Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Nghị quyết Trung ương 5 về đất đai: Đột phá mang tính bước ngoặt về tư duy

VOV.VN - Nghị quyết 18 đặt ra giải pháp đáng chú ý là bãi bỏ khung giá đất nhưng tiếp tục sử dụng cơ chế bảng giá đất, xây dựng bảng giá đất dựa trên những nguyên tắc của thị trường.


Theo quy định của Luật Đất đai, Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 5 năm/lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá trên thị trường tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp. Địa phương xây dựng bảng giá đất phải dựa vào khung giá này.

Quy định này được nhiều chuyên gia cho rằng là nguyên nhân dẫn tới bảng giá đất do địa phương xây dựng không sát với giá giao dịch thực tế trên thị trường, gây thất thoát nguồn lực tài chính cho ngân sách Nhà nước khi giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng và là yếu tố dẫn tới tranh chấp, khiếu kiện kéo dài của người dân khi Nhà nước thu hồi đất, gây thiệt hại cho cả người dân, doanh nghiệp và Nhà nước. 

GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế quốc dân, Ủy viên Ủy ban Tài chính của Quốc hội cho rằng, thời gian qua, có rất nhiều vụ tham nhũng tiêu cực liên quan đến đất đai mà nguyên nhân sâu xa là do bảng giá đất thấp, khiến cho nhiều cá nhân trục lợi khi Nhà đất giao đất có thu tiền sử dụng đất cho tư nhân. 

Theo GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, giá đất hiện nay tăng cao là do tình trạng tích trữ, đầu cơ về đất đai.

“Nhiều người giàu có lên bằng cách đầu cơ đất đai, đầu cơ nhà ở. Nếu chúng ta không thay đổi được tình trang đang diễn ra như hiện nay thì chắc chắn tới năm 2045 Việt Nam khó có thể trở thành nước có thu nhập cao như mục tiêu đã đặt ra" - ông Đặng Hùng Võ nói.

Tại Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 8 đã ban hành Nghị quyết số 18/2022. Nhằm hoàn thiện cơ chế xác định giá đất trong giai đoạn tới, Nghị quyết 18 đặt ra giải pháp đáng chú ý là bãi bỏ khung giá đất nhưng tiếp tục sử dụng cơ chế bảng giá đất, xây dựng bảng giá đất dựa trên những nguyên tắc của thị trường.

Địa phương phải có phương pháp xác định bảng giá phải phù hợp nhất so với giá thị trường. Như vậy khi thực hiện các chính sách về kinh tế đất đai như bồi thường, giải phóng mặt bằng, người dân sẽ được hưởng chính sách đền bù thỏa đáng hơn.

GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng, đây chính là đột phá mang tính bước ngoặt về tư duy. Ông Cường phân tích, trước đây thực hiện theo khung giá chính là áp đặt của Nhà nước, sử dụng công cụ thị trường để xây dựng chính sách. Còn nếu làm được như Nghị quyết Trung ương 18 đề ra, chúng ta đã thực hiện tốt việc mô hình kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Nhà nước sử dụng công cụ thị trường để điều tiết hành vi, lợi ích và không còn dùng mệnh lệnh hành chính của mình để áp đặt và sẽ không còn tình trạng “ép” người dân buộc phải giao đất hay cho một ai đó được quyền hưởng một khoản lợi khổng lồ từ đất, từ đó có thể triệt tiêu được tình trạng xin - cho và tham nhũng từ đất.

Chuyên gia kinh tế, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cũng cho rằng: Việc bãi bỏ khung giá đất, đưa thị trường bất động sản về cơ chế thị trường sẽ giúp Việt Nam có thêm dòng thu ngân sách từ thuế với giao dịch bất động sản. Cùng với đó sẽ hạn chế được đầu cơ, tham nhũng về đất đai, người dân được lợi khi nhận được tiền đền bù từ đất, tăng thu cho Ngân sách khi tiền thuế chuyển quyền sử dụng đất, cho thuê đất.... tăng lên./.

Theo VOV

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đánh giá cao những đóng góp tích cực của Việt Nam

Tổng Thư ký đánh giá cao những đóng góp tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam đối với công việc chung của Liên Hợp Quốc, nhất là các cam kết mạnh mẽ trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.

Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc ngày 3/8 đã gặp và làm việc với Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres nhân dịp tham dự Hội nghị kiểm điểm lần thứ 10 Hiệp ước không phổ biến Vũ khí hạt nhân (NPT) tại New York (Mỹ). 

Bày tỏ vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp của quan hệ Việt Nam - Liên Hợp Quốc trong 45 năm qua, Thứ trưởng Hà Kim Ngọc khẳng định, Liên Hợp Quốc là đối tác tin cậy vì hòa bình, hợp tác và phát triển, luôn đồng hành cùng Việt Nam qua các giai đoạn phát triển của đất nước. Nhân dịp này, Thứ trưởng nhắc lại lời mời Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thăm Việt Nam của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc vào thời gian sớm nhất.

Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Guterres chia sẻ những tình cảm đặc biệt dành cho Việt Nam, cho biết ông rất ấn tượng trước những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt là phục hồi sau đại dịch Covid-19.

Tổng Thư ký đánh giá cao những đóng góp tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam đối với công việc chung của Liên Hợp Quốc, nhất là các cam kết mạnh mẽ trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và hứa sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực này. Tổng Thư ký khẳng định sẽ nỗ lực thu xếp thăm Việt Nam vào thời điểm phù hợp trong năm nay.

Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên nhất trí cần tiếp tục củng cố chủ nghĩa đa phương, đề cao tuân thủ luật pháp quốc tế, tăng cường hợp tác ASEAN - Liên Hợp Quốc và phát huy vai trò của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực trong đó có duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển.

Bên lề Hội nghị, Thứ trưởng Hà Kim Ngọc cũng đã có tiếp xúc song phương với các nước bạn bè khu vực Caribe, các nước đang phát triển và sẽ có các cuộc làm việc với các Trợ lý Tổng Thư ký và Lãnh đạo Liên Hợp Quốc phụ trách về chính trị-an ninh và pháp lý./.

Theo VOV

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2022

Như thế cũng là tự diễn biến

Ông bạn cùng cơ quan tôi nhận quyết định nghỉ hưu thì đề nghị ngay cơ quan chức năng làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng về nơi cư trú.

