Đảng gắn hai công việc đó là lạm quyền, khiên cưỡng, không phù hợp. Việc Đảng ta ban hành các quy định cũng có ý kiến cho là chồng chéo, không cần thiết bởi các nội dung ấy điều lệ, pháp luật đã quy định rồi...

Đây là khoảng trống rất nguy hiểm trong nhận thức của cán bộ, công chức và đảng viên. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khoảng trống này bóp méo, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng ta.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt coi trọng và nâng lên một tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Mấu chốt để thực hiện có hiệu quả công tác “then chốt” này là phải khắc phục cho được những hạn chế trong nhận thức.

Để làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ và toàn diện nhiều biện pháp. Trước hết, phải tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục làm cho mọi cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ trì, chủ chốt, đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị nhận thức đúng đắn, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Thông qua tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ về sự phát triển mới của Đảng ta.

Thực tiễn cho thời gian qua cho thấy năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Hệ thống chính trị ở nước ta chưa thực sự TSVM như mong muốn; không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự;... Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” nhưng trước thực trạng trên, tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Như vậy, không chỉ đề cập đến công tác xây dựng Đảng mà song hành Đảng ta xác định phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Sự phát triển này là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất quan trọng, đòi hỏi các cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức cho rõ ràng và sâu sắc.

Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục cần làm cho cán bộ, công chức, đảng viên hiểu rõ Hiến pháp 2013 và Điều lệ Đảng đã quy định Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hay nói cách khác, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, địa vị cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng ta. Cán bộ, công chức, đảng viên cần hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng trái chiều như đã nêu là do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ hoặc kẻ xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá.

Do đó cùng với công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là lực lượng chuyên trách phải dũng cảm, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức sai lệch, những tư tưởng, quan điểm sai trái nhằm phá hoại công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị TSVM của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG

Thực tiễn đã khẳng định, chính sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với Dân là cội nguồn sức mạnh để Việt Nam có được cơ đồ, vị thế như ngày nay. Thấu hiểu rất rõ điều ấy nên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta “được nhân dân đặt nhiều kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình ủng hộ,…”(5)

Thực tế đã cho thấy sự tin tưởng, mong mỏi và kỳ vọng của nhân dân ở Đảng và Nhà nước ta là rất lớn. Kết quả điều tra xã hội học của Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy: Tuyệt đại đa số nhân dân khẳng định quyết tâm đi theo Đảng, ủng hộ Đảng đến cùng vì mục tiêu cao cả chăm lo, bảo vệ lợi ích tối cao và toàn diện của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Thực trạng hàng chục nghìn cán bộ, công chức, đảng viên vi phạm kỷ luật, vướng vào vòng lao lý đã thể hiện rõ sự dũng cảm, tinh thần quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn, gột rửa mọi dơ bẩn bấy lâu nay và nhìn nhận đó là việc cần làm, phải làm để Đảng và hệ thống chính trị của ta thực sự TSVM, thực sự vì dân, vì nước. Nhân dân mong muốn và kỳ vọng Đảng ta trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Nếu Đảng ta không nhận thức đúng, trúng vấn đề và hành động một cách quyết liệt thì những căn bệnh của Đảng sẽ không được chữa trị kịp thời, giống như những “cục máu đông” làm cho cơ thể Đảng yếu kém, suy sụp.

Đảng ta cũng xác định phải đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong tổng thể thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ... Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải đặt trong mối quan hệ với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả nước, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng ta và chế độ XHCN ở Việt Nam. Quyết tâm, quyết liệt nhưng Đảng ta cũng xác định rõ không được nóng vội, chủ quan mà phải thận trọng, từng bước đi đúng đắn, phù hợp. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng”(6).

Để triển khai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng ấy, Đảng ta xác định phải triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả nhiều giải pháp như: Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, nhất là giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức, đảng viên; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là cơ chế kiểm soát quyền lực; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội;…

Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là phát huy tính tích cực, chủ động tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của cán bộ, công chức, đảng viên. Từng cán bộ, đảng viên phải biết tự nhìn nhận, soi xét lại mình, tự chỉnh sửa mình cả trong công tác và cuộc sống. Sự chuyển biến tiến bộ thực sự chính là thước đo nhận thức, ý thức trách nhiệm, hiệu quả quá trình rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống và chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên.

Trước yêu cầu mới của cách mạng, trước thực trạng tình hình, tuyệt đại đa số nhân dân cho rằng việc Đảng ta xác định tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là đúng, trúng và rất cần thiết. Cán bộ, công chức, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng rằng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp, với quyết tâm chính trị rất cao, được nhân dân tin tưởng, đặt nhiều kỳ vọng, đồng tình ủng hộ, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII mà trực tiếp nhất là các Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng TSVM, thật sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc; hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là “công bộc của dân”./.

