Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020

NẠN NHÂN DA ĐEN BỊ BẮN CHẾT TỪNG ĐÃI THỨC ĂN MIỄN PHÍ CHO CẢNH SÁT MỸ

David McAtee, chủ cửa hàng đồ nướng người Mỹ gốc Phi, bị bắn tử vong trong một cuộc đụng độ giữa cảnh sát Louisville và người biểu tình hôm 1/6.
Nạn nhân McAtee, 53 tuổi, sở hữu một hàng ăn “đông khách tại khu vực Tây Louisville”. Sau nhiều năm kinh doanh, ông McAtee có nhiều khách hàng thân thiết và thường chiêu đãi miễn phí các cảnh sát địa phương, theo bà Odessa Riley, mẹ của ông McAtee.
Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 2, David McAtee chia sẻ về việc kinh doanh: “Dù trải qua nhiều thăng trầm nhưng tôi luôn muốn ở đây và nắm bắt cơ hội”. Ông McAtee từng bị bắn và bị cướp khi bán hàng ở quán ăn ngoài trời.
David McAtee, chủ cửa hàng đồ nướng người Mỹ gốc Phi, bị bắn hạ trong một cuộc đụng độ giữa cảnh sát Louisville và người biểu tình. Ảnh: CNN.
Với ước mơ mở một nhà hàng lớn, ông McAtee từng chia sẻ: “Tôi sẽ tiếp tục cố gắng, dù bây giờ chỉ là bước khởi đầu. Tôi có thể mất nhiều năm mới mở được cửa hiệu lớn nhưng tôi sẽ làm được”.
Giấc mơ này đã không thành hiện thực sau ngày 1/6, khi ông David McAtee bị bắn hạ trong một cuộc đụng độ giữa cảnh sát Louisville và người biểu tình. Vụ việc khiến cảnh sát trưởng Louisville và 2 sĩ quan không sử dụng camera cá nhân theo quy định, bị sa thải.
Nạn nhân từng chiêu đãi miễn phí các cảnh sát địa phương, theo bà Odessa Riley, mẹ của ông McAtee. Ảnh: CNN.
Marvin, cháu trai của nạn nhân, cho biết ông David McAtee lãnh một viên đạn chí mạng vào vùng ngực trong khi đang che chắn cho cô cháu gái bị thương.
Trong cuộc họp báo hôm 1/6, Thị trưởng thành phố Louisville Greg Fischer tưởng nhớ nạn nhân: “David McAtee là một người bạn thân quen. Tài nấu nướng của ông ấy đã sưởi ấm dạ dày và trái tim của chúng ta”.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020

NHÀ HÀNG VIỆT Ở MỸ BỊ THIÊU RỤI TRONG BIỂU TÌNH

Sau một đêm bị người biểu tình đốt phá, nhà hàng Việt Nam Saigon Bay của vợ chồng ông Thanh Sơn chỉ còn là đống đổ nát.
Saigon Bay là một trong khoảng 40 cơ sở kinh doanh ở khu thương mại Fowler Plaza South, thành phố Tampa, bang Florida, bị đốt phá và cướp bóc vào tối 30/5, sau khi cuộc biểu tình ôn hòa ban ngày liên quan đến cái chết của George Floyd biến thành bạo loạn, theo Tampa Bay Times.
Ông Thanh Sơn, 50 tuổi, cùng gia đình mua lại nhà hàng Saigon Bay cách đây 4 năm sau khi điều hành một nhà hàng ở thành phố Kansas, bang Missouri suốt 15 năm. Saigon Bay đã tồn tại hàng chục năm nay, là nơi người dân và sinh viên ở đại học Nam Florida gần đó thường xuyên tới thưởng thức món phở.
Tối đó, ông cùng mọi người đang ở nhà hàng thì biểu tình nổ ra.
“Tôi nhìn thấy đám đông kéo tới. Thật đáng sợ”, Savy Lam, 44 tuổi, vợ ông, kể.
Cảnh sát được điều tới và giải tán những kẻ cướp bóc sau khi họ đột nhập một cửa hiệu. Thấy tình hình có vẻ ổn thỏa nên 21h30 ông trở về nhà.
Tuy nhiên, sau đó, chủ một cửa hàng trang sức gần đó gọi cho ông Sơn, báo tin ông nhìn thấy nhà hàng đang bốc cháy qua camera an ninh. 1h sáng 31/5, ông quay lại nhưng không thể tiếp cận nên đành đi về nhà.
Trở lại Saigon Bay lúc 7h, trước mắt ông là đống ngổn ngang. Cả nhà hàng và cửa hiệu Champs Sports bên cạnh đều là đống đổ nát. Mái và khung nhà bị thiêu rụi, bảng hiệu bị gãy, cửa kính bị đập vỡ.
Nhà hàng Saigon Bay, thành phố Tampa, Florida, bị thiêu rụi trong cuộc bạo loạn đêm 30/5. Ảnh: Tampa Bay Times
Đến gần trưa, cảnh sát và lính cứu hỏa vẫn làm việc tại hiện trường. Hơn 40 người đã bị bắt giữ với loạt tội danh từ cướp của đến gây bạo loạn và mang theo vũ khí.
Suốt những năm qua, ông Sơn chưa bao giờ chứng kiến điều gì như thế.
“Chúng tôi không biết khi nào mới gây dựng lại được. Chúng tôi hoàn toàn không biết”, ông nói.
Tampa chỉ là một trong những thành phố của Mỹ chứng kiến những cuộc biểu tình kéo dài một tuần qua sau khi George Floyd, 46 tuổi, bị cảnh sát ghì gáy dẫn tới tử vong. Các cuộc biểu tình khởi phát ôn hòa từ thành phố Minneapolis, bang Minnesota, sau đó biến thành bạo lực, cướp bóc, đốt phá, khiến các tòa nhà, cơ sở kinh doanh bị hư hại.
Một video được chia sẻ trên mạng cho thấy tiệm nail của người Việt tại Minneapolis bị đập vỡ kính, bàn ghế, các dụng cụ, cướp tiền.
“Nhiều cửa hàng ở trung tâm thành phố Houston cũng bị đập phá, trong đó có nhà hàng Blind Goat của đầu bếp nổi tiếng Christine Hà, quán ăn yêu thích của tôi”, anh Nhật Minh, ở Houston, bang Texas, nói với VnExpress. “Hôm qua, khi đi qua trung tâm thành phố, tôi nhìn thấy biển cảnh báo người dân tránh khu vực đó”.