Thủ tục hoàn thành, ông phấn khởi về sinh hoạt tại chi bộ khu phố. “Như vậy, tôi đã thực hiện đúng nguyên tắc, điều lệ sinh hoạt Đảng, những quy định của Ban Tổ chức Trung ương. Tôi không để gián đoạn sinh hoạt Đảng dù chỉ một tháng, có nghĩa là liền mạch được thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của người đảng viên...”.

Nghe ông bạn, người đảng viên đã nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng bày tỏ điều ấy, tôi cảm mến và trân trọng biết bao nhiêu. Có thể nói, đại đa số đảng viên là cán bộ, viên chức, bộ đội, công an, công nhân viên sau khi được nghỉ hưu đều chuyển về sinh hoạt Đảng ở nơi cư trú như bạn tôi.

Tuy nhiên, vẫn có không ít đảng viên sau khi nghỉ hưu thì không mấy “mặn mà” với việc chuyển Đảng, sinh hoạt Đảng. Có đảng viên cứ khất lần việc chuyển sinh hoạt Đảng với lý do “chưa xác định chính thức nơi cư trú sau khi nghỉ hưu”.

Ảnh minh họa/ tuyengiao.vn

Có người nghỉ hưu thì thôi luôn sinh hoạt Đảng, không đến cơ quan, đơn vị làm hồ sơ, thủ tục chuyển Đảng. Có người làm thủ tục chuyển sinh hoạt Đảng, nhưng nhận hồ sơ Đảng về chỉ giữ làm “kỷ niệm”, không chịu đến cơ quan, tổ chức để chuyển tiếp sinh hoạt Đảng.

Khi nghỉ hưu, có người sống “nửa phố, nửa quê” thì không trung thực, cấp ủy nơi cư trú hỏi về việc chuyển Đảng thì nói dối là “tôi chuyển Đảng về quê”; khi về quê có người hỏi việc này thì lại ráo hoảnh “tôi sinh hoạt ở chi bộ tổ dân phố”...

Tất cả trường hợp trên đều là thiếu tính đảng, đều vi phạm điều lệ và nguyên tắc của Đảng, đều là phủ định chính mình. Khi phấn đấu vào Đảng, hẳn những lời tuyên thệ, đảng viên nào cũng nhớ. Rồi khi còn công tác, chắc hẳn những đảng viên này cũng luôn tỏ rõ vừa “hồng”, vừa “chuyên” để mà tiến thủ...

Bây giờ nghỉ hưu, không còn chức vụ, không còn “quyền”, ắt chẳng có “lợi” nên không thiết tha với Đảng nữa. Tư tưởng này rất đáng phê phán, đó cũng là biểu hiện của “tự diễn biến”, biểu hiện của cơ hội, ích kỷ, chính là tư tưởng “lợi ích đương chức”. Đảng ta là một tổ chức cách mạng và chặt chẽ, chứ không phải là một câu lạc bộ mà tồn tại những suy nghĩ, tư tưởng không đẹp đó.

HỒNG QUANG

Giá xăng dầu giảm sâu, giá thị trường vẫn “đủng đỉnh”: Bộ Tài chính nói gì?

[Công Thương] Ngày 3/8/2022, Bộ Tài chính đã cho biết quan điểm về quản lý mặt hàng thiết yếu và giá cước vận tải trong khi giá xăng dầu đã hạ rất sâu sau 4 đợt điều chỉnh.

Bộ Tài chính cho biết, trong tháng 7/2022, giá xăng dầu có 3 đợt điều chỉnh giảm trong đó kỳ điều hành ngày 11/7 và 21/7 giá giảm mạnh do việc tiếp tục điều chỉnh giảm thuế bảo vệ môi trường và giá xăng dầu thế giới giảm.

“Việc giảm giá xăng dầu sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá của các mặt hàng, nhất là những hàng hóa, dịch vụ sử dụng xăng dầu làm đầu vào chính trong sản xuất”- Bộ Tài chính nhìn nhận.

Trong tháng 7/2022, mặc dù giá xăng dầu trong nước giảm mạnh trong nhưng giá nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu vẫn có biến động tăng theo Bộ Tài chính là “do nhiều yếu tố tác động đan xen như tác động của giá nguyên vật liệu đầu vào, mức độ tồn kho, năng lực sản xuất, nhu cầu biến động mang tính mùa vụ, một số mặt hàng có giá nguyên liệu đầu vào tăng trong một thời gian dài nên chưa thể giảm giá ngay hoặc cần độ trễ sau khi giá xăng dầu giảm....”.

Chủ động rà soát kê khai giá các mặt hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ giá xăng dầu (ảnh minh hoạ)

Để tránh việc lợi dụng xu hướng tăng giá xăng dầu từ đầu năm hoặc cố tình kết cấu thêm những khoản chi phí ngoài giá để tăng giá bất hợp lý, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã có công điện chỉ đạo các bộ, ngành địa phương kiểm soát chặt giá các hàng hóa, dịch vụ sau khi giá xăng dầu giảm mạnh trong các kỳ điều hành vừa qua, tăng cường tổ chức rà soát kê khai giá các mặt hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ giá xăng dầu như dịch vụ vận tải hành khách, vận tải hàng hóa, logistics để đánh giá việc điều chỉnh giá phù hợp với biến động của các yếu tố đầu vào, đặc biệt là chi phí xăng dầu trong yếu tố hình thành giá; trường hợp có thể giảm giá thì yêu cầu đơn vị thực hiện kê khai giảm giá kịp thời.

Đặc biệt Bộ Tài chính nhấn mạnh cơ quan chức năng sẽ “tăng cường kiểm tra việc chấp hành niêm yết giá, thu tiền dịch vụ đúng giá niêm yết của các doanh nghiệp, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tăng giá bất hợp lý, kết cấu đưa thêm những khoản thu ngoài giá để thu cao hơn mức giá kê khai, niêm yết”.

Cùng đó đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, chịu ảnh hưởng gián tiếp từ giá xăng dầu, có tác động đến chỉ số giá tiêu dùng và ảnh hưởng đến đời sống người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thủ tướng cũng yêu cầu: các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường, tổ chức nắm bắt tình hình thực hiện của các tổ chức, cá nhân kinh doanh để có các biện pháp điều hành, bình ổn giá phù hợp; tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về giá, các biện pháp kê khai, niêm yết giá, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng để tăng giá bất hợp lý. Chủ động kiểm tra yếu tố hình thành giá theo quy định tại Luật giá và theo thẩm quyền khi hàng hóa có biến động bất thường và xử lý các sai phạm theo quy định.

