Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

Chủ trương đường lối của Đảng về công tác dân tộc trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và giải pháp thực hiện

(TG) - Công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng ta luôn quan tâm, dành nhiều chủ trương ưu tiên, đầu tư phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh… đối với vùng dân tộc và miền núi .

Ảnh minh họa

CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG THỜI GIAN QUA

Chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc từ thời kỳ đổi mới đất nước đến nay được thể hiện thông qua văn kiện các kỳ đại hội và các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề của Đảng, được ban hành cụ thể trong từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn, với nội dung cơ bản thống nhất, đó là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất”(1).

Với những nội dung trên, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc đã mang tính toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín địa bàn vùng dân tộc và niềm núi (DT&MN) và luôn được sửa đổi, bổ sung theo từng giai đoạn nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng DT&MN cùng với sự phát triển chung của đất nước. Theo đó, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới đã được thể chế hóa trong nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư... của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Do có chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị nên trong những năm qua, công tác dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tính riêng trong giai đoạn 2016 - 2020, vùng đồng bào DT&MN có những chuyển biến quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Trong phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 7%/năm; tỷ lệ hộ nghèo vùng DT&MN giảm 4%/năm; các huyện nghèo giảm 4 - 5%, có nơi giảm trên 5%; tỷ lệ hộ cận nghèo toàn vùng giảm 1,2%; đã có 22 huyện, 125 xã, 1.298 thôn ra khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; có 1.052 xã (chiếm 22,3%) đạt chuẩn nông thôn mới, có 27 huyện (chiếm 6%) đạt chuẩn nông thôn mới.

Kết cấu hạ tầng cơ sở được đầu tư đồng bộ, hệ thống giao thông từ tỉnh đến trung tâm các huyện đã được rải nhựa hoặc bê tông hoá 100%; các xã có đường ô-tô đến trung tâm đạt 98,4%; tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 96,7%; 100% xã có trường tiểu học, trung học cơ sở; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,5% xã có trạm y tế; 76,7% thôn có nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng; tỷ lệ thôn có đường giao thông được kiên cố tăng 16,7% so với năm 2015.

Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngày càng phát triển, tỷ lệ người đủ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết tiếng phổ thông tăng 1,7%; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học tăng 8%, trung học cơ sở tăng 9%, trung học phổ thông tăng 14,7%. Đến hết năm 2020 cả nước đã xây dựng được 316 trường phổ thông dân tộc nội trú, 1.097 trường phổ thông dân tộc bán trú, 4 trường và 3 khoa dự bị đại học dân tộc. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số đạt được một số kết quả quan trọng.

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được chú trọng, đến hết năm 2020 vùng DT&MN có 99,5% số xã có trạm y tế; trong đó, có 83,5% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (tăng gấp 2 lần so với năm 2015); số trạm y tế có bác sỹ chiếm 77,2%. Bên cạnh đó, có 93% số người dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Ngoài ra, tỷ lệ tảo hôn giảm 4,7%; hôn nhân cận huyết giảm 0,9%.

Trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cũng đạt được kết quả đáng ghi nhận, trong đó, tiếp tục công nhận 4 di tích quốc gia đặc biệt, 8 di tích lịch sử văn hóa quốc gia; phong tặng, truy tặng 559 nghệ nhân dân gian là người dân tộc thiểu số; hàng năm đã tổ chức tốt ngày hội văn hóa của các dân tộc thiểu số … có 95% số xã được phủ sóng phát thanh truyền hình; phát sóng được 22 thứ tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền. Ngoài ra, đến hết năm 2020 đã xây dựng được hơn 16.000 điểm bưu điện văn hóa xã; có hàng triệu tờ báo được cấp không thu tiền.

Công tác phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số luôn được quan tâm. Tính đến hết năm 2020, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14,5%; trong đó, giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp chiếm 17,2%. Cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số ở các đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025 đạt 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước (2015 - 2020) là 0,72%; ủy viên ban thường vụ đạt tỷ lệ 11,86%, cao hơn nhiệm kỳ trước (2015 - 2020) là 0,51%; bí thư cấp ủy người DTTS có 9,23%, cao hơn nhiệm kỳ trước (2015 - 2020) là 1,54%. Trong đó, tỷ lệ đảng viên là người dân tộc thiểu số tăng từ 10,94% năm 2012 lên 11,98% năm 2019.

Bên cạnh đó, công tác quốc phòng, an ninh luôn được củng cố và tăng cường, trong đó, đã chủ động phát hiện, giải quyết kịp thời các vụ việc, không để xảy ra các “điểm nóng” về an ninh, trật tự trên địa bàn vùng DT&MN(2).

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn những hạn chế, yếu kém, đó là: “Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây duyên hải miền Trung chưa đạt được như mong muốn. So với mặt bằng chung của cả nước, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn thuộc diện khó khăn nhất. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, tái nghèo còn cao; khoảng cách so với vùng phát triển có xu hướng gia tăng; khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội còn thấp; tình trạng di cư tự phát chưa được giải quyết hiệu quả; cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số nhiều nơi chưa đạt tỷ lệ theo quy định; hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan ở một số nơi chậm được khắc phục; vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh, trật tự”(3).

Những hạn chế, yếu kém trên được xác định có nhiều nguyên nhân, trong đó có cả khách quan và chủ quan, đó là: Điểm xuất phát của vùng đồng bào DT&MN còn thấp; địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông khó khăn, khí hậu khắc nghiệt; thiên tai, bão lũ xảy ra thường xuyên; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Bên cạnh đó, một số cấp ủy, chính quyền, nhận thức chưa đầy đủ về công tác dân tộc; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa thực sự quyết liệt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ, đồng bộ; một số chính sách còn chồng chéo, nguồn lực đầu tư còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn có tư tưởng bằng lòng với hiện tại, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên.



CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Để đẩy mạnh phát triển bền vững toàn diện vùng DT&MN cùng với sự nghiệp phát triển chung của đất nước, chủ trương, đường lối về công tác dân tộc trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nêu rõ: “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(4)

Bên cạnh đó, văn kiện cũng chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. Triển khai các chương trình dự án phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn”(5).

Trong xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy mạnh phát triển các vùng, văn kiện đã nêu ra những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, như: Với vùng trung du và miền núi phía Bắc cần “Phát huy các lợi thế về tài nguyên rừng, khoáng sản, các cửa khẩu, văn hoá dân tộc đặc sắc, đa dạng và tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ…”(6). Đối với vùng Tây Nguyên, bên cạnh phát triển các thế mạnh của vùng cần đẩy mạnh “Phát triển nguồn nhân lực, ổn định dân cư, ưu tiên bảo tồn và khôi phục các giá trị văn hoá truyền thống, bản sắc của các dân tộc vùng Tây Nguyên”(7).

Đối với các vùng khác như: Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung hay vùng đồng bằng sông Cửu Long, dù văn kiện không nêu lên những vấn đề có liên quan cụ thể đến đồng bào các dân tộc thiểu số, nhưng cần đẩy mạnh hơn nữa phát huy các ưu thế của vùng để phát triển kinh tế - xã hội góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng nói chung, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng, bởi đây là những vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống,

So với các kỳ đại hội trước đây, chủ trương, đường lối về công tác dân tộc được đề ra chỉ mang tính khát quát chung toàn bộ về vùng dân tộc và miền núi thì trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII, Đảng đã chủ trương chú trọng đến tính đặc thù của từng vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Đây được xem là điểm mới có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng nhằm đảm bảo phù hợp với bản sắc văn hoá, phong tục tập quán của từng vùng cũng như từng dân tộc. Vấn đề này không chỉ giúp cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà còn khắc phục những hạn chế, yếu kém trong thời gian qua, bởi từng vùng hay mỗi dân tộc đều có những đặc điểm khác nhau, nhất là các đặc điểm về bản sắc văn hoá truyền thống. Đồng thời, còn “Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung”(8).