Anh Minh cho hay lượng người xuống đường tại Houston khá lớn bởi Floyd vốn là người ở đây. Theo bạn bè của Floyd, anh lớn lên ở khu vực chủ yếu là người da màu tại Houston, trước khi đến Minneapolis tìm việc.
Thống đốc bang Texas Greg Abbott đã tuyên bố tình trạng thảm họa do tình trạng bạo lực tại các thành phố khắp bang, đồng thời triển khai hàng nghìn binh sĩ và hơn 1.000 thành viên Vệ binh Quốc gia để hỗ trợ cảnh sát đảm bảo an ninh.
Chị Phương Trần, ở Las Vegas, bang Nevada, cho hay các cuộc biểu tình diễn ra tại khu vực trung tâm mấy ngày qua, nơi có rất nhiều shop thời trang và nhà hàng. Biểu tình ban đầu diễn ra ôn hòa khi cảnh sát cam kết ủng hộ những người tham gia nếu họ không gây rối và đập phá tài sản.
Tuy nhiên, bạo loạn sau đó bùng phát với hơn 100 người bị bắt, nhiều tòa nhà bị hư hại. Một chiếc SUV bị đốt cháy, các cửa hàng bị phun sơn với thông điệp kêu gọi công lý. Tối qua, cảnh sát Las Vegas đã phải dùng hơi cay để giải tán đám đông.
“Dịch bệnh vẫn đang tiếp diễn, lại thêm biểu tình, tôi càng hạn chế ra ngoài, nếu có thì tránh những khu vực trên”, chị nói. “Nhiều thành phần lợi dụng hỗn loạn để phá hoại và cướp bóc. Để tránh rủi ro, chính quyền đã khuyến cáo các cơ sở kinh doanh ở trung tâm thành phố đóng cửa từ 16h”.
Người biểu tình ôn hòa trên cầu Manhattan, quận Brooklyn, thành phố New York, hôm 31/5. Ảnh: New York Daily News
Floyd bị cáo buộc sử dụng tờ 20 USD giả để thanh toán tại một tiệm tạp hóa. Theo các công tố viên, sĩ quan cảnh sát Derek Chauvin đã dùng gối ghì chặt gáy của Floyd trong gần 9 phút, mặc anh này van xin vì “không thở được”.
Chauvin đã bị sa thải, bắt giữ và truy tố tội giết người cấp độ ba và ngộ sát. Ba cảnh sát còn lại ở hiện trường cũng bị sa thải. Tuy nhiên, người biểu tình không hài lòng và cho rằng tất cả họ cần phải chịu trách nhiệm và bị truy tố nặng hơn.
Theo thống kê của AP, ít nhất 4.400 người đã bị bắt trong những ngày qua, từ trộm cướp, chặn đường cao tốc đến phá lệnh giới nghiêm.
Vừa mở cửa lại được hai tuần sau cả tháng đóng cửa do lệnh phong tỏa để kiềm chế Covid-19 lây lan, anh Hoài Nam, chủ một nhà hàng Việt ở thành phố New York, lại lo lắng vì biểu tình nổ ra. Các cơ sở kinh doanh khác ở một số khu vực bị phá hoại, nhưng nhà hàng của anh may mắn chưa ảnh hưởng gì.
“Covid-19 đã khiến nhiều chủ kinh doanh điêu đứng rồi, giờ thêm bạo loạn nữa không biết họ phải sống sao”, anh chia sẻ. “Hàng ngày tôi vẫn mở cửa, đến tối về lại bất an, sợ nhỡ nhà hàng của mình bị đập phá thì sao?”.
Các cuộc biểu tình ở New York đã kéo dài 4 ngày liên tiếp với hàng nghìn người xuống đường tuần hành. Anh Nam cũng hòa vào dòng người biểu tình ôn hòa đó vào sáng qua. Tuy nhiên, giống như những ngày trước, đến đêm, bạo loạn lại xảy ra. Người biểu tình đốt lửa, đụng độ với cảnh sát. Những tiếng súng vang lên, nhiều người bị bắt và nhiều sĩ quan bị thương.
Anh Nam cho hay mình phần nào hiểu được phản ứng của người biểu tình bởi họ từng chịu nhiều bất công trong xã hội, bị khinh thường và đối xử như những một tầng lớp thấp kém. Cái chết của Floyd cộng với tình hình dịch bệnh và thất nghiệp thời gian qua đã thổi bùng ngọn lửa tức giận trong họ.
“Đâu cũng có người tốt, người xấu. Không phải tất cả người da màu đều xấu và không phải tất cả người da trắng đều tốt. Không có gì là hoàn hảo”, anh nói.
Biểu tình ở Mỹ hiện đã lan sang cả Anh và New Zealand. Tổng thống Mỹ Donald Trump gọi cái chết của Floyd là một “thảm kịch”, nhưng lên án các hành vi biểu tình bạo lực là hành động của “những kẻ cướp bóc, vô chính phủ”.
Anh Nam dự đoán tình hình căng thẳng sẽ chấm dứt sau 2-3 ngày nữa, khi 4 cảnh sát liên quan tới cái chết của Floyd nhận những bản án thích đáng.
“Một bộ phận cảnh sát Mỹ cậy quyền và không coi trọng mạng sống của người khác. Tôi nghĩ nếu người da màu được đối xử khác, sẽ không có những chuyện như thế này xảy ra”, anh nói thêm.
#HHĐ# SƯU TẦM

TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI

Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, văn hóa ứng xử thường mang dấu ấn trong cách tư duy, cách giáo dục, cách hành xử của mỗi con người, tính nhân văn của cộng đồng và thể hiện trong chính sách phát triển xã hội, có tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
1- Văn hóa ứng xử là một trong những thành tố của văn hóa. Do vậy, ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những quy phạm ứng xử xã hội phù hợp với điều kiện văn hóa, thể hiện tính người thông qua cách ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng.
Một trong những tiêu chí được sử dụng để đánh giá sự phát triển của xã hội là văn hóa. Điều này được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong đường lối, chính sách phát triển coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12-4-2012, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020”, xác định các định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững trong giai đoạn 2011-2020 là phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là xây dựng, bồi đắp đạo đức, lối sống, trí tuệ, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội và ý thức chấp hành pháp luật trong thế hệ trẻ.
