Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023

Phấn đấu đến năm 2030, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam đạt khoảng 7.500 USD

VOV.VN - Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu đến 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD.

Sáng 5/1, tại phiên khai mạc kỳ họp bất thường lần thứ 2 Quốc hội khóa XV, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trình bày Tờ trình về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đặt mục tiêu đến 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho biết, sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; thế và lực của đất nước đã lớn mạnh hơn nhiều; đã khai thác được tiềm năng, lợi thế của đất nước.

Cụ thể: Phát triển vùng, liên kết vùng chuyển biến tích cực, hình thành nhiều vùng kinh tế lớn có vai trò quan trọng trong phát triển đất nước; Bước đầu đã hình thành các hành lang kinh tế trên địa bàn các vùng, liên vùng; Không gian đô thị được mở rộng, dần hình thành mạng lưới đô thị, góp phần tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế; Đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn; Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được quan tâm đầu tư, tạo diện mạo mới cho đất nước, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, năng lượng, đô thị, thông tin và truyền thông; Nhiều công trình hạ tầng xã hội quan trọng được quan tâm đầu tư;...

Bên cạnh kết quả đạt được, Chính phủ cũng chỉ ra nhiều hạn chế, yếu kém như: Không gian phát triển bị chia cắt nhiều theo địa giới hành chính; liên kết vùng còn nhiều bất cập; Đầu tư phát triển còn dàn trải theo các vùng, miền; chưa tập trung nguồn lực hình thành rõ các vùng động lực đóng vai trò đi đầu và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế đất nước; Chưa hình thành được bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia đồng bộ và hiện đại, kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển; một số công trình hạ tầng xã hội quan trọng chậm được đầu tư; Hệ thống đô thị phân bố chưa hợp lý, chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tác động lan tỏa còn hạn chế; Chưa hình thành được các trung tâm tài chính lớn; việc phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch còn dàn trải, hiệu quả chưa cao; Ô nhiễm môi trường ở các đô thị lớn, làng nghề và một số lưu vực sông chậm được khắc phục; ô nhiễm môi trường biển, hải đảo gia tăng; Hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế; Chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ trong phát triển các ngành, lĩnh vực để hình thành các khu vực ưu tiên, khuyến khích đầu tư; còn xảy ra mâu thuẫn lợi ích, xung đột tại một số địa bàn.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế yếu kém trên theo thành viên Chính phủ là: Tư duy phát triển dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; Thiếu quy hoạch mang tính tổng thể quốc gia để xác định rõ mô hình phát triển theo không gian lãnh thổ trên phạm vi cả nước; Công tác quy hoạch chưa được coi trọng đúng mức, chất lượng chưa cao; Thiếu cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế liên ngành, liên vùng, khắc phục tình trạng cục bộ địa phương; Chưa dành nguồn lực thích đáng để đầu tư hình thành bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, các vùng; các khu vực ưu tiên phát triển như vùng động lực, vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế; Phát triển bền vững chưa trở thành tư duy chủ đạo trong hoạch định và thực hiện chính sách phát triển.

Vì vậy, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững, hình thành được các vùng, trung tâm kinh tế, đô thị động lực, có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế; môi trường sinh thái được bảo vệ, thích ứng với biến đổi khí hậu; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm.   

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả nước bình quân đạt khoảng 7,0%/năm giai đoạn 2021-2030, trong đó vùng Đông Nam Bộ tăng khoảng 8-8,5%/năm, vùng Đồng bằng sông Hồng khoảng 9%/năm. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD.

Tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu Việt Nam là nước phát triển, thu nhập cao, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Các vùng phát triển hài hoà, bền vững, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh. Hệ thống đô thị thông minh, hiện đại, giàu bản sắc, xanh. Giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Môi trường có chất lượng tốt, xã hội hài hoà với thiên nhiên, phát triển hiệu quả theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, carbon thấp. Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,5 - 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đến năm 2050 đạt khoảng 27.000 - 32.000 USD. Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2050 đạt 70 - 75%. Chỉ số phát triển con người ở mức rất cao, đời sống của người dân hạnh phúc; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.

Đánh giá rõ ưu điểm, lợi thế của các điều kiện làm cơ sở xây dựng phương án quy hoạch

Trình bày Báo cáo thẩm tra về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh nêu rõ, Quy hoạch tổng thể quốc gia được xây dựng cơ bản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Báo cáo tổng hợp quy hoạch được xây dựng cơ bản đã đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 22 Luật Quy hoạch và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 20 Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch (Nghị định số 37). Tuy nhiên còn một số nội dung cần tiếp tục rà soát lại để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khoa học, hợp lý.