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém về công tác dân tộc trong những năm qua nhằm phát triển toàn diện vùng DT&MN theo chủ trương, đường lối của Đảng trong văn kiện Đại hội XIII, trong thời gian tới cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, quyết tâm thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30-10-2019, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới”. Đồng thời thực hiện tốt các nghị quyết, các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình Mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện các chính sách còn hiệu lực đối với vùng đồng bào DT&MN. Trong đó, tập trung cao độ thực hiện thắng lợi các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18-11-2019, của Quốc hội khoá XIV.

Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chính sách về phát triển kinh tế - xã hội vùng DT&MN theo hướng toàn diện, bền vững. Đồng thời, mở rộng vốn ưu đãi đối với các chương trình, dự án, tạo sinh kế cho đồng bào; đẩy mạnh việc đa dạng hoá và xã hội hoá các nguồn lực, trong đó, nguồn lực nhà nước có vai trò quan trọng và quyết định trong việc huy động các nguồn lực khác. Đổi mới chính sách tín dụng của ngân hàng Chính sách xã hội theo hướng tăng định mức và mở rộng đối tượng cho vay đến các dự án sản xuất, kinh doanh của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Trong đó, để phát huy tiềm năng lợi thế của vùng DT&MN trong phát triển kinh tế cần đẩy mạnh các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôn có năng suất, chất lượng cao để sản xuất hàng hoá theo chuỗi giá trị nhằm cho phù hợp với các vùng và phù hợp với đặc điểm văn hoá, tập quán của các dân tộc. Bên cạnh đó, cần chú trọng đầu tư và khai thác các giá trị văn hoá truyền thống của các DTTS gắn với phát triển du lịch, dịch vụ nhằm tạo sinh kế và công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho đồng bào các dân tộc. Đồng thời, khơi dậy tinh thần tự lực, ý chí, khát vọng vượt khó vươn lên của đồng bào các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế để làm giàu chính đáng.

Ba là, ưu tiên nguồn lực trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo hướng kiên cố nhằm đảm bảo đến năm 2025 có “100% số xã có đường ô-tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hoá; 100% số trường lớp và trạm y tế được xây dựng kiên cố. Trong đó, đến năm 2030 có trên 85% số xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đủ cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của người dân”(9) để thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai như lũ ống, lũ quyét, khô hạn, nước biển dâng… Cùng với đó, cần tăng cường đầu tư đồng bộ hạ tầng viễn thông, năng lượng nhằm đảm bảo có 99% số hộ gia đình vùng đồng bào DT&MN được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp. Đồng thời, đẩy mạnh dịch vụ phát thanh, truyền hình nhằm đảm bảo đến năm 2030, đạt 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công nghệ thông tin để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của đồng bào.

Bốn là, phát triển đồng bộ các lĩnh vực về văn hoá, xã hội ở vùng đồng bào DT&MN. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo; tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Đầu tư, phát triển hệ thống các trường dân tộc nội trú, bán trú và các trường dự bị đại học. Hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh, sinh viên các vùng như vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, cần đổi mới phương thức và chính sách cử tuyển đối với con em đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là ở các khu vực đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp đối với thanh niên các dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và dạy nghề.

Bên cạnh đó, cần nâng cao tỷ lệ và chất lượng khám chữa bệnh cho đồng bào, nhất là tuyến cơ sở, đẩy mạnh đầu tư các dịch vụ y tế; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế nhằm tạo điều kiện cho đồng bào được khám chữa bệnh từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương. Xây dựng và đẩy mạnh chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em nhằm nâng cao về thể chất, tầm vóc của thanh, thiếu niên người dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở ở từng vùng, từng địa phương phù hợp với văn hoá và tập quán của các dân tộc; quan tâm sưu tầm, bảo tồn và phát huy có hiệu quả các giá trị văn hoá truyền thống, kể cả vật thể và phi vật thể. Kiên quyết xoá bỏ các hủ tục lạc hậu và sớm chấm dứt tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống. Nâng cao hơn nữa mức hưởng thụ về văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Năm là, tăng cường xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nhất là ở những vùng trọng điểm, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. Chú trọng hơn nữa công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh việc quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới theo quy định. Đồng thời, có chính sách đặc thù trong việc tuyển dụng công chức, viên chức đối với người dân tộc thiểu số, nhất là nhóm dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chú trọng phát hiện, quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt chính sách sử dụng, đãi ngộ cán bộ người dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, cần đổi mới tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, có cơ chế, chính sách biểu dương, tôn vinh những người có uy tín, già làng, trưởng bản có nhiều đóng góp cho công tác dân tộc.

Sáu là, đẩy mạnh công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ở vùng DT&MN vững chắc. Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù trong việc chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Đồng thời, không để xảy ra các “điểm nóng” phức tạp về an ninh, trật tự, nhất là các địa bàn chiến lược xung yếu như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và tây duyên hải miền Trung.

Bảy là, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trên thế giới nhằm trao đổi kinh nghiệm, thu hút các nguồn lực để đầu tư cho các chương trình, dự án; chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho phát triển kinh tế - xã hội ở vùng DT&MN. Có cơ chế khuyến khích cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài đóng góp nguồn lực cho phát triển toàn diện vùng DT&MN.

Có thể thấy, với quan điểm công tác dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và toàn hệ thống chính trị. Vì vậy, để thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc trong văn kiện Đại hội XIII, trong thời gian tới cần tiến hành triển khai thực hiện các giải pháp trên để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và thu hẹp dần khoảng cách về mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số so với bình quân chung của cả nước.

ThS. LÊ THANH BÌNH

Học viện Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc

(1) Ban tư tưởng - văn hoá Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Tlđd, tr.77.

(2) Xem: Đỗ Văn Chiến: Báo cáo tham luận: Một số kết quả chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu giai đoạn 2021 - 2025, trình bày ngày 27-1-2021 tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

(3) Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về Công tác dân tộc trong tình hình mới.

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2021, t.1, tr.170

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.1, tr. 252

(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.1, tr. 153

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.1, tr.155

(8) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2016. tr.164

(9) Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18-11-2019, của Quốc hội khoá XIV về “Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025”

Phê phán, bác bỏ luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

Công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn.

Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của đại hội.

Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn, hoặc một số thế lực muốn lái chúng ta đi theo con đường khác. Những luận điệu đen tối đó cho rằng đổi mới như vậy coi như đã xong, nay cần xem xét lại vì đã không còn động lực. Ý kiến khác đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi.

Những luận điệu xuyên tạc, đơm đặt như vậy đã bị phủ định hoàn toàn bởi những lý do then chốt sau đây:

Kiên định đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa

Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Có người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

Một góc Thủ đô Hà Nội. Ảnh: qdnd.vn

Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Thành tựu đổi mới là bằng chứng thực tiễn sinh động nhất

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước"(1).

Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

Tiếp tục phát huy mạnh mẽ động lực, nguồn lực của đổi mới

Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước

Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

GS, TS VŨ VĂN HIỀN, Nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

-----------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2021, tập 1, tr.103-104.