Phùng Kim Lân

--------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2012, tr. 21.

(2) (3) (4) (5) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

(6) Phát biểu bế mạc của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

Giữ "phương diện quốc gia"

“Nghĩ mình phương diện quốc gia/ Quan trên trông xuống người ta trông vào...”. Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 18-11-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, đã lẩy Kiều để nhắc nhở cán bộ phải tỉnh táo, giữ mình trong sạch.

Cách nói tu từ, dân dã, có ý nghĩa sâu sắc của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta được nhiều người trong giới chuyên gia, cán bộ lãnh đạo, quản lý... học tập, vận dụng để tự răn mình, góp phần nâng cao công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, suy thoái..., thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Lợi dụng tiêu cực của cán bộ để xuyên tạc hình ảnh quốc gia

Sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, đời sống kinh tế-xã hội của cả nước đã có sự khởi sắc tích cực trên nhiều lĩnh vực. Chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19 mang lại khí thế, diện mạo mới cho môi trường sản xuất, kinh doanh, tái hoạt động các đường bay quốc tế, từng bước đón du khách từ các quốc gia, vùng lãnh thổ đến Việt Nam.

Hoạt động thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại ở nhiều địa phương, vùng kinh tế trọng điểm đã tăng tốc ngay từ đầu năm mới. Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2-2022 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 17-2 cho thấy, nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2022 có sự phục hồi tích cực. Dù xuất khẩu hàng hóa tháng 1-2022 giảm so với tháng trước do ảnh hưởng của nghỉ Tết Nguyên đán, nhưng cán cân thương mại hàng hóa vẫn thặng dư 1,4 tỷ USD. Cam kết và giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiến  triển tích cực.

Việt Nam thu hút 2,1 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong tháng 1-2022, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, việc chăm lo an sinh xã hội cho đồng bào trước, trong và sau Tết Nguyên đán đã trở thành phong trào thiện nguyện, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và kiều bào yêu nước. Những thành tích, dấu ấn tích cực ấy đã thể hiện rõ nét tính ưu việt của văn hóa Việt Nam, bản chất nhân văn xã hội chủ nghĩa và sự đoàn kết, thống nhất, gắn bó giữa Đảng với dân.

Tuy nhiên, bức tranh kinh tế-xã hội đất nước đầu năm 2022 vẫn có những mảng tối, tiêu cực. Và đây chính là cái cớ để các phần tử cực đoan chính trị, có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác, khoét sâu, tăng cấp độ, quy mô, tính chất xuyên tạc, chống phá.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu kết luận cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 18-11-2021. Ảnh: TTXVN

Vụ việc tiêu cực từ Công ty Việt Á, vụ việc nhận hối lộ xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), việc kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra ở một số cơ quan, đơn vị... đã bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, bóp méo, bôi đen, nhằm ý đồ lèo lái dư luận, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Trên một số trang mạng xã hội như “Việt Tân”, “RFA Tiếng Việt”, “Tiếng dân”, “Hội tù nhân lương tâm”, “Diễn đàn dân chủ”... và tài khoản của một số đối tượng cực đoan, có tư tưởng thù địch, xuất hiện nhiều bài viết, clip có nội dung xuyên tạc.

Chúng bám vào những vụ việc tiêu cực đó để chỉ trích Chính phủ và hệ thống chính trị, quy kết lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ hình ảnh quốc gia, vị thế dân tộc, kêu gọi các nhà đầu tư và du khách quốc tế tẩy chay Việt Nam. Với chiêu bài lấy hiện tượng quy kết bản chất, lấy cái cá thể chụp mũ tổng thể, các thế lực thù địch và đối tượng phản động cho rằng, “Việt Nam là đất nước của tham nhũng, tiêu cực”, rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng vì Việt Nam chỉ do một đảng lãnh đạo, một đảng thì không thể có dân chủ, không thể chống được tham nhũng”...

Trước những luận điệu xuyên tạc ấy, công chúng yêu nước dễ dàng nhận ra bản chất, bộ mặt của những đối tượng, tổ chức mang tư tưởng thù địch với đất nước. Mấy tháng trước, khi đại dịch Covid-19 hoành hành, chúng đã kích động, rêu rao rằng “công tác phòng, chống dịch của Việt Nam đã thất bại”, “Việt Nam chống dịch kém nhất thế giới”...