Về điều kiện tự nhiên, các yếu tố phát triển và hiện trạng phát triển quốc gia, cần bổ sung thêm các phân tích, đánh giá rõ về ưu điểm, lợi thế của các điều kiện làm cơ sở xây dựng phương án quy hoạch. Đồng thời, các yếu tố khoa học công nghệ, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, năng lực cạnh tranh, thể chế quốc gia, văn hóa truyền thống dân tộc, dân số và xu hướng dịch chuyển dân cư… cũng cần được phân tích, nhìn nhận một cách đầy đủ.

Ngoài ra, theo Ủy ban Kinh tế, các dữ liệu đánh giá ở một số lĩnh vực còn thiếu chi tiết, dẫn đến sự không đồng nhất về dữ liệu các vùng, lĩnh vực và đối tượng nên cần có sự chọn lọc mức độ chi tiết của dữ liệu, phân tích tương quan cơ cấu các ngành để đưa ra những chỉ tiêu phân bổ kế hoạch được chính xác hơn so với thực tiễn. Bên cạnh đó, cần bổ sung, làm rõ hơn nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế để bảo đảm các giải pháp đề xuất là phù hợp, khả thi.

Về quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu phát triển và những nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quy hoạch, Ủy ban Kinh tế đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu làm rõ hơn, các nội dung phải định hướng trong việc sắp xếp, phân bố không gian để đạt được các mục tiêu mà Chiến lược đã đề ra.

Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị nghiên cứu bổ sung nội dung về chất lượng nguồn nhân lực và quan điểm “văn hóa là một trong các trụ cột phát triển bền vững đất nước”. Quy hoạch tổng thể quốc gia với vai trò định hướng và xử lý mối quan hệ giữa các quy hoạch với nhau, do đó, cần bổ sung, nhấn mạnh hơn việc giảm chồng chéo, chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian giữa các ngành, các địa phương và quan điểm về phát triển kinh tế biển.

Về dự báo xu thế phát triển và các kịch bản phát triển, Ủy ban Kinh tế đề nghị bổ sung đánh giá các xu thế có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn tới như: phát triển xanh, phát triển bao trùm, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo để định hướng phát triển và tổ chức không gian đất nước trong thời kỳ tới. Đồng thời, bổ sung dự báo về xu thế phát triển xã hội, các xu hướng hiện nay trên thế giới ảnh hưởng, tác động đến nước ta.

Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị Chính phủ bổ sung, làm rõ những vấn đề thách thức đối với sự phát triển quốc gia như: kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao; năng lực lập kế hoạch, thẩm định các dự án đầu tư, nhất là yêu cầu về lồng ghép chính sách, tích hợp nguồn lực cho đầu tư phát triển; cải cách thủ tục hành chính; chuyển đổi số tại các vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi... còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, cần đánh giá cơ hội phát triển đối với Việt Nam trước các xu thế mới như: hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ và tri thức; xu hướng tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; xu hướng chuyển dịch dần sang các ngành công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học, công nghệ nano... để nhận định rõ hơn cơ hội;  phát triển, khó khăn và thách thức đối với sự phát triển của quốc gia.

Ngoài ra, Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị Chính phủ bổ sung, làm rõ về định hướng phát triển không gian kinh tế - xã hội, định hướng phát triển và phân bố không gian các ngành quan trọng; định hướng phát triển không gian biển; định hướng sử dụng đất quốc gia; định hướng khai thác và sử dụng vùng trời; định hướng phân vùng và liên kết vùng; định hướng phát triển hệ thống đô thị và nông thôn quốc gia; định hướng phát triển ngành hạ tầng xã hội cấp quốc gia…/.

Theo VOV

Sáng mãi tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia

VOV.VN - Bộ đội Việt Nam không chỉ giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot mà luôn kề vai sát cánh trong khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội.


0 seconds of 0 secondsVolume 90%
00:25
00:00

Đó là những chia sẻ của các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, cựu quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia trong buổi gặp mặt, tọa đàm “kỷ niệm 56 năm Ngày Thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Campuchia”, “44 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh biên giới Tây Nam bảo vệ Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng Chế độ diệt chủng Pol Pot”.

Buổi tọa đàm sáng 5/1 do Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị và Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia thành phố Đà Nẵng phối hợp tổ chức. 150 đại biểu là các tướng lĩnh, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Quân khu 5 tham dự.       

Ngày 24/6/1967, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là CHXHCN Việt Nam) và Vương quốc Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong lịch sử hai nước. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Nhân dân Việt Nam và Nhân dân Campuchia luôn kề vai, sát cánh, giúp đỡ nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Cùng với định hướng “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, quan hệ Việt Nam - Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Lịch sử sẽ mãi mãi khắc ghi chiến thắng ngày 7/1/1979 của quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã giải phóng Thủ đô Phnom Penh, lật đổ Chế độ diệt chủng Pol Pot tàn bạo, cứu đất nước và Nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, mang lại sự hồi sinh cho dân tộc Campuchia.