Đối với giá cước vận tải, theo quy định hiện hành thì Bộ Giao thông vận tải là cơ quan chủ trì quản lý nhà nước về lĩnh vực vận tải. Bộ Tài chính là cơ quan phối hợp khi có yêu cầu. Hiện nay, Bộ Giao thông vận tải, Sở Giao thông vận tải tiếp nhận kê khai giá đối với lĩnh vực cước vận tải hành khách tuyến cố định bằng đường bộ; cước vận tải hành khách bằng taxi; giá dịch vụ chuyên ngành hàng không thuộc danh mục nhà nước quy định khung giá; giá dịch vụ vận chuyển hành khách hàng không nội địa thuộc danh mục nhà nước quy định khung giá…

Bộ Tài chính cũng đề nghị Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo rà soát, tiết giảm chi phí để giảm giá thành hàng hóa, dịch vụ đối với các dịch vụ vận tải do nhà nước định giá thuộc thẩm quyền của Bộ Giao thông vận tải.

Đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá, đề nghị cơ quan tiếp nhận kê khai rà soát mức giá kê khai dịch vụ vận tải phù hợp với biến động của yếu tố hình thành giá và đề xuất, tham mưu cơ quan có thẩm quyền có biện pháp quản lý giá phù hợp với tình hình thực tế.

Quang Lộc

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Xôn xao chuyện lễ phục tốt nghiệp gây tranh cãi và bài học trong tiếp biến văn hoá

Hình ảnh thầy Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội mặc áo nhung, đội mũ màu đỏ, cầm quyền trượng, đeo vòng cổ tại lễ trao bằng tốt nghiệp năm 2022 của trường đã tạo ra những tranh luận trái chiều. Từ sự việc trên, nhiều ý kiến cho rằng, đây không phải là câu chuyện pháp lý theo kiểu đúng hay sai mà sâu xa hơn, nó đặt ra vấn đề chọn lọc phù hợp để giữ được bản sắc trong tiếp biến văn hóa.

Thông tư 26 năm 2009 quy định về việc mặc đồng phục và lễ phục tốt nghiệp của học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra quy định chung về tiêu chuẩn lễ phục. Trong đó, yêu cầu áo khoác ngoài nhẹ, rộng, dài quá đầu gối, chất liệu vải thoáng, mát, trang trí lịch sự, trang trọng thích hợp cho dùng cả mùa hè và mùa đông, thể hiện tính hiện đại và nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Màu của mũ phù hợp với màu của áo, đảm bảo tính thẩm mỹ, trang trọng. Biểu trưng (logo) của trường được gắn ở ngực áo bên trái. Khi nhà trường chưa quy định được lễ phục riêng, có thể sử dụng bộ comple màu sẫm, áo sơ mi, cravat đối với nam; bộ comple hoặc bộ áo dài truyền thống đối với nữ.

Hình ảnh lễ phục của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội trong lễ tốt nghiệp năm 2022
gây tranh cãi. Ảnh minh hoạ.

Cũng theo Thông tư này, tùy theo khí hậu, thời tiết các vùng, miền, căn cứ vào điều kiện của nhà trường, được sự đồng thuận về chủ trương của Hội đồng trường, Giám đốc đại học, học viện, Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp quyết định việc mặc đồng phục, lễ phục, quy định về kiểu dáng, màu sắc và chỉ đạo tổ chức mặc lễ phục của học sinh, sinh viên tốt nghiệp.

Có thể thấy, trong Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định về lễ phục nói chung, lễ phục trong lễ tốt nghiệp nói riêng của các trường đại học tương đối mở. Do đó, nếu xét về lý, việc Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng trang phục lạ mắt trong lễ tốt nghiệp năm 2022 không vi phạm quy định nếu có sự đồng thuận về chủ trương của Hội đồng trường. Vấn đề đặt ra ở đây là sáng tạo lễ phục như vậy có phù hợp với sự tôn nghiêm, trang trọng của buổi lễ tốt nghiệp đại học và văn hoá của người Việt Nam hiện nay hay không? Và đây cũng chính là điểm mấu chốt tạo ra những tranh luận trái chiều trong cộng đồng xã hội.

Thực tế cũng cho thấy, việc các trường đại học ở Việt Nam tổ chức lễ trao bằng tốt nghiệp, học sinh đội mũ, mặc áo thụng theo kiểu phương Tây đã bắt đầu có từ cách đây khoảng 20-30 năm; dần dần thành quen thuộc. Đến thời điểm này, đa số các trường đều tổ chức lễ tốt nghiệp theo cách thức trên. Mặc dù ủng hộ tinh thần đổi mới của nhà trường trong việc tổ chức lễ tốt nghiệp nhưng đại diện một số trường đại học cũng cho rằng, trong các nghi thức hiện nay, một bộ lễ phục thể hiện được sự trang trọng, trang nghiêm, mang cả "dáng dấp" của truyền thống và hiện đại sẽ dễ được chấp nhận hơn. Các trường có quyền lựa chọn, quyết định về cách thức tổ chức nhưng nên phù hợp với điều kiện của xã hội và quan điểm thẩm mỹ của cộng đồng.

Chia sẻ với PV Báo CAND về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng, nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Nhà trường thay đổi trang phục lễ tốt nghiệp nhằm tạo ra sự khác biệt, dấu ấn riêng cũng có thể coi là một nguyện vọng hợp lý để khẳng định phong cách. Tuy nhiên, khi sáng tạo mà thiếu đi các tiêu chuẩn đối sánh phù hợp với thuần phong, mỹ tục truyền thống của dân tộc, cũng như thiếu đi một số chuẩn mực của văn hoá học đường hiện đại theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì sẽ dễ dẫn đến những rủi ro “gieo vừng ra ngô” (?!)”.

Cũng theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Toàn Thắng, một sự kiện vốn trang nghiêm là trao bằng tốt nghiệp cuối khoá, bỗng nhiên bị “sân khấu hoá” “toàn tập” về trang phục, “đạo cụ” của cả thầy và trò thì dễ khiến người ta có cảm giác rằng: Hình như đây là “một không gian khác”, không giống với không gian văn hoá học đường nhà trường, nhất là khi thầy hiệu trưởng “súng sính” khoác áo thụng sặc sỡ, tay cầm “quyền trượng” quyền uy, đầu đội mũ đỏ, cổ đeo tràng hạt dẫn theo một đoàn “tuỳ tùng” cũng vận y phục “quá lạ mắt”!.