Sự phát triển xã hội đặt con người vào trung tâm của sự phát triển, ngược lại cách con người ứng xử với nhau trong xã hội có thể nhìn nhận được và có những tác động nhất định đến sự phát triển xã hội. Mối quan hệ này cho thấy, con người không thể sống tách biệt hoàn toàn với xã hội cũng như không thể tồn tại mà không có những mối quan hệ với thế giới quanh mình. Như C.Mác viết: “Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa…[đều] là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”(1). Chính bởi vậy, trong việc đánh giá sự phát triển của xã hội và sự tác động của văn hóa, thì cần chú ý đến tác động của văn hóa ứng xử. Điều này có thể nhìn nhận từ chính hoạt động của con người đối với xã hội. Đúng như Fê-đê-ri-cô Mây-ơ (Federico Mayor), nguyên Tổng Giám đốc UNESCO đã nhấn mạnh: “Khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối cả về mặt kinh tế lẫn mặt văn hóa, đồng thời tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ suy yếu đi rất nhiều”(2). Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, sự phát triển xã hội Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nếu như con người thiếu nhận thức đúng đắn về sự giao lưu và kết nối văn hóa. Điều đó phản ánh nền tảng văn hóa trong mỗi con người, sự vững chắc của giá trị văn hóa trong xã hội, do vậy, văn hóa ứng xử là một trong những cơ sở thể hiện khả năng phát triển xã hội, vì nó thể hiện sự nhận thức và hành động của các cá nhân, của cộng đồng và được thể hiện trong chính sách phát triển xã hội của hệ thống chính trị.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, sự giao lưu văn hóa đã và đang tạo ra không ít thách thức với chính con người với vai trò là đối tượng tạo ra và phát triển văn hóa, trong việc nhận thức về giá trị của văn hóa, phát huy giá trị của giao lưu văn hóa trong đời sống xã hội. Từ góc độ văn hóa ứng xử, rõ ràng có một bộ phận, nhất là giới trẻ chưa tìm được cách thể hiện mình trong điều kiện đa văn hóa hiện nay.
Văn hóa chỉ phát triển thông qua các mối quan hệ xã hội thường xuyên, nhưng chịu sự điều chỉnh bởi nhiều mối quan hệ khác, đồng thời được kế thừa và tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình học hỏi, tương tác với môi trường và với các thành viên trong xã hội. Điều đó khẳng định, vấn đề ứng xử được đặt ra như một nhu cầu của quá trình phát triển văn hóa nói riêng và phát triển xã hội nói chung.
Văn hóa ứng xử chỉ có ở con người, chịu sự chi phối mạnh mẽ từ nền tảng văn hóa của cá nhân và của xã hội. “Văn hóa ứng xử là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được thể hiện ở thái độ, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, xã hội và bản thân, trên cơ sở những chuẩn mực văn hóa - xã hội nhất định, để bảo tồn, phát triển cuộc sống cá nhân và cộng đồng nhằm làm cho cuộc sống của cá nhân và cộng đồng giàu tính người hơn”(3). Do vậy, văn hóa ứng xử và sự phát triển xã hội có mối quan hệ tác động lẫn nhau. Văn hóa ứng xử chi phối những mối quan hệ con người với con người, con người với tự nhiên và con người với bản thân mình. Văn hóa ứng xử được nhìn nhận từ hai phạm vi là văn hóa xã hội và văn hóa cá nhân. Những tác động của văn hóa ứng xử đến sự phát triển xã hội có sự thể hiện đa dạng qua nhiều cách thức, được nhìn nhận qua mối quan hệ giữa con người với con người trên nền tảng văn hóa cá nhân. Văn hóa cá nhân không chỉ được hiểu đơn giản là những tri thức, những giá trị văn hóa do người đó tiếp nhận được thông qua con đường giáo dục, đào tạo,… mà cần được mở rộng hơn là cách thức cá nhân sử dụng những tri thức, những giá trị văn hóa đó trong cuộc sống của mình như thế nào.
2- Một trong những tác động của văn hóa nói chung, văn hóa ứng xử nói riêng, đến xã hội thể hiện qua hiệu ứng chức năng. Đó là sự phản ánh cách thức văn hóa hoạt động để có thể duy trì và phát triển xã hội. Những tác động này có thể kể đến việc thúc đẩy sự tham gia của người dân, góp phần phát triển cộng đồng, hình thành và giữ gìn bản sắc, xây dựng sự gắn kết xã hội… Suy nghĩ và hành vi của mỗi người chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố cá nhân và môi trường xã hội và hai hình thức định hướng là điều chỉnh và chế tài.
Thứ nhất, những hành động được điều chỉnh theo quy định của pháp luật, theo những quy phạm pháp luật, chịu những chế định cụ thể. Đây là cách định hướng bề nổi vì chúng có thể được nhận diện rõ ràng. Mọi người dân sống trong xã hội đều phải tuân thủ những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Nếu vi phạm những điều đó, con người sẽ phải chịu xử phạt theo các chế tài. Đây là những quy định theo hình thức mang tính chất bắt buộc và góp phần định hướng hoạt động của con người trong hoạt động thực tiễn với mục đích bảo vệ và bảo đảm sự công bằng giữa mọi người.
Thứ hai, những ảnh hưởng ngầm không được công nhận theo hướng chính thức ở bề nổi và khó nhìn thấy được. Đó là các thông lệ, thói quen và các “luật bất thành văn” góp phần hình thành nên văn hóa ứng xử, bởi quan niệm “trăm cái lý không bằng một tý cái tình” trong văn hóa Việt Nam. Trong cách tư duy của người Việt, cái tình luôn có tác động mạnh và trực tiếp đến hành vi của con người. Trong một xã hội như vậy, những hành động thể hiện nhân tính, tình người được đánh giá cao, được tôn vinh. Bởi vậy, để có được sự ủng hộ của cộng đồng trong quá trình phát trình phát triển xã hội, việc tác động đến tình cảm của con người là rất quan trọng.
Trên cơ sở hai định hướng đó, văn hóa ứng xử được hình thành, phát triển và chi phối đến suy nghĩ, hành vi của con người trong xã hội. Tuy nhiên, văn hóa ứng xử vừa thể hiện những tác động, vừa được hoàn thiện theo sự phát triển xã hội. Do vậy, cần có cách nhìn khách quan để nhận diện những tác động của văn hóa ứng xử đến sự phát triển xã hội. Một số cách thức thể hiện sự tác động có thể kể đến là: Cách con người giao tiếp với nhaucách con người thể hiện thái độ, hành vi; cách thích ứng của con người trong xã hội.