Lại diễn trò “tham tiền cột mỡ”…

Hồi tháng 7/2021, tổ chức Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (MLNQVN) tung ra cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” với hạn chốt danh sách ứng viên đến hết tháng 9 và sẽ trao vào cuối năm. Trò lố này đã bị dư luận lên án từ lâu, chỉ tiếc là vẫn có kẻ tưởng được thưởng là oách nên “tham tiền cột mỡ lắm anh leo”…



Để lọt danh sách ứng viên, “thành tích” phải… bất hảo

Đầu tháng 7/2021, MLNQVN ra “Thông cáo báo chí” cho biết, sẽ nhận đề cử ứng viên cho “Giải Nhân quyền Việt Nam” (GNQVN) năm 2021, hạn nhận đề cử từ 7/7/2021 đến ngày 30/9/2021. Hiện mốc thời gian trên đã hết, ứng viên cũng đã chốt, dù danh sách giải thưởng năm nay chưa được công bố nhưng với kịch bản, mưu đồ vẹn nguyên như các năm trước, đủ hình dung ai sẽ “lên bục”.

GNQVN được tổ chức này đưa ra vào năm 2002 và hằng năm đều diễn lại kịch bản như cũ. Trong thông cáo hồi tháng 7, tổ chức này nói rằng giải thưởng sẽ trao cho “cá nhân hoặc tổ chức tại Việt Nam đã có những đóng góp xuất sắc trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”. Đồng thời, tô vẽ thành “GNQVN cũng là cơ hội để người Việt Nam trên khắp thế giới thể hiện tình đoàn kết và hỗ trợ đối với những người tham gia đấu tranh không ngừng cho các quyền cơ bản và công lý cho người dân Việt Nam”. 

Trên các diễn đàn, tổ chức này rêu rao việc trao giải thưởng với những mục đích, ý nghĩa hết sức cao đẹp như: nhân danh, đề cao vấn đề quyền con người; xem việc ngợi ca những cá nhân tranh đấu cho lý tưởng nhân quyền là cách để thúc đẩy, làm cho quyền con người được thực hiện một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất. Những ứng viên, rồi chủ nhân các giải thưởng này khi “vinh danh” đều được tung hô với những ngôn từ hết sức mĩ miều như “nhà tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”; “tự nguyện dành toàn thời gian dấn thân vào con đường tranh đấu vì quyền lợi của giới lao động”; “một nhà tranh đấu dũng cảm cho nhân quyền và dân chủ tự do cho Việt Nam, giữ vững lập trường, không bao giờ từ bỏ lý tưởng, và phấn đấu không ngừng cho công lý, nhân phẩm và tự do”...

Tuy nhiên, ngay sau lớp câu từ mỹ miều đó là sự thật khôi hài. Tính từ năm 2002 đến nay, tổ chức này đã trao giải thưởng cho 49 cá nhân và 4 tổ chức. Lật lại danh sách được giải thưởng thì đó là những cái tên nhẵn mặt trong giới tự xưng “dân chủ, nhân quyền” để chống phá đất nước như: Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Ðăng Quế, Lê Quang Liêm, Thích Quảng Ðộ, Phan Văn Lợi, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Ðoan Trang, Lê Công Ðịnh... Đó hầu hết là những đối tượng đã, đang chấp hành án về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia, cũng có những cá nhân đang bị khởi tố, điều tra về nhóm tội danh này.

Với danh sách “khen thưởng” như vậy, đủ thấy tổ chức này tung ra giải nhân quyền lố bịch như thế nào. Tiêu chí trao thưởng được chỉ ra với 3 điểm: (1) Phải là một cá nhân hoặc tổ chức đang hoạt động tại Việt Nam; (2) đã có “thành tích” đấu tranh bất bạo động vì nhân quyền cho người dân Việt Nam; (3) việc đấu tranh đã tạo được “ảnh hưởng tích cực” tại quốc nội cũng như ở hải ngoại. Đáng chú ý, trong hướng dẫn đề cử, tổ chức này còn lưu ý quá trình hoạt động có liên quan đến nhân quyền Việt Nam như “tác phẩm đã phổ biến, gian khổ đã chịu đựng, thành tích được tuyên dương”… Năm 2020, mạng lưới này cũng dành mấy tháng rêu rao đề cử và rốt cuộc đã tiến hành trao cho Nguyễn Năng Tĩnh, Nguyễn Văn Hóa, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam.

Khi nhìn vào những cá nhân được nhận giải, không khó để chúng ta thấy điểm chung là những cá nhân đó đều có hành động chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ hết sức quyết liệt. Chẳng hạn, một trong ba đối tượng nhận giải năm 2020 là Nguyễn Năng Tĩnh, đây là đối tượng bị kết án về hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nguyễn Năng Tĩnh sinh năm 1976, là người Công giáo, sinh hoạt tại Giáo xứ Mỹ Khánh, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tốt nghiệp Nhạc viện Âm nhạc Huế, Tĩnh trở thành thầy giáo dạy nhạc và là giảng viên Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An.

Trong môi trường giáo dục, có năng khiếu về âm nhạc, Tĩnh lại biến giảng đường thành nơi thực hiện hành vi chống phá, tuyên truyền những sáng tác có nội dung sai lệch. Cùng với đó, Tĩnh thường lợi dụng các cuộc tụ tập để hát những nhạc phẩm có nội dung phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước như “Việt Nam tôi đâu”, “Xin hỏi anh là ai”, “Trả lại cho dân”... Trên cương vị giảng viên âm nhạc, Tĩnh còn đưa những bài hát này “phổ biến” trong sinh viên.

Tại sao một giảng viên âm nhạc, được đào tạo bài bản lại “trở cờ”, có các hoạt động chống đối? Tìm hiểu về nhân thân cho thấy, Tĩnh đã không giữ được bản thân mình, không thực hiện đúng nghĩa vụ với tư cách một công dân cũng như với cương vị người thầy. Tĩnh đã trượt và ngày càng lấn sâu vào con đường phạm pháp dưới sự dẫn dắt, mua chuộc của đối tượng xấu. Nguyễn Năng Tĩnh tham gia nhiều tổ chức có hoạt động chống phá Việt Nam như “Bảo vệ sự sống”, “NoU FC Vinh”, “Quỹ phát triển con người”, “Truyền thông công giáo”...

Qua mạng xã hội, Tĩnh có mối quan hệ với nhiều phần tử xấu trong và ngoài nước. Thông qua mạng xã hội, Nguyễn Năng Tĩnh đã đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc nhằm mục đích chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; kích động người dân biểu tình, chống chính quyền…

Trường hợp được “vinh danh” khác là Nguyễn Văn Hóa, cũng là một đối tượng có hành động chống đối quyết liệt. Nguyễn Văn Hóa đã sử dụng mạng xã hội tuyên truyền, phát tán các tài liệu có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Qua đó, truyền bá những tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; gieo rắc sự nghi ngờ, bất mãn, chống phá Nhà nước Việt Nam. Dù bị kết án và phải chấp hành án phạt tù nhưng Nguyễn Văn Hóa vẫn tiếp diễn nhiều hoạt động chống đối, đặc biệt là sử dụng chiêu trò tuyệt thực trong trại giam để gây sức ép với chính quyền.

Năm 2019, có 3 cá nhân được tổ chức này “vinh danh” là Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và Lê Công Định. Mặc dù bản thông báo cho biết buổi lễ “vinh danh” 3 cá nhân này được tổ chức long trọng tại trụ sở Thượng viện Canada nhân Ngày Quốc tế nhân quyền lần thứ 71, song nó vẫn không khiến người ta quên rằng, 3 cá nhân đó đều đã từng chịu những bản án tù với các tội danh như “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Với những nhân vật như vậy nhận thưởng, rõ ràng “giải thưởng nhân quyền” được trao chẳng phải nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của nền dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam như mạng lưới này rêu rao mà nó chỉ là một màn kịch để hợp thức hóa hoạt động chống phá chính quyền.