Đến khi chúng ta khống chế dịch thành công, chuyển sang thích ứng an toàn với dịch Covid-19, phục hồi các hoạt động kinh tế-xã hội, thì chúng lại chuyển sang bám vào những vụ việc tiêu cực, những mảng tối của “hậu Covid-19” để xuyên tạc, kích động chống phá. Không ít đối tượng nhân danh hoạt động “phản biện”, “góp ý”, “đấu tranh”... ra sức bôi đen hình ảnh đất nước, hạ thấp uy tín quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế. Mục đích của chúng là hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên méo mó, lệch lạc trong mắt kiều bào và bạn bè quốc tế, phá hoại công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước. 

Bổn phận công bộc trong giữ gìn "phương diện quốc gia"

Từ điển tiếng Việt giải thích “phương diện quốc gia” từ ý thơ của cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là: “Vị quan đảm đương công việc một vùng đất nước”. Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm.

PHAN TÙNG SƠN - BÁO QĐND

Cần nhìn nhận khách quan trong đánh giá của cơ quan ngoại giao nước ngoài

Ngày 18/2, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin.

Ảnh: đối tượng Phạm Thị Đoan Trang

Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, được triển khai thực hiện trong thực tế và được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam trong thời gian qua. Phạm Thị Đoan Trang bị bắt giữ và xét xử do có những hành động vi phạm pháp luật nhiều lần, nghiêm trọng, liên hệ với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm trái phép có nội dung tuyên truyền, hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam” - bà Phạm Thu Hằng nêu rõ.

Liên quan việc Phạm Thị Đoan Trang bị xét xử theo pháp luật Việt Nam, hôm 14/12/2021, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price cũng ra “tuyên bố báo chí”, lên án và kêu gọi trả tự do cho Phạm Thị Đoan Trang. Trong tuyên bố còn cho rằng, hành vi phạm pháp của Trang thể hiện “nỗ lực thúc đẩy nhân quyền và quản trị tốt ở Việt Nam”.  Trong khi đó, một số tổ chức lấy mác “quốc tế” cũng đưa ra các “giải thưởng nhân quyền” và nhắm vào Phạm Thị Đoan Trang để tô vẽ hình tượng, trao giải.

Ngày 19/1/2022, tại Genève, Thụy Sĩ, giải thưởng nhân quyền có tên Martin Ennals cũng ra thông cáo “xướng tên nhà báo Phạm Thị Đoan Trang - nhà báo, nhà hoạt động xã hội người Việt Nam, vừa bị kết án 9 năm tù hồi tháng 12/2021”! Trong thông cáo báo chí, tổ chức này mô tả: “Đoan Trang được vinh danh vì các nỗ lực từ hơn 10 năm nay trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân. Ban tổ chức giải thưởng nhấn mạnh các sáng kiến của cô, bao gồm việc lập ra trang mạng thông tin nhân quyền và luật pháp Luật Khoa tạp chí, Nhà xuất bản Tự Do”.

Thực chất, dù tổ chức trao giải khác nhau nhưng đều có mẫu số chung khi cùng copy từ một khuôn mẫu như những gì mà Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) hay Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ) đưa ra. Trước đó, các tổ chức này đưa ra các thông cáo báo chí vu cáo Việt Nam là một trong những nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới. Thông cáo của CPJ cho rằng, Việt Nam vi phạm tự do báo chí nghiêm trọng và nêu yêu sách đòi Việt Nam phải “trả tự do cho các nhà báo”! Những cái tên được CPJ xướng lên làm “ví dụ điển hình” cho các nhà báo bị giam giữ như Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang, Trương Duy Nhất… Thực ra đây là luận điệu tái lặp của CPJ, RSF… khi có những quy kết không đúng về tình hình nhân quyền của Việt Nam nói chung cũng như tự do báo chí nói riêng. Như thông cáo trên, chỉ cần nhìn vào những cái tên trên đủ để thấy rằng CPJ xuyên tạc, bóp méo vấn đề quyền con người ở Việt Nam như thế nào. Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang… dù trước đây từng có giai đoạn hoạt động tại một số cơ quan báo chí, song do vi phạm pháp luật, họ đã bị kỷ luật, thay đổi công việc, ở thời điểm bắt giữ thì họ không còn là những nhà báo hay phóngviên như CPJ công bố. Trái lại, đó đều là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị bắt giữ và xét xử theo các quy định của pháp luật Việt Nam.