“Chúng ta cần học hỏi tinh hoa văn hoá, văn minh của nhân loại trong mọi lĩnh vực nhưng phải biết chọn lọc và điều quan trọng là vẫn phải giữ được bản sắc riêng của văn hoá dân tộc. Từ câu chuyện này cho thấy, ngày nay, văn hoá thẩm mỹ trong trường học cần được quan tâm nhiều hơn nữa trong trách nhiệm của các nhà quản lý giáo dục. Do đó, các quy định, quy chuẩn văn hoá trong nhà trường cũng cần được xây dựng dựa trên nền tảng, chuẩn mực của nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”-nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá và Phát triển chia sẻ.

TS. Nguyễn Sỹ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nêu quan điểm: “Nghi lễ trao bằng tốt nghiệp ở Trường Đại học Kinh tế là một vấn đề văn hoá, không phải một vấn đề pháp lý. Nghi lễ này rõ ràng được nhập khẩu từ nước ngoài. Trong quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế, thì tiếp biến văn hoá là một nhu cầu khách quan. Tuy nhiên, chỉ có “tiếp” mà không có “biến” thì rất dễ rủi ro”.

Ở góc độ của người làm công tác giáo dục, TS. Phạm Hiệp, Giám đốc nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển giáo dục Edlab Asia cho rằng: Ở đây, vấn đề cần bàn luận là trong xu thế tự chủ, cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng, các trường đại học được và không được làm gì. Lâu nay, chúng ta vẫn quan tâm những hoạt động khác mà quên mất hoạt động mang tính văn hoá giáo dục như lễ trao bằng tốt nghiệp. Từ sự việc trên, những người làm công tác quản lý giáo dục có thể ngồi lại, thảo luận, đưa ra ý kiến thống nhất. Đây sẽ là tiền lệ tốt cho cả hệ thống giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng.

Huyền Thanh 

“Đến sinh vật nhỏ nhất cũng muốn sống thì không có lý do gì chúng ta từ chối lao vào lửa cứu người”

Khi tôi nhắc đến bức ảnh Thượng úy Đỗ Đức Việt trong trang phục phòng cháy chữa cháy (PCCC) ướt sũng nước, khuôn mặt lem khói tươi cười vui mừng cứu được chú chó bị mắc kẹt trong nhà dân bị cháy, Thượng úy Hồ Văn Khánh, đồng đội của Việt ở Đội Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an quận Cầu Giấy giàn giụa nước mắt thuật lại lời của Việt ngày nào: “Đến sinh vật nhỏ nhất còn tìm đủ mọi cách thoát khỏi đám cháy để sống thì không có lý do gì chúng ta từ chối lao vào lửa để cứu người”.

Người chỉ huy mẫu mực

Khuya muộn 1/8, ở Nhà tang lễ Bệnh viện 19/8 mới trở về nhà, không chỉ riêng tôi, có lẽ đêm qua là một đêm thật sự khó ngủ của tất cả CBCS Công an Thủ đô và cả cộng đồng mạng hay những người biết đến sự hy sinh anh dũng của 3 CBCS Đội Cảnh sát PCCC và CNCH Công an quận Cầu Giấy: Thượng tá Đặng Anh Quân (SN 1977), Đội trưởng cùng Thượng uý Đỗ Đức Việt (SN 1998) và Hạ sĩ Nguyễn Đình Phúc (SN  2003). Sáng sớm 2/8, khi tôi tìm đến trụ sở Đội Cảnh sát PCCC và CNCH Công an quận Cầu Giấy nằm trên đường Nguyễn Phong Sắc, vừa đến cổng trụ sở thì chiếc xe chữa cháy tại quán karaoke ở Quan Hoa, nơi mà 3 đồng đội của tôi hy sinh chiều qua mới trở về đơn vị.

CBCS trong đơn vị đau đớn sắp xếp lại quân phục, những di vật của đồng đội đã hy sinh.

Khi chiếc xe được đỗ ngay ngắn tại vị trí trực chiến, từ trên xe, Thượng úy Hồ Văn Khánh, Thượng úy Lưu Tuấn Hải và Thiếu úy Phạm Văn Hoài mở cửa bước xuống. Sau gần một ngày vật lộn với giặc lửa hung hãn và nhất là khi 3 người đồng đội anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ, đôi mắt của ai cũng đỏ hoe, trên gương mặt không giấu được vẻ thiếu ngủ. Chẳng ai bảo ai, dường như đã trở thành một phản xạ có điều kiện, mặc định trong hành động, Thượng úy Hồ Văn Khánh và đồng đội thu dọn vòi rồng, các thiết bị chữa cháy, CNCH trước khi bắt đầu một ngày làm nhiệm vụ mới.

Trung tá Trương Tuấn Anh, Đội phó Đội Cảnh sát PCCC và CNCH đôi mắt thâm quầng. 3h sáng nay anh mới từ hiện trường vụ cháy trở về đơn vị. Ngồi thẫn thờ một lát, anh lại xuống Nhà tang lễ Bệnh viện 19-8, nơi mà trong đó 3 đồng đội của anh đang được đơn vị làm các thủ tục chuẩn bị cho lễ tang chu đáo nhất. Trong chiều tối 1/8, Trung tá Trương Tuấn Anh cùng với đồng đội phá vòng lửa lao lên, tìm đủ mọi cách để đưa những người đồng đội ra ngoài. “Khi chúng tôi lên được đến nơi, anh Quân và hai em Việt, Phúc nằm ở 3 vị trí khác nhau, lửa cháy nhìn thương tâm lắm, không chịu nổi”- Trung tá Trương Tuấn Anh nghẹn ngào.

Gắn bó với nhau từ nhiều năm nay, giữa anh Tuấn Anh và  anh Quân không chỉ là tình cảm đồng đội đơn thuần mà còn thân với nhau như anh em ruột thịt. Các vụ cháy lớn, nhỏ trên địa bàn hiếm khi thiếu vắng anh và anh Quân tham gia. “Anh em chúng tôi đã cùng tham gia chữa cháy nhiều vụ. Có những vụ cháy lớn, cùng đứng giữa ranh giới mỏng manh của sự sống và cái chết nhưng chúng tôi vẫn vượt qua được. Vậy mà, lần này, anh ấy đã không trở về cùng tôi nữa…!”- Trung tá Trương Tuấn Anh nước mắt giàn dụa.