Thực tế, một giải thưởng muốn có vị thế, có uy tín, được công nhận thì trước hết, các cơ quan chủ trì tổ chức giải phải là đơn vị có uy tín. Vậy nhưng các tổ chức đang tiến hành trao các giải thưởng dưới vỏ bọc “nhân quyền” lại không hề có tính chính danh. Tổ chức MLNQVN thực chất chỉ là một tổ chức bất hợp pháp do các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam lập ra.

Núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tổ chức này đã đạo diễn hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, như lập website, mạng xã hội để tuyên truyền thông tin chống phá Việt Nam; tích cực vận động một số dân biểu, nghị sĩ Mỹ không có thiện cảm với Việt Nam thực hiện các hoạt động bảo trợ; gửi “thư ngỏ” cho một số quan chức nước ngoài nhằm kêu gọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Tổ chức này còn núp dưới danh nghĩa đấu tranh cho các “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị” hoặc “tù nhân lương tâm” để tiến hành chống phá… 

Do đó, việc trao giải thưởng chỉ là vở kịch để đánh bóng tên tuổi và giúp sức về mặt tinh thần cũng như vật chất cho các đối tượng chống đối trong nước. Đáng tiếc, dù bản chất cái gọi là giải thưởng nhân quyền đã được lật tẩy và dư luận lên án từ lâu nhưng một số kẻ vẫn bị ảo tưởng, vẫn bị chi phối bởi các động cơ cá nhân mà “cậy sức cây đu nhiều chị nhún/ tham tiền cột mỡ lắm anh leo”…

Nguyễn Thành

Xử phạt linh mục Đinh Hữu Thoại vì đưa thông tin sai sự thật về Quỹ vaccine phòng COVID-19

Báo CAND số ra ngày 3/10/2021 đã có bài viết: “Cần xử lý nghiêm hành vi vi phạm của linh mục Đinh Hữu Thoại”, phản ánh: Trong giai đoạn cả nước đang “căng mình” phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thì Đinh Hữu Thoại, linh mục phụ tá Giáo xứ Tiên Phước (huyện Tiên Phước, Quảng Nam) lại có bài viết trên trang mạng xã hội với nội dung sai sự thật, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước.


Cụ thể, linh mục Đinh Hữu Thoại (với nickname Đinh Hữu Thoại) có bài viết bình luận: “Quỹ vaccine là quỹ lừa đảo, kẻ lừa đảo thì mang tiền đi gửi nhà băng lấy lãi, kẻ bị lừa thì ngậm bồ hòn làm ngọt”; kèm theo đó là ảnh chụp bài viết Trang thông tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 của Bộ Y tế có nội dung: “Thủ tướng: Quỹ vaccine COVID-19 là quỹ nhân ái, tinh thần đoàn kết và trái tim kết nối trái tim.

Trong bài phát biểu quan trọng như “lời hiệu triệu” huy động mọi nguồn lực cho chiến lược vaccine phòng COVID-19, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, Đảng, Nhà nước, Chính phủ hiểu và trân trọng mọi đóng góp của người dân, doanh nghiệp không kể ít hay nhiều, góp vào Quỹ vaccine phòng, chống COVID-19 - Quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim”. Bài viết của linh mục Đinh Hữu Thoại có nội dung thông tin sai sự thật như trên đã gây bức xúc dư luận, vi phạm quy định của pháp luật trên lĩnh vực công nghệ thông tin...

Đáng chú ý, sau khi linh mục Đinh Hữu Thoại đăng tải thông tin sai sự thật, Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) tỉnh Quảng Nam đã 3 lần có giấy mời đến làm việc nhưng linh mục Đinh Hữu Thoại viện cớ nhiều lý do khác nhau để không đến. Khi Báo CAND và nhiều tờ báo khác đăng tải sự việc thì linh mục Đinh Hữu Thoại lại “lu loa” rằng, trang Facebook đăng tải thông tin sai sự thật nêu trên là mạo danh ông ta, không phải do ông ta lập ra(!?). Sự thật được cơ quan chức năng khẳng định, bài viết có nội dung xuyên tạc, sai sự thật vào ngày 18/6/2021, trên mạng xã hội Facebook với tài khoản mang tên “Đinh Hữu Thoại”, có địa chỉ ID: 1849592060, có tích xanh là của linh mục Đinh Hữu Thoại, phụ tá giáo xứ Tiên Phước, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Mặt khác, như Báo CAND đã nêu, trong công tác phòng, chống dịch bệnh, thời gian qua, hàng triệu người dân cả nước đã được tiêm vaccine ngừa COVID-19. Tại tỉnh Quảng Nam, hàng trăm chức sắc, tín đồ, giáo dân các tôn giáo trên địa bàn đã được tiêm vaccine. Bản thân linh mục Đinh Hữu Thoại, vào giữa tháng 9/2021 cũng đã được tiêm vaccine ngừa COVID–19 miễn phí...

Luật sư Bùi Bá Dũng, Văn phòng Luật sư Hoàng Hà tại tỉnh Quảng Nam trao đổi với chúng tôi về sự việc, nêu rõ quan điểm: “Trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân cùng chung tay đẩy lùi dịch bệnh COVID-19 mà anh lại đưa ra thông tin nhạy cảm, sai sự thật, bóp méo sự thật thì hậu quả rất lớn. Nếu đất nước không có dịch bệnh, hoặc dịch bệnh đã đi qua rồi thì hậu quả có thể không lớn. Nhưng trong lúc tình hình nóng như vậy, anh đưa ra thông tin sai sự thật gây xáo trộn tư tưởng của quần chúng nhân dân vào công tác phòng, chống dịch COVID-19, ảnh hưởng lớn đến việc huy động Quỹ vaccine. Ảnh hưởng của những bài viết xuyên tạc, sai sự thật trong thời điểm hiện này cần phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe. Còn việc mời lên làm việc trước khi xử phạt là thể hiện chính sách pháp luật của Nhà nước là quá tuyệt vời, cho anh thể hiện, đối thoại để anh giải thích tại sao anh lại viết như vậy... thế nhưng anh lại không đến, tức là anh tự tước đi quyền của mình thì theo quy định phải xử phạt thôi”. Luật sư Bùi Bá Dũng nhấn mạnh: “Theo quan điểm cá nhân của tôi và trên cơ sở pháp luật, thấy rằng mọi hành vi nêu trên cần phải được xử lý, đặc biệt là trong thời điểm toàn dân tộc, toàn Đảng chung tay đẩy lùi đại dịch”…

Theo Sở TT&TT tỉnh Quảng Nam, trong tháng 9 và 10/2021, Thanh tra Sở TT&TT đã 3 lần mời công dân Đinh Hữu Thoại đến làm việc nhưng cả 3 lần ông Đinh Hữu Thoại đều viện cớ nhiều lý do để vắng mặt, không hợp tác. Thanh tra Sở TT&TT đã lập biên bản về 3 lần vắng mặt của ông Đinh Hữu Thoại

Căn cứ quy định của pháp luật, Sở Thông tin Truyền thông tỉnh Quảng Nam đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đinh Hữu Thoại.

Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 101 Nghị định 15 ngày 3/2/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Thanh tra Sở TT&TT xử phạt 7,5 triệu đồng đối với ông Đinh Hữu Thoại và buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật. Quyết định xử phạt có hiệu lực từ ngày 14/10/2021 và số tiền phạt cá nhân phải nộp tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Nam trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định xử phạt.

Nếu quá thời hạn mà ông Đinh Hữu Thoại không tự nguyện chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật. Đây là quyết định thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có hành vi sai phạm đều bị xử lý nghiêm theo quy định.

Mai Xuân 

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

Từ chuyện cảnh sát biển: Quy chụp, đánh đồng là vu khống - tội ác!