Tại buổi tọa đàm, bà Thôn Lanh, người dân Campuchia mà cả gia đình gồm bố, mẹ, anh, chị, em đều bị chế độ Pol Pot tàn sát nhớ lại: "Bố mẹ và cả gia đình tôi trước đây có quan hệ tốt với quân tình nguyện Việt Nam từ năm 1970 và gia đình cũng giúp đỡ quân tình nguyện Việt Nam. Từ đó, gia đình tôi bị để ý và đến cuối năm 1978 Pol Pot quyết định giết sạch cả gia đình tôi. Tôi sống sót đến ngày hôm nay và có mặt ở đây chính là nhờ quân tình nguyện Việt Nam đến kịp thời".

Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5, cựu quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia ôn lại những tháng ngày hành quân vào nước bạn, đánh đuổi quân diệt chủng Pol Pot. Mặc dù gặp nhiều khó khăn  thiếu thốn về lương thực, nhất là nước uống nhưng cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta vẫn dành những phần tốt nhất cho nhân dân Campuchia. Tại buổi gặp mặt, các đại biểu cùng tưởng nhớ gần 5 vạn cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng ngã xuống trên chiến trường nước bạn.

Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết: "Mình đã không đủ ăn rồi nhưng phải chia năm sẻ bảy ra cho dân. Đầu tiên gặp dân thì dân bỏ chạy vì họ nghĩ mình như  Pol Pot. Nhưng khi quân tình nguyện Việt Nam từ những hành động đỡ đẻ, chăm sóc người dân. Tôi chứng kiến hành động của chiến sỹ khi đánh vào căn cứ La lay, chỉ huy Pol Pot bỏ chạy, bỏ lại vợ đang nằm quặn trên vũng máu. Tôi gọi chiến sỹ y tá lên đỡ đẻ ngay và đưa người dân quay trở về nơi an toàn."

Dịp này, Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị thành phố Đà Nẵng ra mắt Kỷ yếu “Sáng mãi tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia” gồm 28 bài viết dày 122 trang nói về quan điểm, chủ trương, đường lối đối ngoại song phương Việt Nam - Campuchia, Campuchia-Việt Nam hiện nay../.

Theo VOV

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

Đừng vì hiềm khích cá nhân...

[QĐND] Đầu cuộc trà buổi sáng, ông Minh, Chi hội trưởng chi hội cựu chiến binh thôn đã phải đứng ra giảng hòa cho ông Thanh và ông Trường. Ông Thanh phân trần:

Bác Trường ạ, em đề nghị bác xóa cái ảnh bữa cơm tối qua và nội dung viết về cháu nhà em trên facebook đi. Bác bình luận nặng lời như vậy thì cứ như là cháu nó có lỗi lớn. Hơn nữa còn ảnh hưởng đến Quân đội...

Tôi không xóa! Tôi vẫn cho rằng, cậu ấy như thế là xem thường các cựu chiến binh. Sĩ quan trẻ về nghỉ phép, ăn cơm với các chú, các bác cựu chiến binh mà cứ nâng chén rượu lên lại đặt nguyên xuống. Tôi chủ động mời nó cũng chẳng chịu uống chén nào. Bộ đội mà thế thì chẳng rèn luyện kém là gì? Ngày xưa, anh em mình đâu "kém tắm" thế!

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Bác không thấy chiều hôm qua, cháu nó đã giải thích rõ lý do không uống rượu vì đã hết kỳ nghỉ phép, sáng sớm nay nó phải tự lái xe lên đơn vị. Nó còn có lời mong các chú, các bác thông cảm rồi còn gì. Bác nhận xét thế thì tội cho nó!

Tối qua uống rượu, sáng nay mới lái xe thì có sao đâu? Nó không tôn trọng chúng tôi nên lý do lý trấu thế thôi!

Thấy ông Trường đã sai rõ ràng, ông Minh nhẹ nhàng bảo:

Tôi chẳng bênh cháu nó đâu, nhưng nó là đảng viên, cán bộ Quân đội, có ý thức giữ gìn, không uống rượu để bảo đảm an toàn giao thông, tránh vi phạm Luật Giao thông đường bộ thì mình là bậc cha chú phải khen nó mới phải các ông ạ. Mà giả sử nếu nó có gì sai thì chúng ta nên nhẹ nhàng góp ý trực tiếp, chứ không nên cố chấp, đưa lên mạng xã hội với lời lẽ chê bai thái quá. Người ta đọc nội dung đó có thể hiểu sai về mối quan hệ giữa cựu chiến binh với sĩ quan trẻ. Hơn nữa, việc cán bộ Quân đội không uống rượu để bảo đảm an toàn khi lái xe thì không phải là kém rèn luyện, mà chính là tự giác rèn luyện và qua đó cho thấy Quân đội ta đã rèn quân rất tốt đấy chứ.