Những chiếc mũ, di vật của đồng đội hy sinh được CBCS trong đơn vị xếp lại ngay ngắn
trong phòng làm việc của các anh.

Trong hồi ức của Trung tá Trương Tuấn Anh, Thượng tá Đặng Anh Quân là một chỉ huy nhiệt tình, hoà đồng, tình cảm với anh em nhưng cũng rất nghiêm khắc trong công việc. Với kinh nghiệm, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp vững vàng, Đội trưởng Đặng Anh Quân luôn là chỗ dựa tin cậy, là “kho” kiến thức truyền thụ cho CBCS để anh em trong đơn vị nâng cao hơn kỹ năng PCCC và CNCH.

Đa số CBCS trong đơn vị đều là lính trẻ, nhiều trong số đó còn chưa có người yêu, chưa có vợ. Với đặc thù đơn vị chiến đấu ăn ở tập trung, chính vì vậy, không chỉ là một người chỉ huy hướng dẫn về nghề nghiệp, Đội trưởng Đặng Anh Quân trong đời thường còn như một người anh, người chú đầy tin cậy, bảo ban, hướng dẫn, động viên CBCS trong cả nếp sinh hoạt.

“Với kỹ năng được đào tạo, anh ấy đã cùng với đồng đội đưa được 8 người dân đang mắc kẹt trong quán karaoke ra ngoài an toàn giữa biển lửa. Chỉ khi tiếp tục quay lại làm nhiệm vụ tìm kiếm thêm người bị nạn, lúc này toàn bộ phần trần phía trên tầng 4 bị lửa nung cháy đổ sập xuống, anh Quân và hai CBCS mới gặp nạn, hy sinh”- Trung tá Trương Tuấn Anh nghẹn ngào.

Những trái tim nóng đã về với trời xanh

Thượng úy Đỗ Đức Việt công tác ở đơn vị từ năm 2019. Là một cán bộ được đào tạo cơ bản từ trường Đại học PCCC, kiến thức vững, ngoài công tác PCCC, Việt còn là một cán bộ đoàn năng nổ. Đặc biệt, Việt có năng khiếu về công tác tuyên truyền những kỹ năng PCCC. Ngoài thời gian đi làm nhiệm vụ PCCC và CNCH ở hiện trường, Việt được chỉ huy đơn vị tin tưởng giao cho mảng tuyên truyền những kỹ năng PCCC tại khu dân cư, trường học.

Nhiều lần đi cùng với người cán bộ trẻ xuống địa bàn tuyên truyền, Trung tá Trương Tuấn Anh rất tự hào khi Trung úy Đỗ Đức Việt được người dân quý mến. Những bài giảng đơn giản, ngắn gọn, mang tính thực tế cao được Việt tuyên truyền đã giúp cho người dân trên địa bàn hiểu được sự nguy hiểm, tác hại và những nguy cơ, hiểm họa khi xảy ra cháy nổ để phòng ngừa.

Thượng úy Hồ Văn Khánh tần ngần, đau đớn trước những di vật của đồng đội đã hy sinh.

Quý mến người cán bộ trẻ có năng lực, Trung tá Trương Tuấn Anh sắp xếp cho Việt ngồi làm việc tại phòng của mình để rèn rũa, kèm cặp, những mong em sẽ là thế hệ kế tiếp cho chỉ huy đơn vị. “Vậy mà, em Việt đã bỏ anh đi quá sớm!”- giọng nói của Trung tá Trương Tuấn Anh nghẹn lại . “Riêng Phúc thì ngoan lắm, rất nhiệt tình với công việc” - nói đến đây, Trung tá Trương Tuấn Anh lặng đi, đôi mắt đỏ hoe.

Cùng là cán bộ trẻ, ăn ở tập trung trong môi trường chiến đấu cao, Thượng úy Hồ Văn Khánh, Thượng úy Lưu Tuấn Hải, Thiếu úy Phạm Văn Hoài… là những đồng đội thân quý của Thượng úy Đỗ Đức Việt và Hạ sĩ Nguyễn Đình Phúc. Thượng úy Hồ Văn Khánh thuật lại, sau khi nhận được lệnh lên đường đi chữa cháy, anh ngồi cùng xe chữa cháy số 1 với Đội trưởng Đặng Anh Quân. Khi đến nơi, các tổ PCCC và CNCH phối hợp nhịp nhàng vừa chữa cháy, dập lửa vừa tổ chức tìm kiếm đưa những người dân đang mắc kẹt bên trong ra ngoài.

Do thiết kế của quán karaoke rất kín, cửa thông gió gần như không có, lửa từ trên tầng 6 không có đường thoát lên, quay ngược trở lại tấn công những tầng phía dưới. Tường của quán karaoke được thiết kế cách âm, rất dầy, bên trong nhồi nhét trấu khô, giấy bạc nên khả năng giữ nhiệt, om khói vô cùng lớn.

Xe chữa cháy, vòi rồng... cũng lặng yên trước sự hy sinh của 3 CBCS

Khi xảy cháy, nhiệt độ trong phòng rất cao, khói bao trùm, ộc xuống khiến cho những CBCS tham gia công tác PCCC và CNCH đứng sát cũng không nhìn thấy nhau, phải quờ quạng tay để tìm kiếm người bị nạn rồi nhanh chóng đưa ra ngoài. Khói độc quá nhiều khiến cho dưỡng khí trong các căn phòng ngày càng ít đi. Hai đồng chí Đỗ Đức Việt và Nguyễn Đình Phúc lao lên tiếp ứng, cùng với Đội trưởng Đặng Anh Quân đưa được 8 người dân ra ngoài trước khi lửa nung bén chảy làm cho toàn bộ phần trần tầng 4 bị đổ sập, đè lên các anh khi họ quay lại tiếp tục tìm kiếm thêm người bị nạn.

“Việt rất mạnh mẽ nhưng tình cảm. Anh em trong đơn vị đi đâu cũng có nhau. Khi Việt cùng với anh Quân và em Phúc bị lửa vùi bên trong, anh em đau đớn, quyết tìm đủ mọi cách, lao qua biển lửa đưa các anh em ra ngoài nhanh nhất. Xót quá, đau quá!”- Thượng úy Lưu Tuấn Hải vừa treo bộ quân phục của Trung úy Đỗ Đức Việt lên vị trí quen thuộc của Việt, vừa khóc.