Điểm quan trọng nhất của văn hóa ứng xử tác động đến sự phát triển xã hội là cách con người giao tiếp với nhau. Xã hội được hình thành trên nhiều mối quan hệ khác nhau của con người, trong đó quan hệ giữa con người với con người là mối quan hệ cơ bản nhất. Để duy trì và phát triển nó, con người trao đổi thông tin, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau thông qua phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ, thể hiện qua lời nói, chữ viết, hay giao tiếp phi ngôn ngữ, thể hiện qua nét mặt, cử chỉ, trang phục… Qua đó, con người tạo mối liên hệ, sự tương tác và khẳng định sự tồn tại, sự sống của mình trong xã hội. Việc giao tiếp phổ biến nhất là bằng lời nói, “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” để duy trì mối quan hệ tốt đẹp này. Trong quá trình giao tiếp, cá nhân tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội và các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, thực tế đời sống xã hội lại đang tác động nhiều chiều dẫn đến nhiều cách hiểu về chuẩn mực các quan hệ xã hội. Đây là hệ quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, không chỉ riêng đối với Việt Nam.
Trong khi việc giao tiếp trực tiếp mặt đối mặt, người với người, lắng nghe và trao đổi làm cho cuộc sống trở nên phong phú với những cảm nhận tình người cụ thể, thì giao tiếp thông qua các thiết bị công nghệ, tuy có thể giúp con người vượt qua mọi khoảng cách địa lý, tạo được nhiều mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức trên thế giới, tri thức được mở rộng, thúc đẩy sự gắn kết xã hội và sự đối thoại văn hóa nhưng lại dẫn đến sự khô cứng, thiếu những xúc cảm của con người, vì thế thông tin cũng thiếu sự kiểm chứng. Chính bởi vậy, những tin giả, hình ảnh giả… xuất hiện ngày càng nhiều, gây không ít tác động tiêu cực đến cuộc sống của con người.
Trong thời gian qua, những bình luận theo hiệu ứng “đám đông” trên các trang mạng xã hội ngày càng tràn lan. Không ít cá nhân thể hiện những quan điểm cực đoan, thái quá, thậm chí có những bình luận ác ý, phản cảm, bị các thế lực xấu lợi dụng để kích động, nhằm gây mất trật tự, an toàn xã hội, bất ổn chính trị... Hiện tượng trên cho thấy, nền tảng văn hóa đã và đang bị chi phối bởi các ứng xử cá nhân trong khi lối ứng xử cá nhân truyền thống lại đang bị mai một do tác động của toàn cầu hóa. Chính vì vậy, trong điều kiện xã hội mới, rất cần xây dựng lối ứng xử cá nhân phù hợp trên cơ sở nền tảng văn hóa truyền thống dân tộc vững chắc.
Ngoài ra, cách thức giao tiếp giữa con người với con người bằng hình thức phi ngôn ngữ, như trang phục, hành vi…, cũng có tác động mạnh đến xã hội, cách lựa chọn trang phục phù hợp không chỉ thể hiện phông văn hóa của cá nhân mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với người khác. Từ góc độ này, có một thực tế hiện nay là sự phá cách trong thời trang một cách thái quá của một bộ phận giới trẻ đang tạo ra sự phản cảm, gây nhiều bức xúc trong xã hội.
Văn hóa ứng xử tác động đến sự phát triển xã hội thể hiện qua cách con người thể hiện thái độ, hành vi trong xã hội. Đây là cách thức con người thể hiện sự nhận thức và khả năng vận dụng những tri thức, giá trị văn hóa mà mình có được vào đời sống thực tiễn. Việc thể hiện thái độ và hành vi phản ánh nhận thức và cảm nhận của cá nhân về một hiện tượng cụ thể khi nó tác động trực tiếp đến bản thân, đồng thời kết quả của nó tác động đến xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay. Ví dụ như, những hoạt động thiện nguyện, như “Cặp lá yêu thương”, “Trao cơ hội đi học, cho cơ hội đổi đời”,… thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách” trong văn hóa Việt Nam là những điểm sáng thể hiện tình người trong mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống xã hội, thể hiện giá trị nhân văn của văn hóa ứng xử Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến hấp dẫn về du lịch trên thế giới không chỉ bởi những danh thắng thiên nhiên mà còn bởi những giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Chính hành vi thân thiện và thái độ mến khách đã góp phần quan trọng quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam ra thế giới, qua đó thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Như vậy, cách ứng xử của mỗi cá nhân, mỗi công dân Việt Nam trong quá trình hội nhập có tác động không nhỏ đến hình ảnh của đất nước với bạn bè thế giới.
Nền tảng văn hóa nói chung, văn hóa ứng xử nói riêng, còn tác động đến sự phát triển xã hội thể hiện qua cách thích ứng của con người trong xã hội. Con người là nguồn lực quan trọng thúc đẩy mọi sự phát triển. Không những vậy, việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của con người mang một giá trị quan trọng. Nếu như hai yếu tố trên thể hiện ra bề ngoài của con người, thì yếu tố tiếp nhận này phản ánh nội lực bên trong của mỗi con người.
Trong bối cảnh hiện nay, ngày càng có nhiều những hoạt động văn hóa mang tính chất quốc tế xuất hiện trong mọi hoạt động của xã hội từ giáo dục, sách báo, phim ảnh, truyền hình,… đây là cơ sở để người Việt có điều kiện giao lưu và tiếp biến văn hóa. Song, cần có một nền tảng văn hóa Việt Nam vững chắc để đối chiếu, so sánh và bảo vệ trong điều kiện mới. Trước tiên, nền tảng đó chính là văn hóa cá nhân. Những hiện tượng tiếp nhận và truyền bá các thông tin từ nước ngoài sai lệch hoặc tin giả đang xuất hiện ngày một nhiều là do thiếu hoặc yếu tư duy phản biện. Điều đó phản ánh sự thụ động trong cách thích ứng của cá nhân khi vội vàng tiếp nhận mà chưa rõ bản chất của sự vật, hiện tượng. Hệ quả là dẫn đến hiện tượng sùng ngoại một cách thái quá. Xu hướng ngược lại cũng là một cản trở và thể hiện việc thiếu nền tảng văn hóa ở cá nhân, đó là hiện tượng bài ngoại. Hai xu hướng này thể hiện tính chất cực đoan trong quan điểm khá rõ và tương đối dễ nhận diện. Xu hướng thứ ba là sự tiếp biến các yếu tố ngoại lai nhưng thiếu cơ sở vững chắc từ văn hóa dân tộcnên cũng tạo ra một sự lai căng, theo hướng “đám đông”.
3- Để phát huy được vai trò của văn hóa ứng xử trong phát triển xã hội, một số giải pháp cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán trong thời gian tới là:
Thứ nhất, quan điểm, đường lối, chính sách cần theo kịp xu thế vận động của xã hội. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về nhiều mặt, trong đó có văn hóa. Chúng ta cần thống nhất quan điểm là các trào lưu văn hóa từ phương Tây, từ các quốc gia phương Đông khác… có thể có điều kiện phát triển ở Việt Nam nếu không đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.