Ông Trường thấy mình đuối lý liền vớt vát:

Sao bác Minh lại "chuyện bé xé ra to" thế. Tối qua em hơi bực mình nên đăng facebook cá nhân lời bình luận nửa đùa nửa thật để giải tỏa thôi. Em đâu có ý nói xấu Quân đội với gây chia rẽ như bác nói.

Tôi không hề "xé ra to" đâu! Ông cứ hình dung thế này, nội dung ông đăng trên mạng xã hội chỉ là suy nghĩ bột phát cá nhân, thậm chí chỉ là trêu đùa, nhưng các đối tượng xấu có thể mượn chuyện để xuyên tạc, thêm thắt hòng gây chia rẽ mối đoàn kết giữa cán bộ, sĩ quan đương chức với các cựu chiến binh, rồi lợi dụng nói xấu Quân đội rèn quân yếu kém như lời ông viết thì hậu quả sẽ không nhỏ!

Ông Trường chột dạ nhận ra: "Vậy thì đúng là em nghĩ đơn giản, sơ suất vì cảm xúc nhất thời. Em xin lỗi hai bác và sẽ gỡ bỏ nội dung đó ngay".

TRẦN ANH 

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2023

Giáp Tết, ngộ độc rượu gia tăng

[CAND] Càng gần Tết, ngộ độc rượu lại gia tăng khi có nhiều người phải nhập viện cấp cứu, trong đó đáng báo động là nhiều người vào viện trong tình trạng hôn mê, nguy kịch, tiên lượng nặng. Do nhu cầu tiêu thụ rượu tăng vào dịp Tết, vì vậy, rượu rởm càng có cơ hội trà trộn tiêu thụ trên thị trường, nhất là rượu giá rẻ không rõ nguồn gốc được tiêu thụ mạnh tại các vùng ven.

Gần đến giáp Tết, Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận nhiều ca ngộ độc rượu vào nhập viện trong tình trạng hôn mê sâu, xuất huyết tiêu hoá, xơ gan… Ngoài ngộ độc rượu có Ethanol thì ở đây còn tiếp nhận nhiều ca ngộ độc Methanol (cồn công nghiệp) trong tình trạng rất nặng, nguy kịch. Thậm chí, có bệnh nhân nghiện rượu nhiều năm, đã mắc xơ gan cổ chướng, tiểu đường, nhưng hàng ngày vẫn uống rượu. Trong một bữa liên hoan, anh này sau khi uống rượu đã rơi vào trạng thái lơ mơ, được đưa đến viện trong tình trạng nguy kịch, tiên lượng nặng.

Quản lý thị trường và Công an TP Hà Nội kiểm tra phát hiện nhiều can rượu không rõ nguồn gốc
tại một cơ sở kinh doanh.

Trường hợp khác là bệnh nhân 25 tuổi vào nhập viện cấp cứu trong tình trạng lơ mơ, li bì, hạ đường huyết. Nam thanh niên này uống rượu trong lúc đói, về nhà ngủ li bì bỏ bữa, gia đình tưởng bệnh nhân ngủ say không đánh thức, đến khi phát hiện bất thường đưa vào viện thì bệnh nhân gần như rơi vào hôn mê, tổn thương não. Theo TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, trường hợp này bị hạ đường huyết rất nặng, khi vào cấp cứu, lượng đường gần như bằng 0, phải thở máy suốt 3 tuần.

BS Nguyên cho biết, rất nhiều trường hợp đến viện trong tình trạng đường máu gần như bằng 0 và tổn thương não, thậm chí mất não và tử vong. Khi uống rượu tạo cảm giác no giả, nên nhiều người uống mà không ăn khiến bị hạ đường huyết. Có trường hợp uống liên tục vài ngày, uống quá nhiều, uống tràn lan, tới khi nguy kịch mới vào viện thì đã để lại di chứng rất nặng nề, đặc biệt là di chứng não. Uống quá nhiều rượu còn gây ra các bệnh như: Viêm tụy cấp, suy gan, cơ tim giãn, teo não, rối loạn tâm thần, thiếu máu, suy tủy...

Đặc biệt, người uống phải rượu pha cồn công nghiệp còn nguy hiểm đến tính mạng. BS Nguyên cảnh báo, nếu uống phải rượu rởm và cồn sát trùng rởm, lúc đầu say như uống rượu thông thường, nhưng 1-2 ngày sau mới mờ mắt, hỏng não thì đã quá muộn.