Gần như trẻ nhất đơn vị, Hạ sĩ Nguyễn Đình Phúc hiền lành, ham học hỏi, được anh em từ chỉ huy đến CBCS quý mến. “Em Phúc học tốt, nhất là tiếng Anh. Đang học dở trường đại học nhưng Phúc bảo lưu kết quả học tập để đi nghĩa vụ Công an. Phúc nói đam mê nghề chữa cháy từ nhỏ, bởi người cha của em ngày xưa cũng từng là lính PCCC. Sau mỗi giờ làm nhiệm vụ, Phúc còn là gia sư hướng dẫn anh em trong đơn vị học thêm ngoại ngữ”- Thiếu úy Phạm Văn Hoài nhớ lại. Anh cố ngăn nhưng nước mắt vẫn rơi tiếc thương người em, người đồng đội cùng đơn vị.

Khi chúng tôi nhắc đến những tấm ảnh trong đó có hình ảnh Đỗ Đức Việt vừa cứu được chú chó tại một vụ cháy được Việt đăng lên trang facebook cá nhân, Thượng úy Hồ Văn Khánh kể rằng, Việt sống tình cảm. Việt từng nói với đồng đội: "Đến những sinh vật dù nhỏ nhất cũng tìm đủ mọi cách lao ra khỏi đám cháy để tìm sự sống thì không có lý do gì chúng ta lại từ chối lao vào lửa để cứu người".

“Chỉ có trái tim nóng, giàu yêu thương, xúc cảm đến vô cùng mới làm được việc đó, mới có thể quên đi tính mạng, sự sống của mình để nhường hơi thở cho những người khác, cho những sinh vật nhỏ bé ấy…!”- Thượng úy Hồ Văn Khánh nghẹn ngào.

Hoàng Phong – Báo CAND

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2022

Quyền con người và sức khỏe cộng đồng

Những năm qua, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận nhiều thành tựu nổi bật về nhân quyền, trong đó quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân luôn được chú trọng.

Tiêm vaccine phòng COVID-19 mũi 3, mũi 4 cho cán bộ công chức, viên chức, người lao động. (Ảnh minh họa)

Thực tế những năm qua cho thấy, Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người và là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế trong việc bảo đảm các vấn đề về nhân quyền. Các thành tựu về nhân quyền được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, y tế, văn hóa...

Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng đều qua các năm: từ 0,682 năm 2016 lên 0,706 năm 2020. Trong các thành tựu về quyền về con người của Việt Nam, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân luôn được ưu tiên hàng đầu bởi mỗi cá nhân khi được chăm sóc tốt về sức khỏe thì mới có thể thụ hưởng và thực hiện được các quyền cơ bản khác. Mặt khác, việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe cũng gắn liền với các quyền con người khác như: quyền sống, quyền có lương thực, thực phẩm, quyền về nhà ở, việc làm, giáo dục, quyền được bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, bình đẳng, không phân biệt đối xử...

Các quốc gia đều có nghĩa vụ bảo đảm người dân phải được chăm sóc sức khỏe trong những điều kiện cơ bản của quốc gia đó. Nghĩa vụ quốc gia trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe đã được cộng đồng quốc tế khẳng định trong một số văn bản pháp lý quan trọng. Điều 12 ICESCR (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) quy định: mọi người dân có quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hóa, dịch vụ và điều kiện cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể.

Tại Việt Nam, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân được ghi nhận trong các Công ước quốc tế mà Chính phủ ký kết và tham gia; đồng thời, được ghi nhận trong Hiến pháp và nhiều đạo luật như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Khám chữa bệnh năm 2009, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014, Luật Dược năm 2016... Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe của toàn dân. Thực tế, với một hệ thống các văn bản pháp luật hỗ trợ, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam đã được thực hiện thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Cụ thể như: đầu tư nguồn lực cho y tế gồm nhân lực (đội ngũ bác sĩ, cán bộ y tế) và vật lực (trang thiết bị y tế, các bệnh viện, trạm y tế...) luôn được Chính phủ quan tâm; dịch vụ công về y tế cũng có nhiều cải tiến, phần lớn người dân cảm thấy hài lòng; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế hơn 90% số dân; trẻ em dưới 6 tuổi không phải đóng các khoản phí tham gia bảo hiểm y tế và được làm thẻ bảo hiểm y tế miễn phí... Những chính sách của Đảng và Nhà nước cho thấy, quyền và lợi ích của người dân luôn được ưu tiên, người dân được bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe.

Đặc biệt, trong hơn hai năm xảy ra đại dịch COVID-19, quyền được chăm sóc về sức khỏe của người dân càng được thể hiện rõ nét. Ngay từ khi có thông tin chính thức về đại dịch toàn cầu này, mọi quyết sách và các biện pháp y tế của Việt Nam đều nhất quán theo quan điểm tính mạng người dân là quan trọng, cả hệ thống chính trị phải ưu tiên bảo vệ tính mạng và sức khỏe của người dân. Mọi người dân đều được tiếp cận với các thông tin cũng như cơ sở, dịch vụ y tế, được tiêm vaccine miễn phí theo đúng lộ trình và được điều trị miễn phí.

Đây là một nỗ lực rất đáng ghi nhận của Việt Nam trong bối cảnh bệnh nhân mắc COVID-19 ở nhiều quốc gia trên thế giới phải tự chi trả mọi chi phí. Trước làn sóng biến thể phụ BA.4, BA.5 của Omicron trên thế giới và bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam, hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương đang tích cực triển khai tiêm vaccine COVID-19, liều nhắc lại lần 2 (mũi 4) từ tháng 6/2022 để bảo đảm an toàn sức khỏe cho cả cộng đồng.

Những ứng phó với đại dịch COVID-19 của Chính phủ Việt Nam nhân văn, ưu việt, hoàn toàn phù hợp nghĩa vụ thực hiện quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của người dân trong tình huống khẩn cấp y tế dựa theo yêu cầu cơ bản của quyền này dựa trên các yếu tố: tính sẵn có của cơ sở, hàng hóa, dịch vụ y tế; khả năng tiếp cận với cơ sở, hàng hóa, dịch vụ, thông tin y tế với chi phí hợp lý và không có sự phân biệt đối xử với bất kỳ nhóm đối tượng nào; phù hợp về mặt y học và với điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội, văn hóa của từng quốc gia và bảo đảm nền y tế có chất lượng.