Ngày cuối tuần, nghe vợ kể chuyện anh sĩ quan cảnh sát biển (CSB) ở gần nhà vừa được về tranh thủ sau gần 6 tháng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển kết hợp trực phòng, chống dịch Covid-19, tôi liền sang nhà anh chơi.

- Nửa năm trời mới được về thăm nhà, chắc là vợ con anh vui lắm nhỉ?

Tôi hỏi và rất bất ngờ khi nhận câu trả lời:

- Lần này anh về thì vợ con cũng không vui lắm em ạ.

Nghĩ là nhà anh đang có chuyện gì trục trặc nên tôi chẳng dám hỏi tiếp. Nhưng anh chủ động giãi bày:

- Mấy ngày qua, sau khi Trung ương quyết định thi hành kỷ luật một số cán bộ của lực lượng CSB có vi phạm thì trên mạng xã hội xuất hiện khá nhiều thông tin, bình luận. Những người hiểu biết, chín chắn thì khẳng định những cán bộ vi phạm chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Việc Trung ương kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm, dù giữ cương vị cao, càng làm cho nhân dân thêm tin tưởng vào quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm thực sự không có “vùng cấm”. Thế nhưng, một số phần tử phản động, bất mãn đã tận dụng cơ hội này để thực hiện mưu đồ thâm độc, đen tối. Chúng quy chụp, đánh đồng rằng: Cán bộ nào cũng tham nhũng, tiêu cực (?); lực lượng CSB chỉ lo kiếm chác, không hoàn thành nhiệm vụ được giao (?); không cần có CSB nữa vì lực lượng này phó mặc cho ngư dân làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo (?)... Một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết lại tin vào luận điệu phản động đó. Họ xì xào bàn tán và có cái nhìn không mấy thiện cảm với CSB, khiến gia đình cán bộ, chiến sĩ CSB rất buồn. Lực lượng CSB đã nỗ lực cống hiến, hy sinh hạnh phúc riêng, làm được rất nhiều việc, lập rất nhiều chiến công... Sao họ không có cái nhìn khách quan, toàn diện mà lại quy chụp, suy diễn như vậy?

Vùng cảnh sát biển 1 tổ chức huấn luyện bơi trên biển. Ảnh: qdnd.vn

Những lời bộc bạch đầy trăn trở của anh khiến tôi không khỏi suy nghĩ. Đúng là những năm qua, lực lượng CSB đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh; làm được rất nhiều việc, góp phần giữ vững trật tự, an ninh trên biển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, lực lượng CSB luôn đồng hành, giúp đỡ, là chỗ dựa vững chắc để ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển. Các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về những chiến công của CSB trong việc chống buôn lậu, đấu tranh với tội phạm ma túy và kịp thời cứu hộ, cứu nạn ngư dân; ngăn chặn tàu nước ngoài xâm nhập vùng biển Việt Nam trái phép... Nhất là trong vụ giàn khoan HD-981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 2014, CSB là lực lượng chủ công, đã nỗ lực đấu tranh trực tiếp, quyết liệt, hiệu quả. Tinh thần dũng cảm, kiên cường, sự mưu trí, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì ngư dân của cán bộ, chiến sĩ CSB khiến nhân dân cảm phục. Những việc làm đó không ai có thể phủ nhận!  

Thiết nghĩ, những đối tượng lợi dụng một vài sự việc tiêu cực để quy chụp, suy diễn, đánh đồng tất cả đều xấu chính là cố tình vu khống, gây oan-một tội ác cần phải kiên quyết lên án, đấu tranh.

HUY QUANG

Đấu tranh đẩy lùi những biểu hiện của bệnh cá nhân chủ nghĩa

Một trong những nguyên nhân chủ quan cơ bản gây nên tình trạng suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ rõ là do bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa cũng là biểu hiện đầu tiên trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống.

Căn bệnh này ngày càng có những biểu hiện tinh vi, phức tạp, gây ra những hệ lụy tai hại, làm nhức nhối dư luận xã hội. Do đó, việc kịp thời nhận diện, vạch mặt chỉ tên những biểu hiện nổi cộm của nó là việc làm cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Những biểu hiện không thể xem thường của bệnh cá nhân chủ nghĩa

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân, gồm: Bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh, vô thực”; bệnh cận thị (tức là chỉ chú ý đến cái nhỏ nhặt, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tị nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè kéo cánh(1).

Ngoài những bệnh nêu trên, những năm gần đây, bệnh cá nhân chủ nghĩa còn nảy sinh một số biểu hiện không thể xem thường, nhất là các biểu hiện như cơ hội, thực dụng, "mũ ni che tai", đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá...

1. Cơ hội. Theo quan niệm thông thường, cơ hội thường được hiểu là biết tận dụng thời cơ để hành động đạt mục đích, kết quả cao nhất. Tận dụng cơ hội tốt để làm việc nghĩa, việc thiện là cử chỉ, hành động rất đáng khích lệ.

Tuy nhiên, thời gian qua, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp và những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền, coi đó như thời cơ “đục nước béo cò” nhằm vơ vét tài sản, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân. Cũng xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau “một tấc lên trời”, kéo bè kéo cánh, cục bộ địa phương, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác. Những kẻ cơ hội được người đứng đầu Đảng ta đã ví như “con lươn, con chạch”-loài vật mà người ta hay liên tưởng đến những kẻ ra luồn vào cúi, sống lươn lẹo, uốn éo, thoắt ẩn thoắt hiện, khó nắm bắt. Những biểu hiện cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng rất nguy hại.

Ảnh minh họa/tuyengiao.vn

2. Thực dụng. Từ “thực dụng” có nghĩa ban đầu là coi trọng tính ứng dụng trong thực tế.

Sau này từ “thực dụng” để chỉ những người luôn đề cao lợi ích vật chất, thậm chí coi đồng tiền là chiếc “chìa khóa vạn năng” trong việc giải quyết mọi mối quan hệ xã hội. Thiếu coi trọng ý nghĩa tinh thần và giá trị văn hóa, đạo đức nên những người thực dụng sẵn sàng hạ thấp nhân cách bản thân để mưu cầu, trục lợi cho mình. Một biểu hiện thực dụng khác ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là kén chọn chức danh, nhắm tới vị trí công tác có thể “hái ra tiền”, thậm chí có tư tưởng “đầu gà hơn má lợn”-tức là thà làm “quan nhỏ” mà có bổng lộc còn hơn là làm chuyên viên, trợ lý ở cơ quan cấp trên chủ yếu sống bằng tiền lương. Thế nên, những người này thường tìm mọi cách để không phải chuyển sang vị trí khác, kể cả vị trí cao hơn, nếu vị trí đó không mang lại nhiều lợi ích vật chất cho họ.

3. “Mũ ni che tai”. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhiều người có bản lĩnh, phong cách và tư cách sống đàng hoàng; sống nhân nghĩa, trung thực, không cầu cạnh, bon chen, ích kỷ, vụ lợi. Đó là những vẻ đẹp đạo đức của những cán bộ, đảng viên chân chính.

Tuy nhiên, xuất phát từ động cơ thiếu lành mạnh, một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay không dám sống trung thực với chính bản thân. Thấy cái đúng không biết bảo vệ, thấy cái sai không dám đấu tranh, họ thực hiện phương châm “im lặng là vàng” và “gió chiều nào theo chiều ấy”. Trong sinh hoạt Đảng, họ hiếm khi tự giác, xung phong phát biểu ý kiến, nếu có thì cũng chỉ nói dăm ba câu cho “phải phép”. Trước một vấn đề nhạy cảm cần có sự quyết đoán, nhưng khi cơ quan lấy ý kiến và biểu quyết, họ thường “ngó ngang, nhìn dọc” rồi mới giơ tay sau cùng. Thái độ dè dặt, bạc nhược như thế cũng xuất phát từ thói ích kỷ cá nhân mà ra.

4. Đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá. Đây là biểu hiện nổi cộm của bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền của một bộ phận cán bộ có chức quyền. Biểu hiện khá phổ biến là không ít cán bộ nhận thức chưa thấu đáo, giải quyết không đúng mực mối quan hệ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, mà thực chất là coi nhẹ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của tập thể, trong khi lại đề cao vị trí của bản thân, lợi dụng chức quyền của mình để lèo lái, chi phối, thậm chí lấn át cả tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Trong giải quyết các mối quan hệ với nội bộ tập thể hay khi phát biểu tại các buổi sinh hoạt đảng, chính quyền, nhiều cán bộ lãnh đạo coi ý kiến của mình có sức nặng vượt trội, còn ý kiến tham gia của người khác là chỉ là phụ, không quan trọng, nghe rồi bỏ ngoài tai. Thực tế cho thấy, phần lớn những cán bộ lãnh đạo mắc sai phạm, kể cả nhiều cán bộ cao cấp bị kỷ luật trong thời gian qua đều ít nhiều xuất phát từ thái độ, tác phong làm việc duy ý chí, áp đặt cá nhân, đề cao “cái tôi” thái quá, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, không chịu lắng nghe những lời đóng góp thẳng thắn của cán bộ, nhân viên cấp dưới và quần chúng.

Quyết liệt đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa

Con ngư­ời cá nhân và xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Con ng­ười với t­ư cách là chủ thể của xã hội mà hành động theo quy luật sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và ngư­ợc lại. Con ng­ười phát triển toàn diện và hài hòa trong chế độ XHCN là con người biết kết hợp hài hòa giữa 3 lợi ích là cá nhân-tập thể-xã hội. Đảng ta đã xác định lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp cho sự phát triển. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân hay coi lợi ích cá nhân là động lực duy nhất thì đó là tư tưởng cực đoan, dễ sa ngã vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ.

Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh nhiều tàn dư lạc hậu của chế độ xã hội cũ chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, trong khi những cái mới, cái tiến bộ, văn minh của chế độ xã hội mới chưa thực sự trở thành yếu tố bao trùm, chi phối đời sống tinh thần của quốc gia-dân tộc. Mặt khác, theo các nhà nghiên cứu văn hóa, trong tâm lý nhân cách của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại, đan xen nhiều đặc điểm tâm lý phức tạp. Đó là tâm lý tiểu nông manh mún, vụn vặt của con người thời phong kiến; tâm lý quan liêu, bảo thủ của con người thời bao cấp; tâm lý cơ hội, thực dụng, ích kỷ của con người thời kinh tế thị trường. Các đặc trưng tâm lý đó chính là những bất cập, hạn chế trong nhân cách, từ đó dẫn đến những thái độ, hành vi, việc làm mang nặng tính cá nhân chủ nghĩa-một điều rất xa lạ với chuẩn mực nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, trước những tác động tiêu cực từ quá trình hội nhập thế giới và nền kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa, đạo đức bị đảo lộn; thái độ tôn sùng vật chất, coi trọng tiền bạc, danh vọng cũng khiến nhiều người sa vào vũng lầy của chủ nghĩa cá nhân. Suy cho cùng, những biểu hiện như cơ hội, thực dụng, "mũ ni che tai", đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá, vừa là nguyên nhân sâu xa vừa là hệ quả tất yếu của bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội, làm mọt ruỗng văn hóa công quyền và đạo đức công vụ.

Trước thực trạng đó, việc cần làm hiện nay là phải có các biện pháp đồng bộ, quyết liệt để phòng, chống, đẩy lùi bệnh cá nhân chủ nghĩa. Trước hết, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ những biểu hiện mới và tác hại nghiêm trọng của bệnh cá nhân chủ nghĩa trong tình hình hiện nay. Quan tâm chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên đề cao lòng tự trọng, văn hóa liêm sỉ, đây là vấn đề được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ, trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”(2). Những người giàu lòng tự trọng, thấm nhuần các giá trị văn hóa tốt đẹp của ông cha và những phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sẽ tự phòng ngừa được bệnh cá nhân chủ nghĩa.

Nêu gương không chỉ là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn là một trong những phương pháp rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để góp phần đẩy lùi bệnh cá nhân chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Những điều đảng viên không được làm”; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư khóa XI  về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

Một biện pháp cần phải làm thường xuyên, bền bỉ là thực hiện nghiêm túc, thực chất, hiệu quả nguyên tắc, chế độ tự phê bình và phê bình gắn với làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên mắc trọng bệnh cá nhân chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Giải pháp căn cơ là chăm lo, bồi dưỡng, đãi ngộ tương xứng cả về lợi ích vật chất và tinh thần cho cán bộ, đảng viên phù hợp với từng cương vị công tác, công việc chuyên môn, tính chất ngành nghề; đồng thời xây dựng môi trường làm việc dân chủ, nhân văn, bầu không khí nội bộ trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị thật sự lành mạnh. Vì suy cho cùng, bệnh cá nhân chủ nghĩa sẽ dần bị triệt tiêu khi chúng ta xây dựng được nền tảng vật chất, văn hóa xã hội hội tụ những giá trị tiến bộ, văn minh của thể chế chính trị ưu việt để góp phần bảo đảm lợi ích hài hòa giữa cá nhân, tập thể và xã hội.

Trung tướng LƯƠNG ĐÌNH HỒNG, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Quốc phòng

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG-ST, HN, 2011, tr.278.

(2) Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Báo Quân đội nhân dân, ngày 13-6-2021. 

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

Quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng

(ĐCSVN) - Quân cảng Cam Ranh những ngày đầu tháng 10 như sôi động hơn bởi khí thế thi đua của cán bộ, thủy thủ Tàu 381, Hải đội 412 (Lữ đoàn 162, Vùng 4 Hải quân). Toàn đơn vị đang đẩy mạnh phong trào thi đua đặc biệt hướng tới kỷ niệm 20 năm ngày Tàu 381, chiến hạm hiện đại đầu tiên do Việt Nam tự sản xuất được đưa vào sử dụng (12/10/2001-12/10/2021) và vinh dự đón nhận Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Ba.

Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới, ngày 12/10/2001 tại Quân cảng Căn cứ 696 (Đồng Nai), Quân chủng Hải quân đã long trọng tổ chức lễ thượng cờ Tàu 381, thuộc biên chế trong đội hình tàu mặt nước chiến đấu Quân chủng trước khi được điều chuyển về Lữ đoàn 162, Vùng 4 Hải quân. Ngày 12/10 hằng năm trở thành ngày truyền thống của chiến hạm hiện đại đầu tiên được đóng mới trong nước theo dây chuyền chuyển giao công nghệ của Liên bang Nga. Tàu 381 được đưa vào sử dụng là dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong việc làm chủ công nghệ đóng mới tàu chiến đấu; tăng cường sức mạnh lực lượng, phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Thực hành huấn luyện tại Tàu 381. (Ảnh: NQ). 