Mặc dù ngộ độc rượu có Mathenol liên tiếp xảy ra, gây nhiều ca tử vong hoặc nếu được cứu sống cũng để lại di chứng nặng nề, song nhiều người vẫn mua rượu không rõ nguồn gốc, rượu trôi nổi, rượu tự pha chế về uống. Theo Đội Quản lý thị trường số 1, Cục Quản lý thị trường Hà Nội, qua kiểm tra các nhà hàng, quán ăn, đơn vị đã phát hiện nhiều nơi bán rượu ngâm, rượu tự pha chế không rõ nguồn gốc. Điển hình là đơn vị đã kiểm tra một loạt quán ăn, nhà hàng ở quận Long Biên, phát hiện nhiều bình rượu ngâm hàng chục lít cất trong hầm đều không có nguồn gốc, xuất xứ. Tại cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà hàng thuộc Công ty TNHH Hằng Nhiệm (khu nhà nổi Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội) và hộ kinh doanh Rừng Vàng thủ đô (ngõ Ga – Hà Đông), Đội Quản lý thị trường số 1 đã phát hiện 645 lít rượu không có nguồn gốc xuất xứ; bán rượu có nồng độ cồn 5,5 độ trở lên tiêu dùng tại chỗ nhưng không đăng ký với Phòng Kinh tế theo quy định.

Vào ngày 12/12 vừa qua, Đội Quản lý thị trường số 7, Cục Quản lý thị trường Hà Nội phối hợp với Đội 4, Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường (Công an TP Hà Nội) kiểm tra cơ sở kinh doanh rượu thủ công tại 20BT2, Khu đô thị mới Cầu Bươu, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, phát hiện tại đây có hàng trăm can rượu thủ công không hề có nguồn gốc, xuất xứ. Cơ quan chức năng đã tạm giữ 510 lít rượu thủ công trên để chờ kết quả xét nghiệm.

Theo ông Hoàng Đại Nghĩa, Đội trưởng Đội Quản lý thị trường số 1, rượu là một trong những mặt hàng mà lực lượng Quản lý thị trường tập trung kiểm tra trong dịp Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, qua kiểm tra, hầu hết các cơ sở kinh doanh rượu tiêu dùng tại chỗ nhưng đều không có giấy phép kinh doanh. Đối với rượu thủ công đã có quy định cụ thể như phải sản xuất ra sao, kê khai thế nào, nhưng qua thực tế kiểm tra, hầu như rượu đều không có nhãn mác, không nguồn gốc và không chấp hành quy định nêu trên. Nhiều hộ tự sản xuất rượu thủ công, khi bị kiểm tra thì “cãi” sản xuất ra để uống, chứ không bán. Do là kinh doanh nhỏ lẻ không thường xuyên, nên các hộ này không phải đăng ký kinh doanh, đã gây khó khăn cho công tác quản lý. Chính quyền địa phương sẵn sàng xác nhận hộ kinh doanh nhỏ lẻ không thường xuyên, nhưng lại “quên” kiểm soát. Vì vậy, đây chính là lỗ hổng để rượu không đạt chất lượng, thậm chí pha cồn công nghiệp, gây nguy hiểm đến tính mạng người dùng.

Trần Hằng

 

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2023

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình

Lợi dụng tình hình khó khăn trong bảo đảm ổn định thu nhập, việc làm của một số doanh nghiệp xuất khẩu trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết kích động công nhân đình công, biểu tình.

Các bài viết này phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, cho rằng Công đoàn Việt Nam không đấu tranh đòi tăng lương cho người lao động, và rằng chỉ có các tổ chức công đoàn độc lập với Công đoàn Việt Nam mới chăm lo tốt cho quyền lợi của người lao động. Đây là âm mưu nguy hiểm, với ý đồ muốn phá hoại ổn định chính trị, phá hoại môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Luôn quan tâm, quyết liệt đề nghị tăng lương cho người lao động

Thời gian qua, những khó khăn của tình hình thế giới tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp thâm dụng lao động như: Da giày, dệt may, gỗ... Có ít đơn hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm việc làm, thậm chí cắt giảm lao động ngay vào thời điểm cuối năm 2022 và cận Tết Quý Mão năm 2023, làm ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân, người lao động.

Do kinh tế thế giới khá ảm đạm, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng thấp nên theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), số người thất nghiệp năm 2022 có thể lên tới 207 triệu người. Như thế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới.

Việc bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới. 

Bất chấp thực tế khách quan đó, có quan điểm sai trái được lan truyền trên mạng cho rằng, Công đoàn Việt Nam hiện nay bỏ mặc, không còn quan tâm tới đấu tranh đòi quyền lợi, không đòi tăng lương cho người lao động, mà chỉ quan tâm kết nạp đoàn viên công đoàn.

Thực tế là vấn đề đấu tranh đòi tăng lương, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực tế là trong các cuộc họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia, tiếng nói của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn là tiếng nói đầy trọng lượng và rất quyết liệt. Mỗi lần họp bàn về tăng mức lương tối thiểu vùng, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn đưa ra một mức đề xuất cao nhất so với các ý kiến khác và đấu tranh quyết liệt với đại diện người sử dụng lao động để bảo vệ đề xuất ấy.