Nỗ lực nâng cao sức khỏe người dân không chỉ được thể hiện ở các con số mà còn thể hiện ở niềm tin của người dân vào Đảng, vào chính quyền, vào hệ thống y tế; cũng như sẵn sàng sát cánh cùng hệ thống chính trị trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Đảng và Nhà nước ta luôn thấu hiểu rằng, bên cạnh việc giữ vững, phát huy những thành tựu đã đạt được còn rất nhiều việc phải làm để bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân được thực hiện toàn diện, triệt để hơn. Chẳng hạn như cần nhanh chóng tìm giải pháp tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong thể chế, chính sách, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe và các quyền liên quan. Ngoài ra cần chú trọng nâng cao nhận thức của người dân về quyền được chăm sóc sức khỏe, từ đó, có những đề xuất, kiến nghị phù hợp khả năng đáp ứng về y tế.

Đối với ngành y tế, cần thiết phải đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, tiến tới nâng cao năng lực khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Đặc biệt là các giải pháp về phát triển y tế cơ sở và y tế dự phòng; nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên y tế; ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ số trong khám, chữa bệnh; xây dựng một số trung tâm y tế chuyên sâu, các cơ sở khám, chữa bệnh tầm cỡ khu vực và quốc tế; phát triển mô hình bác sĩ gia đình...

Dư luận tiến bộ trên thế giới đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong các nỗ lực về bảo đảm nhân quyền, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, vì những mục đích cá nhân đen tối, một số đối tượng cực đoan, phản động thiếu thiện chí vẫn không ngừng ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả về nhân quyền, chống phá Đảng, Nhà nước bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.

Vụ án nâng giá kit xét nghiệm COVID-19 xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á gần đây là một vụ án nghiêm trọng và có liên quan đến nhiều cán bộ y tế. Lợi dụng sự việc này, trên các trang mạng xã hội, thế lực thù địch, phản động không ngừng tuyên truyền các luận điệu sai trái nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước, cho rằng đứng sau đó có “nhóm lợi ích”, là “đấu đá nội bộ” và đưa ra những suy diễn vô căn cứ về “trùm cuối” khiến dư luận hết sức bức xúc. Cần khẳng định đây là vụ việc rất đau xót, nhưng cũng cho thấy Đảng và Nhà nước ta không khoan nhượng với cái xấu, cái tiêu cực.

Các cơ quan chức năng đã vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt, với tinh thần không có “vùng cấm”. Chỉ trong vài tháng qua, đã có hàng chục cán bộ trong ngành y tế bị khởi tố liên quan vụ án này, trong đó, có cả những cán bộ cấp cao. Việc xử lý các cá nhân sai phạm liên quan đến vụ án Việt Á cho thấy sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước với các hành vi sai phạm liên quan đến tham nhũng, đồng thời tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là bảo đảm tốt nhất quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Bởi y tế là lĩnh vực liên quan trực tiếp, mật thiết đến sức khỏe, tính mạng người dân; đội ngũ những người làm y tế phải thật sự trong sạch, liêm chính thì người dân mới được chăm sóc, điều trị trong điều kiện tốt nhất. Các trang thiết bị y tế là để phục vụ việc khám, điều trị bệnh cho nên cần được bảo đảm cao nhất về chất lượng, hiệu quả.

Sự việc nêu trên khiến nhiều người nhớ lại thời điểm chống dịch COVID-19 căng thẳng, những đối tượng phản động không ngừng xuyên tạc các chính sách y tế nhằm bảo đảm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân mà Chính phủ áp dụng để đẩy lùi dịch COVID-19. Chúng đưa ra luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm các quyền tự do đi lại, quyền tự do hội họp, các quyền riêng tư khác khi yêu cầu cách ly, cung cấp thông tin cá nhân, giãn cách xã hội...

Chúng cố tình bỏ qua các quy định pháp luật rất rõ ràng về thực hiện quyền con người trong những điều kiện y tế khẩn cấp. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Theo đó, việc bảo đảm quyền con người còn đòi hỏi mỗi cá nhân phải tôn trọng quyền của người khác, đồng thời, bảo đảm quyền con người cũng phải gắn liền với việc thực hiện trách nhiệm của công dân với đất nước và trách nhiệm của con người với cộng đồng xã hội.

Những năm qua, Việt Nam luôn cho thấy sự tôn trọng, bảo vệ, và thúc đẩy quyền con người trong những tình huống khẩn cấp cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Sự lựa chọn ưu tiên thực hiện “quyền được chăm sóc sức khỏe” của Đảng, Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp điều kiện và bối cảnh thực tế, thực hiện mục tiêu bảo đảm tốt nhất an toàn tính mạng và sức khỏe của mọi người dân./.

Minh Anh (nhandan.vn)


Bàn về văn hóa trong công tác tư tưởng

(TG) - Sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, phong trào xây dựng, chấn hưng văn hóa đang được khơi dậy mạnh mẽ ở các cấp, ngành, địa phương và các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là một bộ phận cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng, công tác tư tưởng cũng phải nhận thức, hành động theo các giá trị văn hóa của nhân loại, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời giữ gìn, bồi đắp, sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới mang đặc trưng của lĩnh vực công tác tư tưởng và ngành Tuyên giáo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Ảnh: VGP

BỘ PHẬN CẤU THÀNH VĂN HÓA ĐẢNG, VĂN HÓA TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Văn hoá có nhiều nghĩa, đa diện, nhưng dù ở góc độ nào khi nói đến văn hoá là nói đến giá trị văn hóa. Đó là những gì tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc qua nhiều thế hệ tạo thành hệ giá trị tốt đẹp để quy tụ, định hướng suy nghĩ và hành động của mọi người trong xã hội. Giá trị văn hóa có nhiều cấp độ: nhân loại, dân tộc, cộng đồng, lĩnh vực, gia đình, cá nhân. Các giá trị tiêu biểu của nhân loại là: chân - thiện - mỹ, dân chủ, tự do, bình đẳng... Các giá trị tiêu biểu của dân tộc Việt Nam là: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực… Nền văn hóa Việt Nam hiện nay đang hướng tới các giá trị: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học. Các giá trị văn hóa gia đình Việt Nam hiện đại đang hình thành là: ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh... Tuy ở các tầm cấp khác nhau nhưng các giá trị văn hóa luôn đan xen, hòa quyện vào nhau, bởi giá trị văn hóa chung không tồn tại bên ngoài những giá trị văn hóa riêng. Trái lại, giá trị văn hóa của nhân loại, dân tộc, ngành, lĩnh vực luôn tồn tại trong mỗi giá trị của cộng đồng, gia đình, cá nhân và biểu hiện thông qua mỗi giá trị văn hóa riêng đó.