Thứ hai, phạm vi của văn hóa nói chung, của văn hóa ứng xử nói riêng không thể chỉ sử dụng các biện pháp áp đặt để điều chỉnh, màcần có các biện pháp mềm để các yếu tố văn hóa ứng xử thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của con người một cách tự nhiên. Và sự lồng ghép văn hóa ứng xử trong từng quan niệm, đo lường và thực hành này sẽ tất yếu dẫn đến sự phát triển toàn diện, công bằng và bền vững. Đặc biệt khi yếu tố văn hóa ứng xử được lồng ghép, thể hiện rõ trong các chính sách sẽ thúc đẩy tạo ra các biến đổi rộng lớn hơn để tạo ra một xã hội phát triển bền vững và toàn diện hơn.
Thứ ba, người dân cần được trang bị đầy đủ tri thức về văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa ứng xử nói riêng. Đây không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của các phương tiện truyền thông nhằm tạo ra môi trường thuận lợi tác động tối ưu giúp con người hình thành và hoàn thiện nhân cách. Đặc biệt, các phương tiện truyền thông có khả năng truyền bá, phổ cập rộng rãi các yếu tố văn hóa tiến bộ giúp cho các cá nhân ứng xử với nhau một cách thân thiện, khoan dung và tích cực hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống.
Thứ tư, tạo điều kiện, môi trường tốt cho việc tiếp nhận, thích ứng và hiện thực hóa các tri thức văn hóa. Vì việc thống nhất và phù hợp giữa những tri thức với thực tiễn xã hội có sự khác nhau nhất định nên việc tạo dựng được môi trường xã hội để những giá trị ứng xử được kiểm chứng là điều kiện tốt nhất để cá nhân thể hiện được văn hóa ứng xử của bản thân. Một cá nhân có thể thay đổi cách suy nghĩ, lối sống trong một thời gian ngắn, những biểu hiện của văn hóa ứng xử có thể thay đổi do các yếu tố về thời gian, về thể chế hay điều kiện kinh tế nhưng bản chất văn hóa ứng xử của một dân tộc thì không dễ gì thay đổi và luôn cần được gìn giữ.

Văn hóa ứng xử là một biểu hiện của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, xu hướng vận động, phát triển của văn hóa ứng xử cũng chịu tác động mạnh mẽ từ sự vận động, phát triển của xã hội. Từng cá nhân, từng thành viên của xã hội đều là những người góp phần phát triển văn hóa ứng xử, do đó việc xây dựng nền tảng văn hóa cá nhân vững chắc là nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển xã hội hiện nay ở Việt Nam./.
1. C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1996, Hà Nội, t. 27, tr. 657
2. Phạm Xuân Nam: Văn hóa và kinh doanh, Nxb. Khoa học xã hội, 1996, Hà Nội, tr. 34
3. Nguyễn Thanh Tuấn: Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, Nxb. Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2008, tr. 36
#HHĐ# SƯU TẦM

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Quá trình nhận thức và đổi mới tư duy lý luận của Đảng về nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong hơn 30 năm đổi mới dựa trên cơ sở quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước, là một quá trình xuất phát từ thực tiễn của đất nước qua các giai đoạn, các sự kiện, các mốc lịch sử quan trọng, từ bối cảnh khu vực và quốc tế và từ yêu cầu, khả năng về quốc phòng, an ninh và sự phát triển kinh tế. Đây là một quá trình nhận thức từng bước, có sự điều chỉnh phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước, đổi mới và hội nhập quốc tế.
Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước nhận thức và bổ sung hoàn chỉnh về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc gắn với xây dựng chủ nghĩa xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế, đổi mới, phát triển; đó cũng là một quá trình bổ sung cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn trên thế giới, khu vực và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Về quá trình đổi mới tư duy đó có thể khái quát trên một số lĩnh vực cơ bản sau:
Một là, nhận thức đúng, đủ về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và về mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược này ngày càng rõ hơn, sâu sắc hơn.
Trong quá trình đổi mới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc luôn được Đảng xác định có tầm quan trọng đặc biệt, là tiền đề và cơ sở hỗ trợ trực tiếp cho nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng đất nước. Hai nhiệm vụ này không thể tách rời bởi có bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi sự đe dọa, tấn công từ bên ngoài thì mới tạo được môi trường thuận lợi, hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước. Ngược lại, càng xây dựng đất nước có hiệu quả, vững mạnh thì càng tạo điều kiện về sức mạnh vật chất cho bảo vệ Tổ quốc. Hai nhiệm vụ trên phải đồng thời tiến hành vì nó là tiền đề, điều kiện của nhau, không thể tách rời.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định phải đặc biệt chú trọng tới việc nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đặt trong các mối quan hệ lớn, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa trong một tổng thể thống nhất. Đây là biểu hiện sự trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thể hiện năng lực nắm chắc quy luật về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và vận dụng sáng tạo vào đặc điểm, truyền thống dân tộc, nhiệm vụ cách mạng của đất nước trong bối cảnh mới.
Hai là, nhận thức mới về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và thực trạng đất nước.
Đảng có nhận thức về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc ngày càng sâu sắc, đầy đủ và cụ thể hơn qua từng thời kỳ. Nếu như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (gọi tắt là Cương lĩnh 1991), Đảng ta nhấn mạnh: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; chế độ xã hội chủ nghĩa; sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”(1); thì đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (năm 2014), Đảng ta đã xác định rõ nét, đầy đủ hơn về mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc, đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cảnh giác, phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển, đảo, chiến tranh mạng, bạo loạn, khủng bố; không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước, tăng cường hợp tác kinh tế với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng, nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới, giải quyết cơ bản các vấn đề biên giới trên bộ, các vấn đề trên biển với các nước láng giềng.
Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006) đã xác định đầy đủ với việc bổ sung nhiều nội dung, như: Đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; tiếp tục phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và các khu vực nhạy cảm trên biên giới, đất liền, biển đảo; xây dựng công nghiệp quốc phòng trong hệ thống công nghiệp quốc gia dưới sự chỉ đạo, quản lý, điều hành trực tiếp của Chính phủ, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh; xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó chú trọng đổi mới tổ chức, nội dung, phương pháp huấn luyện, đào tạo đi đôi với cải tiến, đổi mới vũ khí, trang bị phương tiện phù hợp với yêu cầu tác chiến mới; phát triển khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, phù hợp với yêu cầu tác chiến mới.