Cụ thể, ngay trong năm 2022 vừa qua, từ những đề xuất của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong Hội đồng Tiền lương quốc gia, ngày 12-6-2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2022. Theo đó, mức lương tối thiểu tháng đã tăng bình quân 6% (tương ứng tăng từ 180.000-260.000 đồng/tháng) so với mức cũ. Về mức lương tối thiểu giờ, nghị định cũng quy định các mức lương tối thiểu giờ theo 4 vùng: Vùng I là 22.500 đồng/giờ, vùng II là 20.000 đồng/giờ, vùng III là 17.500 đồng/giờ, vùng IV là 15.600 đồng/giờ. Các mức lương tối thiểu trên là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp thỏa thuận và trả lương đối với người lao động.

Để bám sát tình hình, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam yêu cầu các cấp công đoàn chỉ đạo công đoàn cơ sở chủ động tham gia với người sử dụng lao động trong quá trình xây dựng thang, bảng lương của doanh nghiệp theo quy định mới về mức lương tối thiểu.

Đồng thời liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành, công đoàn tại các tổng công ty trực thuộc tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội... của các doanh nghiệp, nhất là việc thực hiện nghị định của Chính phủ.

Đồng thời, các cấp công đoàn cũng nắm bắt thông tin, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội.

Theo Cục Quan hệ lao động và Tiền lương (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), năm nào nhà nước có điều chỉnh lương tối thiểu vùng thì tiền lương thực tế của người lao động sẽ được tăng cao hơn mức tăng bình quân khoảng 2%. Trong 10 năm qua, tiền lương của người lao động tăng bình quân 6-7% mỗi năm. Năm Covid-19 tác động mạnh, Nhà nước không điều chỉnh lương tối thiểu, tỷ lệ tăng có giảm còn 5-6%. Những năm kinh tế phát triển tốt, mức tăng đạt 8-9%. Chỉ khi thiếu giờ làm, tiền lương của người lao động mới phải giảm do doanh nghiệp cũng không có nguồn để bảo đảm. Tuy nhiên, hụt đơn hàng, thiếu việc cũng chỉ ở nhóm ngành sản xuất. Một số ngành như dịch vụ ăn uống vẫn có sự tăng trưởng.

Kịp thời giải quyết khi có tranh chấp lao động tập thể

Khi có tranh chấp lao động tập thể, ngừng việc tập thể, đình công tự phát, các cấp công đoàn đều chủ động phối hợp với UBND và các cơ quan chức năng trên địa bàn kịp thời giải quyết, bảo đảm quyền lợi của tập thể người lao động, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự.

Đồng thời cần khẳng định rằng, việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động không phải chỉ là trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo, bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Khi dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế-xã hội, nhiều người lao động mất việc, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ công nhân, người lao động, trong đó vai trò của Công đoàn Việt Nam rất nổi bật.

Từ việc các cấp công đoàn quan tâm, phát hiện những khó khăn của người lao động, đề xuất các giải pháp hỗ trợ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1-7-2021 tập trung hỗ trợ 2 nhóm đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng sâu bởi đại dịch Covid-19, chủ yếu là công nhân và người lao động trực tiếp. Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, cả nước đã hỗ trợ cho gần 36,5 triệu người lao động, người dân, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỷ đồng.

Nghị quyết số 68/NQ-CP được ban hành nhanh chóng, kịp thời, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống người dân, người lao động và người sử dụng lao động trước tác động của đại dịch, được người dân, doanh nghiệp, người lao động tích cực ủng hộ thực hiện, qua đó ngày càng tạo được niềm tin của công nhân, người lao động cũng như toàn thể nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Không tổ chức nào thay thế được Công đoàn Việt Nam

Cũng do luôn sâu sát, nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động nên ngay từ cuối quý III năm 2022, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã lên kế hoạch chăm lo Tết Quý Mão 2023. Theo đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dự kiến sẽ chủ trì, trực tiếp tổ chức 21 Chương trình "Ngày hội công nhân-Phiên chợ nghĩa tình năm 2023" tại các địa phương có đông công nhân, người lao động, vùng sâu, vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn; dành gói hỗ trợ khoảng 500 tỷ đồng phân bổ về các công đoàn ngành, địa phương, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở để chăm lo, hỗ trợ cho đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh thực sự khó khăn, mức hỗ trợ 500.000 đồng/người, được chi bằng tiền mặt (ước có khoảng 1 triệu đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ-bằng 10% tổng số đoàn viên công đoàn).

Bên cạnh đó, công đoàn cơ sở căn cứ vào nguồn lực hiện có, tự quyết định mức chi chăm lo cho đoàn viên, người lao động. Ví dụ như, Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch số 61/KH-LĐLĐ về tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên công đoàn, người lao động nhân dịp Tết Quý Mão 2023 với phương châm “Tết đến với mọi đoàn viên, người lao động”.