Trở lại việc Bộ Ngoại giao Canada và Vương quốc Anh ngày 10/2 đã trao “Giải thưởng Tự do Báo chí Canada - Vương quốc Anh năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, lý do mà cơ quan này đưa ra là “để ghi nhận những đóng góp của bà cho việc thúc đẩy tự do báo chí tại Việt Nam”. Trong thông cáo báo chí, nêu: “Giải thưởng Tự do Báo chí của Canada - Vương quốc Anh ghi nhận công việc của những người đã bảo vệ các nhà báo hoặc đi đầu trong tự do báo chí ở cấp địa phương, tôn vinh các tổ chức, chiến dịch và cá nhân ít được biết đến trong cuộc đấu tranh với việc không trừng phạt những hành vi chống lại nhà báo. Ra mắt năm 2020, giải thưởng ghi nhận những người thúc đẩy tự do báo chí, bất kể trực tiếp hay gián tiếp. Bà Trang được biết đến với những cuốn sách về dân chủ và những bài viết về xã hội dân sự và những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam. Là người thúc đẩy sự tiến bộ về quyền con người và tinh thần thượng tôn pháp luật, bà Trang viết về các vấn đề môi trường quan trọng. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã trao Giải Tự do báo chí cho bà Trang năm 2019 để ghi nhận công lao này…”.

Dẫn lại đoạn thông cáo trên thì thấy rằng, lời lẽ cũng giống như những gì mà RSF, CPJ hay HRW - những tổ chức thù địch chống phá Việt Nam đưa ra. Trong đó, chính thông cáo này còn dẫn lại ý của RSF về việc đã trao Giải Tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang năm 2019. “Ăn theo” vấn đề này, những cá nhân thuộc các tổ chức trên cũng đưa ra các lời lẽ, ý kiến nhằm cổ xuý việc trao giải thưởng nhân quyền cho Phạm Thị Đoan Trang, đối lập với việc tung hô “nữ ký giả” là sự chỉ trích, miệt thị Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trên trang mạng xã hội của Việt Tân cũng không quên đưa ra “lời chúc mừng nhà báo Phạm Thị Đoan Trang”!

Như vậy, chúng ta thấy dù giải thưởng và thông cáo báo chí được đưa ra với danh nghĩa của cơ quan Nhà nước là Bộ Ngoại giao nhưng nội dung trong nhìn nhận, đánh giá cũng sai lệch, tương tự với sự “tôn vinh giải thưởng” và thông cáo báo chí mà các tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đưa ra. Dễ nhận thấy, sự đánh giá về hành vi của Phạm Thị Đoan Trang với danh nghĩa nhà báo với vấn đề nhân quyền, sự chỉ trích phiên toà hay “nền dân chủ” trong các thông cáo này dường như vẫn là các bản copy của nhau. Đây là điều không nên. Bởi lẽ, những tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đã được nhận diện rõ về động cơ, mục đích thù địch, chống phá Việt Nam, thường xuyên lấy các vụ việc phạm pháp ở Việt Nam để chụp mũ dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, làm nguyên cớ để kích động chống phá. Dư luận không lạ gì những thủ đoạn đánh lận, nguỵ biện mà các tổ chức này đưa ra, ngay việc sử dụng các giải thưởng lấy tên nhân quyền cũng chỉ là cái cớ để thu hút và đánh lừa dư luận. Thế nhưng, với cơ quan Nhà nước, ngoại giao hay tổ chức quốc tế chính danh, khi đánh giá về một vấn đề, sự việc ở quốc gia khác mà dựa vào “phiên bản” như của RSF, CPJ hay HRW là điều không nên. Với sự trùng lặp nội dung và đánh giá như vậy, người ta có quyền nghi ngại những cá nhân của chính các tổ chức này can thiệp hay đứng sau các bản báo cáo, đánh giá của cơ quan ngoại giao nhà nước, làm ảnh hưởng đến tính khách quan, chính xác của báo cáo. Trong quan hệ quốc tế, đây là điều mà các cơ quan ngoại giao luôn cẩn trọng, bởi những đánh giá của họ với một quốc gia khác cần phải thể hiện được tính khách quan, đúng đắn, thể hiện bằng việc nhìn nhận toàn diện chứ không nên “theo ý” bởi một cá nhân hay tổ chức nào khác, vì động cơ nào khác. Bởi lẽ đó, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam”.

Ngày 14/12/2021, TAND Thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo quy định tại Điều 88, khoản 1, điểm a, b, c - Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước. Ngoài ra, bị cáo còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.

Viện Kiểm sát xác định, các tài liệu có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. HĐXX xác định hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn quyết liệt thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Khi quyết định hình phạt, HĐXX đánh giá bị cáo khai báo không thành khẩn, phạm tội nhiều lần nên quyết định áp dụng hình phạt tù với thời hạn trên để giáo dục và phòng ngừa chung.

Minh Đăng – Báo CAND 

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...