Cùng chúng tôi đi tham quan một vòng trên tàu, Đại úy Nguyễn Xuân Thông, Thuyền trưởng Tàu 381 cho biết: Với sức cơ động cao, hỏa lực mạnh cùng khả năng tàng hình tốt, Tàu 381 có nhiệm vụ tuần tiễu, trinh sát, độc lập tác chiến hoặc hiệp đồng với các lực lượng tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên không, trên biển trong tác chiến bảo vệ chủ quyền. Song hành cùng nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu để có lệnh là toàn tàu về vị trí chiến đấu được ngay, sẵn sàng nhổ neo rời bến thực hiện nhiệm vụ trong bất luận điều kiện thời tiết và thời điểm nào; cán bộ, thủy thủ Tàu 381 luôn tập trung xây dựng tàu chính quy, mẫu mực trên tất cả các mặt công tác, sẵn sàng cơ động thực hiện nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Được biết, Tàu 381 thuộc thế hệ tàu chiến đấu rất hiện đại, khác hẳn với những lớp tàu có trong biên chế của Hải quân nhân dân Việt Nam trước đây. Để nhanh chóng tiếp quản, làm chủ kỹ thuật hiện đại, những cán bộ, thủy thủ đầu tiên được biên chế tại Tàu 381 đã được Quân chủng Hải quân tuyển chọn kỹ từ nhiều cơ quan, đơn vị. Mỗi người đều ý thực rõ niềm vinh dự và tự hào khi được tham gia huấn luyện, tiếp nhận lớp tàu hiện đại. Trải qua thời gian 20 năm, bên cạnh niềm vinh dự tự hào, các thế hệ cán bộ thủy thủ Tàu 381 luôn xác định rõ trách nhiệm của mình, xây dựng ý chí quyết tâm, nỗ lực làm chủ vũ khí trang bị để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc cũng như tham gia các hoạt động đối ngoại quốc phòng.

Từng có nhiều năm gắn bó với Tàu 381 trên cương vị Chính trị viên, Bí thư chi bộ, Trung tá Mai Văn Doanh, phó Chính ủy Lữ đoàn 162 tự hào cho cho biết: Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Chi bộ Tàu 381 luôn là tập thể đoàn kết với đội ngũ cán bộ, đảng viên qua các thế hệ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức chuyên môn tốt; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thực sự tiền phong gương mẫu đi đầu và là nhân tố quyết định trong xây dựng tàu vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua quyết thắng của Lữ đoàn.

Chi bộ Tàu 381 biểu quyết thông qua Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ thường xuyên. (Ảnh: NQ).

Với quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng, liên tục trong 14 năm gần đây, Tàu 381 đều đạt danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, Chi bộ tàu đạt trong sạch vững mạnh. Đồng thời, Tàu 381 luôn là điểm sáng về thực hiện cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, xây dựng tàu chính quy mẫu mực được duy trì có nền nếp, đạt hiệu quả thiết thực. Theo Trung tá Phạm Anh Tuấn, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 162, Tàu 381 là một đơn vị có bề dày thành tích rất xứng đáng để các đơn vị trong toàn Lữ đoàn học tập. Nhìn lại chặng đường đã đi qua, Tàu 381 luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc như: Diễn tập ADMM+ về an ninh hàng hải và chống khủng bố tại Bruner, Singapore năm 2016; tiêu diệt chính xác mục tiêu bia trong thực hành bắn tên lửa năm 2017… điều đó phản ánh một cách trung thực, chính xác quá trình huấn luyện và làm chủ vũ khí trang bị của từng cá nhân, từng tập thể cấp ngành và toàn tàu qua các thế hệ. Khẳng định sức mạnh đoàn kết đồng lòng, tinh thần vượt khó của cán bộ, thủy thủ để xây dựng “Ngôi nhà chung - 381” thực sự vững chắc. “Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Ba là phần thưởng xứng đáng thể hiện sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước, Quân đội đối với các thế hệ cán bộ, thủy thủ Tàu 381 nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Tàu được chính thức đưa vào sử dụng”, Trung tá Phạm Anh Tuấn chia sẻ thêm.

Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nói chung và bảo vệ chủ quyền biển, đảo nói riêng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao. Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII gắn với nhiệm vụ xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, phát huy những kết quả đã đạt được trong 20 năm qua, sẽ là cơ sở quan trọng để tập thể cán bộ, thủy thủ Tàu 381 tiếp tục nỗ lực khắc phục khó khăn, chủ động nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.

Phạm Như Quỳnh

 

Giải mã dấu ấn Chăm trong văn hóa Đại Việt

Trong nhiều năm qua, một luận điểm rất được nhiều học giả ủng hộ, đó là sự ảnh hưởng của văn hóa Chăm đối với văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần - Lê sơ. Giả thuyết này được chứng minh ủng hộ bằng cả tư liệu khảo cổ lẫn tư liệu chữ viết, với nhiều chứng cứ được đưa ra. Thậm chí, đôi khi có những nhận định và cứ liệu đã hơi quá đà. Nhưng, không ít người nghi ngờ về sự tồn tại của xu hướng Chăm hóa trong văn hóa Đại Việt.

Văn hóa Chăm ảnh hưởng đến văn hóa Đại Việt là một hiện tượng không thể phủ nhận, cũng giống như việc ảnh hưởng của văn hóa Đại Việt/Việt Nam đối với văn hóa Chăm vậy. Sự ảnh hưởng giao thoa văn hóa Chăm - Việt thể hiện ở 3 mức độ: 1/ sự ảnh hưởng cưỡng bức; 2/ ảnh hưởng từ ngoại giao văn hóa và 3/ buôn bán thương mại và di dân tự nguyện.

Sự ảnh hưởng của di dân và thương mại là khó tìm thấy dấu vết. Nhưng, Lê Quý Đôn trong "Vân đài loại ngữ" từng ghi nhận các loại lúa Chiêm (chịu khô hạn), các giống lúa tẻ cấy ruộng chiêm có: sài đường, chiêm bầu, chiêm di, chiêm dự, chiêm vàng, chiêm hom, v.v... Từ giống lúa dẫn đến sự học hỏi một vụ mùa của người Chiêm, tạo thành thế đối lập: vụ mùa - vụ chiêm. Nên mới có thành ngữ “Chiêm Nam, mùa Bắc”. “Mạch phạn cơm chiêm tháng năm trái thì/ Đại mạch lâu chầy lúa chiêm tháng năm”. Phạm Đình Hổ ghi: “Mạch là lúa chiêm” trong sự đối lập “Đạo là lúa de nước”. Còn đặc sản kẹo mạch nha dân gian vốn là chế biến từ “mầm mạ chiêm” (Chỉ nam ngọc âm, TK 17). Sự di thực của lúa làm thay đổi cơ cấu mùa màng - lương thực của người Việt trong cả ngàn năm.

Tượng đá thần Shiva (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Nguồn: Nguyễn Tiến Đông.

Nhưng, chắc chắn, các thương nhân Chăm, cũng như Java, Xiêm La và Tây Á đã có mặt tại các cảng bến Nghệ An, Vân Đồn, Hà Trung,... Họ đã nương theo những luồng gió thổi vượt qua những vùng biển, để giao lưu buôn bán. Nên tiếng Việt hiện còn từ “gió mậu dịch”. Thế kỷ 17, còn biết đến loại “vải Chiêm Thành quốc” rất được người Việt ưa chuộng (Bội thường yêu sao, Chỉ nam ngọc âm). Ngoài các thương nhân, các loại trộm cướp, thậm chí quân chính quy Chăm nhiều lần theo “gió Nồm” ra ngoài Thanh - Nghệ cướp bóc, bắt người các vùng duyên hải, nên Ngô Sĩ Liên còn gọi là “giặc sóng gió Chiêm Thành”.

Rõ rệt nhất là những ảnh hưởng cưỡng bức qua các cuộc chiến tranh giữa hai nước Việt - Chiêm. Năm 982, Vua Lê Hoàn đánh bại Vua Bế Mi Thuế, bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một thầy tăng người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu (Toàn thư ). Năm 986, người Chiêm Thành là Bồ La Át đem hơn trăm người họ xin nội phụ.