Dự trù kinh phí chăm lo Tết Quý Mão năm 2023 cho đoàn viên, người lao động khó khăn của Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh khoảng 140 tỷ đồng, trong đó, cấp thành phố bảo đảm từ 25-28 tỷ đồng, công đoàn cấp trên chăm lo 110 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các đơn vị, doanh nghiệp, đoàn thể khác có hỗ trợ chăm lo Tết cho công nhân. Các hoạt động như tặng quà Tết, tặng vé xe về Tết, tổ chức chợ Tết bình ổn giá... rất thiết thực với công nhân, người lao động.

Như thế có thể thấy, ý kiến cho rằng người lao động bị Công đoàn Việt Nam bỏ mặc, Công đoàn Việt Nam không quan tâm đến đấu tranh đòi tăng lương, không quan tâm đấu tranh cho đời sống người lao động là ý kiến hoàn toàn sai trái. Nguy hại hơn nữa là mưu đồ kích động người lao động đình công tự phát, biểu tình để đòi tăng lương. Cần nhận thức rằng doanh nghiệp chính là môi trường làm việc, là nơi trả lương và bảo đảm đời sống cho người lao động.

Vì thế, công nhân, người lao động phải có trách nhiệm cùng xây dựng để doanh nghiệp phát triển, từ đó mới có nguồn lực để tăng lương, bảo đảm đời sống. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, bảo đảm quyền lợi hài hòa, cùng chia sẻ khó khăn giữa công nhân và người sử dụng lao động là một chủ trương đúng đắn của Công đoàn Việt Nam. Môi trường kinh doanh có ổn định thì các doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư vào Việt  Nam. Do đó, việc kích động công nhân biểu tình, đình công tự phát là lừa phỉnh họ, xui họ làm điều sai trái, để rồi tự hủy hoại nồi cơm của chính mình.

Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho tới nay, Công đoàn Việt Nam vẫn luôn là tổ chức có vai trò chính trị quan trọng, có uy tín cao, hiệu quả cao trong việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, người lao động, chưa có tổ chức nào có thể thay thế vai trò của Công đoàn Việt Nam. Không sự bôi nhọ, xuyên tạc nào có thể phủ nhận được thực tế rõ ràng đó.

HỒ QUANG PHƯƠNG

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Trong những ngày cuối tháng 12/2022, các cơ quan chức năng triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2022). Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thế nhưng trong dịp này, các thế lực xấu lại rêu rao, đưa ra nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chỉ là do “gặp thời”, “may mắn”. Họ còn cho rằng quân và dân Việt Nam sẽ không thể làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” nếu khi đó Mỹ tiếp tục duy trì cuộc ném bom hủy diệt miền Bắc thêm một thời gian nữa. Có bài viết “vặn” vấn đề rằng, Mỹ ký Hiệp định Paris là do phía Mỹ chủ động chứ không phụ thuộc vào kết quả cuộc ném bom trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 tại miền Bắc Việt Nam...

Một bài viết đăng trên BBC News Tiếng Việt cho rằng, trong cuộc chiến tranh 12 ngày đêm ấy, các phi công Mỹ bị bắt, cầm tù, tra tấn và thường xuyên bị bêu riếu trên truyền hình, tạo sức ép cho chính quyền Mỹ phải ngồi vào bàn đám phán Paris mới được đưa tù binh Mỹ về nước. Họ biến mọi con số thống kê thành ảo khi nghi ngờ rằng, Việt Nam cố tình thống kê quá mức con số bắn hạ máy bay B52 để khuếch trương thanh thế!

Mới đây, trên Quora, thiếu tá Keith Parker từng phục vụ trên các máy bay B-52G và C-130 cố tình xuyên tạc sự thật khi viết rằng, Việt Nam đã bắn hơn 1.400 tên lửa SAM[1]2 lên bầu trời “một cách mù quáng” để hạ gục các máy bay B-52 chứ không phải là do thực lực của phòng không Việt Nam. Keith Parker cho rằng, Bộ Chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) đã tự nghiên cứu rất nhiều phương pháp chống B-52 nhưng đều thất bại, ngay cả những quốc gia như Liên Xô cũng đều không dám tự tin hạ gục B-52. Từ đó, đánh lái bản chất sự kiện này thành “Việt Nam đã thất bại vào 12/1972 chứ không phải là một chiến thắng như họ tuyên truyền.