Ba là, nhận thức về quan điểm và phương châm chỉ đạo bảo vệ Tổ quốc ngày càng toàn diện, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ đất nước.
Về quan điểm, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã cụ thể hóa quan điểm, phương châm của Đảng ta là phải gắn mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc với giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới; ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài, giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi; vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối tượng.
Về phương châm chỉ đạo, Nghị quyết xác định 3 phương châm cần nắm vững trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là: Kiên định các mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, kiên trì giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai phạm, cô lập các phần tử chống đối; thường xuyên đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh, không để bị động, bất ngờ. Quan điểm của Đảng là cần phải chủ động bảo vệ đất nước từ xa, từ sớm, từ lúc đất nước chưa nguy, có đối sách phù hợp với từng đối tượng theo từng tình huống cụ thể.
Bốn là, nhận thức về sức mạnh tổng hợp và lực lượng bảo vệ Tổ quốc ngày càng đầy đủ hơn.
Đó chính là sức mạnh tổng hợp của quốc gia cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, quốc phòng, an ninh, của cả hệ thống chính trị, sức mạnh của toàn dân trên cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy sức mạnh của lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Đó là sự kết hợp của sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; sức mạnh của “bàn tay hữu hình” và sức mạnh của “bàn tay vô hình”... Tất cả các nguồn lực đó được kết tinh lại, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự đồng lòng, thống nhất về quyết tâm và ý chí của toàn dân; trong đó, lấy sức mạnh chính trị, tinh thần làm cốt lõi; đại đoàn kết dân tộc làm động lực chủ yếu, thế trận lòng dân làm nền tảng.
Năm là, nhận thức về phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cũng có những nội dung bổ sung, phát triển.
Đảng nhấn mạnh phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và phi vũ trang; kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ tốt để có điều kiện xây dựng tốt. Đấu tranh phi vũ trang được Đảng nhận thức có vai trò ngày càng quan trọng trong phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm đối phó có hiệu quả các phương thức, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Sáu là, nhận thức ngày càng hoàn thiện về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn chặt với xây dựng nền an ninh nhân dân, gắn quốc phòng với an ninh, đấu tranh quốc phòng gắn với bảo vệ an ninh.
Đây là hai lĩnh vực, hai nhiệm vụ có quan hệ mật thiết với nhau. Theo đó, Đảng chủ trương phải xây dựng nền quốc phòng theo phương châm toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường, mang tính tự vệ và ngày càng hiện đại; xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn diện, lấy tiềm lực chính trị, tinh thần làm cơ sở, quyết định hiệu quả việc sử dụng các tiềm lực khác; phát triển công nghiệp quốc phòng trở thành một bộ phận quan trọng của tiềm lực quốc phòng; phát triển khoa học - công nghệ quân sự; coi trọng xây dựng tiềm lực kinh tế mà cốt lõi là xây dựng phát triển kinh tế nhanh, bền vững, bảo đảm sự độc lập, tự chủ về kinh tế, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, việc xây dựng thế trận lòng dân được coi là cơ sở quan trọng; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc là trọng tâm.
Nhận thức về an ninh và an ninh nhân dân ngày càng hoàn thiện khi Đảng đưa ra khái niệm về an ninh tổng hợp, bao gồm an ninh chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa; kết hợp xây dựng nền quốc phòng toàn dân với xây dựng nền an ninh nhân dân trong việc xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc ở mỗi địa bàn và trên cả nước. Có bảo đảm quốc phòng vững chắc thì mới duy trì được an ninh có hiệu quả, và ngược lại, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho quốc phòng hoàn thành trọng trách được giao phó.
Bảy là, nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Đó là sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, trở thành nguyên tắc có ý nghĩa sống còn, bảo đảm cho quân đội luôn nhận được và thực hiện trực tiếp, đầy đủ, toàn diện sự lãnh đạo của Đảng về những vấn đề liên quan đến sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ đất nước. Đây là sự phát triển về tư duy và nhận thức sự lãnh đạo của Đảng. Trước đó, Đảng xác định vai trò lãnh đạo đối với quân đội là: trực tiếp, tập trung, thống nhất về mọi mặt.
Tám là, nhận thức về đối tác, đối tượng có bước phát triển mới, có cách nhìn biện chứng.
Việc xác định đối tác, đối tượng là vấn đề rất cơ bản, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến chính sách đối nội, đối ngoại của đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX đã nhấn mạnh: Nhằm phát huy thuận lợi, hạn chế thách thức, cần có cách nhìn mới và thống nhất về đối tượng, đối tác theo nguyên tắc: những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Theo đó, đối tượng không chỉ là lực lượng gây chiến tranh, bạo loạn, lật đổ mà còn là kẻ xâm phạm lợi ích chủ quyền quốc gia dân tộc bằng phương thức vũ trang hoặc phi vũ trang.
Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới là quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, gắn chặt một cách hữu cơ với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại và giữ vững an ninh, trật tự của đất nước. Sự đổi mới tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc dựa trên cơ sở thực tiễn và bám sát tình hình thực tế của đất nước, của khu vực và thế giới. Chính từ những cơ sở thực tiễn đó lại gợi mở, định dướng cho sự tiếp tục đổi mới tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thời kỳ mở cửa và hội nhập quốc tế.
Qua từng kỳ Đại hội, Đảng ta đã từng bước nhận thức và bổ sung hoàn chỉnh hơn về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc gắn với xây dựng chủ nghĩa xã hội trong quá trình hội nhập, đổi mới, phát triển; nhờ đó, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực; tuy nhiên, vẫn còn tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn. Trong khi đó, tình hình thế giới, khu vực đang có những biến động khó lường. Điều đó đòi hỏi nhận thức và tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cũng như việc triển khai thực hiện cần tiếp tục hoàn thiện, phát triển thời gian tới./.
#HHĐ# SƯU TẦM

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

PHÁT HUY NGUỒN LỰC VĂN HÓA - CON NGƯỜI, TẠO BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐƯA ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG

Đại hội XII của Đảng xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong bối cảnh hiện nay, cần có những giải pháp đồng bộ để phát huy các nguồn lực văn hóa Việt Nam, tạo bước đột phá đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Văn hóa và nguồn lực văn hóa
Theo quan điểm duy vật của C. Mác, trong “đời sống hiện thực” của xã hội, các nhân tố vật chất và tinh thần luôn tác động lẫn nhau, gắn bó với nhau, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của lịch sử, trong đó kinh tế không phải là cái duy nhất quyết định. Văn hóa cũng là một trong những nhân tố quy định sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội. Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, văn học, nghệ thuật... là dựa vào sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả sự phát triển đời sống đều tác động lẫn nhau và cùng tác động đến cơ sở kinh tế.