Năm 1044, Vua Lý chém đầu vua Chiêm Sạ Đẩu, được hơn 30 voi thuần, bắt sống hơn 5 nghìn người, bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên. Năm 1045, vua cho chế xe Thái Bình, lấy vàng trang sức "bồng la nga" (tức là cái bành voi của Chiêm Thành) đóng voi để kéo. Sử liệu này cho thấy cái “bành voi” là một từ gốc Chăm, sau chuyển sang làm động từ “bành- banh” và tính từ “to bành” (to như cái bành voi). Năm 1046, dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành. Năm 1060, phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát.

Năm 1202, sai nhạc công chế khúc nhạc gọi là nhạc Chiêm Thành, tiếng trong trẻo, ai oán, buồn rầu, người nghe phải chảy nước mắt. Cái trống Chiêm trong văn hóa Việt là nguồn gốc trống cơm ngày nay. “An Nam chí lược” ghi: trống cơm (phạn sĩ) nguyên là nhạc khí của Chiêm Thành, kiểu tròn và dài, nghiền cơm, bịt hai đầu, cứ giữa mặt mà vỗ thì kêu tiếng trong mà rõ ràng” (Lê Trắc, 1333/2002, tr.72). Về sau, thế kỷ 17, người Việt còn mô tả hình dáng trống thót yêu: “Yết cổ trống cơm vỗ thôi” (Chỉ nam ngọc âm).

Kể thêm các lần đánh và bắt tù binh Chăm thời Lý - Trần, có một lớp người Việt hiện nay vốn là người Chăm nhưng đã Việt hóa hoàn toàn về văn hóa, chỉ còn thấy nhận dạng lác đác về màu da nâu, tóc xoăn, môi dày nhưng nói... tiếng Việt. Đời Trần, Trần Nhật Duật đi thăm các trại người Chiêm, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già có khi 3-4 ngày mới về. Thôn này hồi Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được người Chiêm cho ở đấy, lấy tiếng Chiêm đặt tên là Đa Gia Ly, sau gọi sai thành "Bà Già") (Toàn thư). Thôn Bà Già nay thuộc đất làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội. Những địa điểm của tù binh Chăm quanh Hà Nội có thể kể đến các làng cổ đan xen trồng dừa, như Ngã Tư Sở, Cổ Nhuế, Yên Sở, Đắc Sở..., cả một vùng phía Tây Thăng Long từ Ba La Bông Đỏ lên đến tận Sơn Tây, họ bị kẹp giữa Việt và Mường. Các làng tù binh Chăm, có khi được ở riêng nhưng xen cài giữa những làng Việt.

Lâu dần, họ đã hòa huyết và nói tiếng Việt, thi thoảng còn lưu dấu lại chút tín ngưỡng xưa, như chùa Bà Đanh ở Hồ Tây và nhiều nơi khác, thờ một tượng thần không đúng theo tinh thần Nho giáo, khiến vua Lê Thánh Tông phải làm thơ dạy dỗ. Tượng thần Shiva và tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) của Chăm tìm thấy ở chùa Võng La (làng Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Trên bia ký chữ Hán, thi thoảng có nơi vẫn khắc hình Bà Banh, như một truyền thống chưa đứt đoạn. Thậm chí, nhà khảo cổ Nguyễn Tiến Đông; Ogawa Yako còn tìm thấy những giếng nước mang đậm tính kỹ thuật của người Chăm ở xã Song Phương (Đan Phượng).

Lá nhĩ, hay gọi là tympan theo các học giả phương Tây trên các ngôi đền thờ Chămpa. Nguồn: Nguyễn Tiến Đông.

Chuyện hòa huyết giữa người Chăm và người Việt đã diễn ra từ sớm. Lê Ngọa Triều thích ăn kỳ nhông - khiến Tạ Chí Đại Trường ngờ ông là con của Lê Hoàn với một bà phi gốc Chăm. Chuyện về Hà Ô Lôi có khả năng sinh lý vượt trội, được miêu tả là một kiểu nô lệ (gia nô) gốc Chăm với nước da đen trơn láng. Năm 1448, người Chiêm Thành là Phan Mỗ dẫn hơn 340 đàn ông đàn bà sang hàng, xuống chiếu chia cho ở các đạo.

Thời Hồng Đức, tù binh Chiêm và dân Chiêm được nhập bản đồ nhiều đến mức nhà nước còn phải ra quy chế về họ tên, nếu tên quá dài thì cắt lại chỉ còn 2 đến 3 âm tiết (như Tô Môn - Tô Sa Môn, Sa Qua - Sa Oa Qua) cho đúng với thói quen người Việt để tiện ghi chép sổ hộ tịch và quản lý suất đinh. Lại ban thêm luật cấm quan viên và dân chúng không được lén lút chứa giấu người Chiêm Thành. Tù binh Hoàng gia Chiêm (Trà Toại) trong sự kiện năm 1471 chủ yếu được an trí ngoài cửa Bảo Khánh (Ngọc Khánh, Hà Nội nay) trong ba mươi năm. Luật phải cấm quan lại hoàng thân không được lấy vợ Chiêm. Đến thời Cảnh Thống, Trà Phúc mang trộm hài cốt của cha Trà Toại trốn về nước, nô lệ người Chiêm của các nhà thế gia, công thần ở các điền trang cũng bỏ trốn về nước. Đó là một cuộc đào tẩu có tổ chức, khiến Lê Hiến Tông ra lệnh tàn sát người Chiêm ở kinh thành.

Năm 1509, Vua Lê sai giết các nữ sử nội thần người Chiêm. Đến mức, thân thích của Trường Lạc Hoàng thái hậu là Nguyễn Văn Lang, khi bị đuổi  về Thanh Hóa, đã dẫn cả Chế Mạn - nô lệ Chiêm, cùng người ba phủ nổi nghĩa quân ở thành Tây Đô, đem quân giữ ở cửa biển Thần Phù. Năm 1516,  một người Chăm khác ở Bắc là Phan Ất (tên Đồng Lợi - vốn là gia nô của Trịnh Duy Đại), cùng hàng loạt người Việt khác theo Trần Cảo dấy quân ở chùa Quỳnh Lâm, chiếm khắp Thủy Đường và Đông Triều. Ngoài các họ Chế - Trà - Ông - Ung, ta còn biết đến cả họ Phan (vốn đọc chệch từ phiên - với nghĩa người phên dậu) cũng là một gốc Chăm đã Việt hóa. Thời Lý, ta còn biết đến một Phan Ma Lôi đi buôn sang tận Ai Lao, “có tài chủ động đánh thắng, dụng binh như thần”. Những Phan Mỗ hay Phan Ất thì đều với nghĩa là “thằng phiên nào đấy không biết tên”.

Trên đây, bài viết đã điểm qua những ảnh hưởng của Chăm trên vùng Thăng Long - Bắc Bộ. Sẽ còn nhiều ý kiến khác nữa, như chất liệu gạch đỏ son thời Lý - Trần trên tháp Bình Sơn, hay những đôi phỗng trong các ngôi đền thờ cổ kính, cột đá chùa Dạm mô phỏng linga-yoni, các vũ nữ trên tháp Chương Sơn, hình tượng garuda và kinara trong kiến trúc tháp Phật Tích,... Những biểu hiện ấy cần phải thảo luận thêm trong bài viết tiếp sau. Bởi văn hóa Chăm tuy có hiện diện và hòa tan trong văn hóa Bắc Bộ nhưng vẫn phải có giới hạn về tiêu chí, để tránh những nhận định quá đà.

Trần Trọng Dương – Báo CAND

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...