Máy bay B-52 đầu tiên bị Tiểu đoàn 59, Trung đoàn Tên lửa 261 bắn rơi trên cánh đồng Chuôm, xã Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội) vào đêm 18/12/1972. Ảnh: Tư liệu

Thiệt hại của Việt Nam nặng nề hơn trong khi chỉ bắn hạ được 2% số B-52 mà Hoa Kỳ có”! Một số cựu phi công của Hạm đội 7 cho rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ được B-52 nhờ vào chiến thuật “vãi đạn”; là kết quả của chiến thuật sử dụng hỏa lực phòng không “bừa bãi” để hạ gục B-52 chứ không đến từ sự tính toán chiến thuật và năng lực phòng không! Gary Cummings, một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam còn đặt một giả thuyết rằng, tất cả đều do chính những sĩ quan Liên Xô mới bắn rụng B-52 chứ không có bộ đội nào của Việt Nam bắn hạ. Một cựu binh khác là Paul Reinman còn khôi hài hơn khi cho rằng, phi công MiG của Việt Nam đã bắn hạ B-52 là “do vô tình lạc vào đường bay của B-52 chứ không phải là do năng lực”! Trong một diễn đàn tự cho là “nghiên cứu lịch sử”, có một số người cổ suý những quan điểm lệch lạc trên, từ đó bình luận rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ B-52 vì sự chủ quan của đối phương, vì trời tối, vì sự chủ quan của quân Mỹ…

Những luận điệu trên làm sai lệch bản chất sự kiện, tung ra những con số ảo và tạo nghi vấn về các số liệu lịch sử nhằm gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc ý nghĩa, giá trị của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trên thực tế, chính Mỹ đã thừa nhận mình là bên không chịu nổi tổn thất và buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đám phán ký kết Hiệp định Paris.

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng và Bác Hồ đã sớm chỉ đạo bộ đội Phòng không - Không quân chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đánh máy bay B.52 và các loại máy bay chiến thuật khác từ nhiều năm trước đó. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, không khoan nhượng.

Chiến thắng ấy là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ để đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần quyết chí, tin tưởng với đức hy sinh cao thượng.

Thực tế lịch sử ghi rõ, tháng 12/1972, Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của Mỹ; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế - quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới. Thực hiện âm mưu này, Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch.

Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972. Trong đó, máy bay chiến lược B.52 gồm 193/tổng số 400 chiếc hiện có của quân đội Mỹ; máy bay không quân chiến thuật gồm 1.077/tổng số 3.043 chiếc (có 1 biên đội máy bay F. 111 khoảng 50 chiếc); tàu sân bay với 6/24 chiếc; hơn 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số loại máy bay phục vụ khác như máy bay gây nhiễu từ xa, máy bay trinh sát chiến lược, chiến thuật, máy bay chỉ huy, liên lạc dẫn đường, cấp cứu cùng 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Máy bay chiến lược B.52, còn được gọi là siêu pháo đài bay B.52, là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ vào thời điểm đó, có tải trọng vũ khí 18 - 30 tấn bom, có thể mang 12-20 quả tên lửa hành trình ALEM hoặc 8 tên lửa hành trình (tàng hình) ACM, 4 pháo 20mm hoặc một pháo 20mm 6 nòng (gấp 10 lần so với máy bay cường kích). Cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta cuối tháng 12/1972 là một cuộc ném bom có tính hủy diệt.

Trong 12 ngày và đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần máy bay B.52 và 3.920 lần máy bay chiến thuật ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn bom, đạn. Chiến dịch thả bom đã huỷ diệt nhiều phố xá, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không - Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18/12/1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân vàdân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Sau thất bại này, Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Không chỉ Việt Nam mà các nghiên cứu từ phía Mỹ cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Trên tạp chí Air & Space của Bảo tàng Smithsonian (Mỹ) có bài viết tựa đề “The Christmas Bombing” (Trận mưa bom Giáng sinh) được trích từ cuốn sách The Eleven Days of Christmas: Americas Last Vietnam Battle (11 ngày Giáng sinh: Trận chiến Việt Nam cuối cùng của Mỹ) của tác giả Marshall Michel, người đã trực tiếp đến Hà Nội, mô tả khá chi tiết về chiến dịch Linebacker II do Mỹ chủ mưu. Theo tác giả Marshall Michel, đầu tháng 12/1972, Nixon điện cho Kissinger thông báo kế hoạch ném bom trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh.

Ngày 14/12, Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối chiến dịch Linerbacker II. Mục tiêu mà Mỹ đặt ra là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng và các vùng lân cận, tạo ra “cường độ khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, và cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Mỹ không bỏ rơi họ”. Cũng qua chiến dịch này, Nixon muốn răn đe Sài Gòn nếu giúp Nixon kéo dài đàm phán, xa hơn là giúp Nixon chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo thì Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ...

Bài viết trên tạp chí Air & Space cũng nêu rõ, do thiệt hại ngoài sức tưởng tượng nên ngày 30/12/1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh chấm dứt ném bom… Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị kéo dài do Mỹ từ chối ký kết trước đây. Bài viết cũng cho rằng, Mỹ đã chịu rất nhiều tổn thất để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này đồng nghĩa là mục tiêu của Mỹ khi phát động chiến dịch Linebacker II thực sự thất bại. Chiến dịch Linebacker II bị phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới, cả ở các nước XHCN lẫn các nước phương Tây, thậm chí tại Mỹ, Nixon còn bị chỉ trích là kẻ điên rồ…

Thanh Ngà – Báo CAND

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...