Liên hợp quốc đưa ra quan niệm về phát triển trong thời đại ngày nay (tại buổi phát động “Thập kỷ quốc tế văn hóa vì phát triển” ngày 21-1-1988 ở trụ sở Liên hợp quốc) là, phát triển có nghĩa là sự thay đổi, nhưng thay đổi không phải sẽ tạo nên sự khác biệt mà nó sẽ tạo ra những đặc tính, đặc trưng của xã hội và cá nhân. Điều đầu tiên và trên hết, sự thay đổi phải mang lại cuộc sống phồn vinh và có chất lượng được mỗi cộng đồng chấp nhận... Quan niệm này cho thấy phát triển là sự thay đổi hướng tới con người, hướng tới xã hội, làm tăng phẩm chất người và tính đa dạng xã hội, tạo ra những đặc tính, đặc trưng của xã hội và cá nhân; phát triển hướng tới sự công bằng không phải sẽ tạo nên sự cách biệt, mà gắn với tiến bộ xã hội, mang lại cuộc sống phồn vinh và có chất lượng; phát triển phải phù hợp với đặc điểm, trình độ của mỗi cộng đồng, không mang tính áp đặt, cưỡng bức, phải được mỗi cộng đồng chấp nhận, nó mang tính đa dạng văn hóa, mang tính nhân văn, nhân bản. Phát triển gắn với vai trò của văn hóa sẽ được khởi đầu và truyền bá bởi văn hóa. Văn hóa là mục tiêu, động lực của sự phát triển.
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F. May-ơ từng nhấn mạnh rằng, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển khoa học nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển cũng là hai mặt gắn liền với nhau. Hễ nước nào tự đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu. Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy, phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa. Văn hóa cần là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã mở ra công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Cùng với sự đổi mới về tư duy kinh tế, Đảng đã có những tìm tòi, đổi mới sâu sắc trong tư duy về văn hóa, khẳng định sâu sắc hơn nữa vai trò và tác động của văn hóa trong công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp tục quan điểm Đại hội VI của Đảng, Đại hội VII của Đảng đã nhấn mạnh cần coi trọng động lực kinh tế và động lực tinh thần của sự phát triển: “Kết hợp động lực kinh tế với động lực tinh thần thực hiện hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hộiphát huy lòng yêu nước và tự hào dân tộc, truyền thống cách mạng và kháng chiến, ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng đất nước, tạo ra phong trào quần chúng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (năm 1993) nêu rõ, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự nhận thức sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và phát triển, là bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vai trò to lớn, sâu sắc của văn hóa trong phát triển.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) tiếp tục khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển - kinh tế - xã hội... Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, luật pháp, kỷ cương... biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển(3). Không dừng lại ở việc nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển, kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (năm 2004) đã xác lập vị trí của văn hóa là một trong ba bộ phận hợp thành sự phát triển bền vững, toàn diện của đất nước, bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh lực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.
Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” khẳng định, văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Như vậy, văn hóa không đứng ngoài sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa nằm bên trong (là nhân tố nội sinh) vừa là mục tiêu, vừa là động lực - nguồn lực và là hệ điều tiết của sự phát triển kinh tế - xã hội. “Nguồn lực văn hóa” được dùng với nhiều tên gọi khác nhau như “vốn văn hóa”, “nguồn lực nội sinh”, “nguồn lực con người”, “nguồn lực mềm” hay “động lực tinh thần”...
Năm 1988, trong buổi lễ phát động Thập kỷ quốc tế văn hóa vì phát triển (1988 - 1997), Liên hợp quốc đưa ra quan niệm văn hóa là động lực cho phát triển. Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy, phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm thấy trong văn hóa...
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu tinh thần của thời đại, trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật..., phải biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển. Tuy vậy, sự tiếp cận văn hóa như là nguồn vốn - nguồn lực của sự phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn khá mới mẻ. Song khái niệm nguồn lực văn hóa có thể được hiểu là tổng thể các yếu tố văn hóa tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động kinh tế - xã hội. Nguồn lực văn hóa là sức mạnh vừa hữu hình, vừa vô hình, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững theo hướng nhân văn, nhân bản.
Như vậy, có thể thấy nguồn lực văn hóa gồm các yếu tố cơ bản sau:
Một là, nguồn lực con người (nguồn lực nội thể hóa) là năng lực tinh thần của chủ thể bao gồm: tri thức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, đạo đức, ý chí... kết tinh trong mỗi con người và chất lượng sống, sự hài lòng, hạnh phúc làm nên động lực tinh thần của con người trong hoạt động kinh tế và đời sống của họ.
Hai là, nguồn lực quan hệ xã hội - văn hóa được thể chế hóa thành những quy tắc, luật lệ, nguyên tắc ứng xử tạo thành môi trường văn hóa của hoạt động kinh tế, bao gồm: quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, cá nhân với cá nhân, con người với môi trường tự nhiên được văn hóa hóa, thẩm mỹ hóa.
Ba là, nguồn lực sản phẩm văn hóa được vật thể hóa thành các sản phẩm vật chất chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể, bao gồm: di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh, sản phẩm thủ công mỹ nghệ chứa đựng các truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ, nghệ thuật, uy tín, thương hiệu.
Phát huy các nguồn lực văn hóa - con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Gần đây, trong các cuộc bàn thảo về các giải pháp đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thúc đẩy sự phát triển đất nước một cách bền vững, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều giải pháp đột phá quan trọng. Từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi cho rằng cần có các giải pháp khai thông, phát huy vai trò của các nguồn lực văn hóa trong sự phát triển đất nước. Song đã nói đến giải pháp “đột phá” thì phải là giải pháp cơ bản và quan trọng có tính bước ngoặt hoặc mới mẻ so với các giải pháp cũ đã được thực hiện hay là sự đặt lại vấn đề vượt qua các khuôn sáo cũ...
Trong các giải pháp phát huy nguồn lực văn hóa Việt Nam mang tính đột phá được bàn đến, chúng tôi cho rằng, vấn đề cần được quan tâm hiện nay là nguồn lực con người với tư cách là nguồn lực của mỗi cá nhân và gắn với nguồn lực cá nhân là quyền tài sản của cá nhân (sở hữu tư nhân) là yếu tố quan trọng.
Phát huy nguồn lực cá nhân (động lực cá nhân) theo quan điểm mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh là tinh thần nhân văn tiến bộ, lấy việc giải phóng con người làm mục tiêu, làm động lực của sự phát triển xã hội. Nó là sự kết tinh thành tựu của lịch sử phát triển nhân loại và tư tưởng của cuộc cách mạng tư sản trước đây mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa trong bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946. Tinh thần ấy đã được ghi trên ngọn cờ của chủ nghĩa cộng sản “Thay cho xã hội tư sản cũ... xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Đó cũng là tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì con người, vì hạnh phúc, tự do của nhân dân khi khẳng định: nước độc lập, dân phải được hạnh phúc, tự do. Nhận thức của chúng ta hiện nay về động lực cá nhân hay nguồn lực nội thể hóa, vốn có ở cá nhân là nguồn lực văn hóa quan trọng đã có sự thay đổi căn bản so với trước đây. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” khẳng định, kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân với bản thân, gia đình và xã hội, trong đó cá nhân phấn đấu vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa các nguồn lực cá nhân và cộng đồng. Có thể thấy hiện nay, giá trị cá nhân, lợi ích cá nhân, sáng tạo cá nhân chưa được nhận thức đầy đủ và phát huy mạnh mẽ. Giá trị cộng đồng ngày nay phải là giá trị của sự gắn kết hữu cơ của những cá nhân tự do trên cơ sở lợi ích cá nhân gắn kết hài hòa với lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, việc chỉ nhấn mạnh lợi ích cộng đồng là chưa đầy đủ theo tinh thần của thời đại. Cần coi trọng lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân như hai động lực biện chứng và bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau, thúc đẩy xã hội phát triển. Trong lịch sử nước ta, thời Trần đã chứng minh rằng, khi nhận thức được động lực cá nhân và gắn với động lực cộng đồng sẽ tạo nên “hào khí” vô cùng to lớn. Hưng Đạo Đại Vương, Tiết chế Quốc công Trần Quốc Tuấn đã khơi dậy và gắn kết cái ta của mình với cái tôi của mỗi người dân Đại Việt làm nên sức mạnh ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông, bảo vệ độc lập dân tộc. Ông ý thức rằng, giữ gìn được nền độc lập “chẳng những thái ấp của ta mãi mãi lưu truyền, mà bổng lộc của các ngươi cũng đời đời được hưởng, chẳng những gia quyến của ta êm ấm gối chăn mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão” (Hịch tướng sỹ). Đây là bài học lịch sử sâu sắc cho chúng ta trong thời đại ngày nay. Hơn nữa, chúng ta cần phê phán, lên án chủ nghĩa cá nhân ích kỷ nhưng không nên đưa giá trị cá nhân, lợi ích cá nhân chân chính vào nội hàm khái niệm “chủ nghĩa cá nhân” hay “cá nhân chủ nghĩa” chung chung. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải làm rõ giá trị cá nhân hay chủ nghĩa cá nhân (có người gọi đó là chủ nghĩa cá nhân triết học hay chủ nghĩa cá nhân đạo đức) trong động lực tinh thần của xã hội và nhân cách con người Việt Nam hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chống chủ nghĩa cá nhân (vị kỷ) không có nghĩa xóa bỏ lợi ích cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân chính đáng của mỗi con người.
Vấn đề đối xử với khát vọng tài sản của con người, xét về phương diện văn hóa là vấn đề liên quan đến quyền con người, đến nguồn lực con người và sự phát triển kinh tế - xã hội trong chủ nghĩa xã hội. Thực tế sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình cũ ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu đã cho thấy sai lầm có tính hệ thống khi kìm hãm khát vọng tài sản chân chính của người dân, xóa bỏ quyền sở hữu cá nhân của con người. Đó là hành động triệt tiêu động lực quan trọng của xã hội. Xét về phương diện văn hóa và pháp quyền, quyền con người (quyền nhân thân, quyền tự do, quyền tài sản...) là một giá trị, một thành tố cơ bản. Hơn nữa, quyền con người là một tiêu chí đánh giá trình độ sự phát triển của xã hội: “Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng...” (Hội nghị quốc tế của UNESCO ở Mê-xi-cô năm 1982). Tài quyền tức là quyền có tài sản, quyền về tài sản là một quyền tự nhiên do tạo hóa sinh ra, vốn có của con người. Nó là một nguồn lực động lực thúc đẩy con người trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Trước đây, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình cũ, người ta đã loại bỏ động lực đó bằng việc xóa bỏ kinh tế tư nhân, thực hiện chế độ công hữu một cách triệt để. Trước sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực kiểu cũ ở Liên Xô và Đông Âu, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã từng bước tìm lại và phát huy sức mạnh tự thân của con người bằng việc quan tâm tới lợi ích cá nhân, sở hữu tư nhân bằng những chính sách đổi mới và cải cách; nhờ đó mà có những bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội. Có thể khái quát rằng, chúng ta đã tạo bước đột phá bằng giải pháp đột phá đưa đất nước phát triển và thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thừa nhận vai trò của kinh tế tư nhân và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, “quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” (khoản 2, Điều 32, Hiến pháp năm 2013). Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 03-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” khẳng định quan điểm phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế.Có thể thấy, giai đoạn đổi mới vừa qua chỉ là giai đoạn đầu của bước đột phá quan trọng này, giai đoạn tiếp theo chúng ta phải giải quyết hai vấn đề để sự đột phá thành công và bền vững: Thứ nhất, phải khẳng định quyền tư hữu của con người như một nguyên lý vĩnh viễn, lâu dài, là một nguồn lực vốn có của con người trong phát triển. Các chính sách phải bảo đảm cho nguồn lực đó được tích lũy và phát huy tác dụng. Thứ hai, phải có các giải pháp để chế ngự sức mạnh của “quyền tư hữu” nếu không mặt trái của nó (hiện tượng “lợi ích nhóm”, “sân trước, sân sau”, “chế độ thân hữu” nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội...) sẽ tàn phá và có thể làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, ở nhiều nước có hiện tượng những người giàu có (tích lũy được nhiều của cải một cách chính đáng và cả không chính đáng) đã tìm cách ra nước ngoài cùng với khối tài sản to lớn. Đây là hậu quả của cả hai vấn đề đã nêu ở trên, cần được xem như bài học kinh nghiệm cần thiết.
Thời gian tới, chúng ta cần tích cực triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII “Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, đưa nghị quyết vào cuộc sống và mang lại những hiệu quả thiết thực, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hai giải pháp trên mang tính đột phá để khai thông và phát huy các nguồn lực văn hóa - con người Việt Nam, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tiếp theo./.

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...