Văn hoá xuyên thấm trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi vì, dù ở đâu, lĩnh vực nào, con người cũng luôn hướng tới những điều tốt đẹp, luôn có ý thức bồi đắp, sáng tạo và hành động theo các giá trị văn hóa. Trong xã hội Việt Nam hiện đại, văn hóa được gắn với nhiều lĩnh vực như văn hoá chính trị, văn hoá kinh doanh, văn hoá giao thông, văn hóa học đường, văn hóa công sở, văn hoá Đảng... Công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng(1), vì vậy, có thể nói, văn hóa trong công tác tư tưởng là một bộ phận hợp thành văn hóa Đảng, văn hóa trong hệ thống chính trị. Do đó, xây dựng văn hóa trong công tác tư tưởng là một yêu cầu mang tính tất yếu, khách quan. Về vấn đề này, Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (Nghị quyết 33-NQ/TW) đã khẳng định: “Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(2). Kết luận 76/KL/TW ngày 4/6/2020 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW tiếp tục khẳng định: “Tăng cường xây dựng văn hoá trong chính trị và kinh tế. Tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Coi trọng xây dựng văn hoá từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước”(3).

MỘT CÁCH TIẾP CẬN VĂN HÓA TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

Văn hoá vốn có rất nhiều định nghĩa, vì vậy, văn hóa trong công tác tư tưởng chắc chắn cũng sẽ có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, xem xét văn hóa trong công tác tư tưởng bằng phương pháp hệ thống cấu trúc là một cách tiếp cận dễ hiểu và dễ thực hiện. Theo khoa học công tác tư tưởng, mỗi hoạt động tư tưởng đều có các yếu tố cấu thành là: chủ thể, đối tượng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện và hiệu quả(4). Các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau, vận hành trong một môi trường xã hội khách quan và chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường ấy. Như vậy, văn hóa trong công tác tư tưởng có thể hiểu là các yếu tố cấu thành hoạt động tư tưởng nêu trên phải luôn thấm đẫm các giá trị văn hóa. Nói cách khác, mọi hoạt động tư tưởng phải lấy các giá trị văn hóa là mục tiêu, thường xuyên thực hành các giá trị văn hóa đó trong thực tiễn và sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới mang đặc trưng của lĩnh vực tư tưởng, đồng thời hoạt động tư tưởng cũng phải được tiến hành trong một môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp.

“Chân” là một giá trị văn hóa phổ quát của nhân loại, tương ứng với tính khoa học trong hệ giá trị của nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Tính khoa học vốn là một nguyên tắc của công tác tư tưởng, nó đòi hỏi công tác tư tưởng phải nhận thức được quy luật khách quan, tôn trọng quy luật khách quan và vận hành theo quy luật khách quan. Công tác tư tưởng là hoạt động tác động vào thế giới tinh thần của con người. Đó là một thế giới vô cùng đa dạng, phức tạp, muốn thu phục nhân tâm, chủ thể công tác tư tưởng phải nhận thức và vận hành theo các quy luật của lĩnh vực tư tưởng, tinh thần. Mục tiêu của công tác tư tưởng phải đúng đắn, tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại. Nội dung của công tác tư tưởng phải là sản phẩm của nghiên cứu khoa học, đúng đắn, chân thật, tiến bộ. Phương thức tiến hành phải dựa vào tri thức của các ngành khoa học như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học…, cùng với những cứ liệu chính xác, đầy đủ và ứng dụng kịp thời những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Hiệu quả công tác tư tưởng cũng phải được đánh giá một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể ở cả nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng. Nói một cách giản dị, tính khoa học chính là sự đúng đắn, tiến bộ, luôn đứng về lẽ phải và công lý. Ngược lại, các biểu hiện chủ quan, duy ý chí, lừa bịp, che giấu thông tin, gieo rắc mê tín, dị đoan, lạc hậu, bảo thủ, chạy theo thành tích, “làm láo báo cáo hay” đều là phi văn hóa.

Công tác tư tưởng phải tuân thủ và hướng tới cái “Thiện” vốn là một giá trị tiêu biểu của nhân loại mà trong nền văn hóa Việt Nam đó là tính nhân văn, tất cả phục vụ con người và vì sự phát triển của con người. Mục tiêu công tác tư tưởng phải hướng tới cái tốt, bao dung, độ lượng, yêu thương và tôn trọng con người, vì hạnh phúc của con người. Nội dung của công tác tư tưởng phải lấy phản ánh cái tốt là chủ đạo, luôn cổ vũ, khuyến khích cái tốt, bảo vệ hòa bình, thịnh vượng; phê phán, bài trừ cái ác, dã man, bạo lực. Công tác tư tưởng phải khuyến khích con người làm việc thiện; chia sẻ, cảm thông với những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh; lên án những hành vi phi đạo đức, chà đạp lên luân thường, đạo lý. Chủ thể công tác tư tưởng cũng phải là người có đạo đức, lối sống lành mạnh, tốt đẹp. Hiệu quả của công tác tư tưởng là phải làm cho đối tượng hiểu, tin, ủng hộ, thực hành cái thiện. Nói cách khác, giáo dục tư tưởng phải gắn chặt với giáo dục đạo đức, thiện hóa con người.

Cái đẹp cao cả trong công tác tư tưởng là phải làm cho quần chúng thấy được cái hay, cái đẹp của lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Công tác tư tưởng phải làm cho đối tượng tiếp thu nội dung một cách hào hứng trên tinh thần tự nguyện, tự giác. Phương châm của công tác tư tưởng là “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”; nội dung là ca ngợi, tôn vinh, lan tỏa cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Phương thức tiến hành công tác tư tưởng phải lôi cuốn, hấp dẫn, đạt tới trình độ nghệ thuật. Cái đẹp cụ thể ở đây là sự cân đối, hài hoà của các phương tiện trực quan; ngôn ngữ, lời nói chuẩn mực, sinh động; sự đúng giờ, tôn trọng người nghe; cán bộ tư tưởng có phong thái gọn gàng, lịch sự, chỉn chu trước quần chúng. Hiệu quả của công tác tư tưởng phải mang đến cho đối tượng lý tưởng cao đẹp, hình thành những xúc cảm tích cực, lành mạnh, khuyến khích mọi người suy nghĩ đẹp, hành xử đẹp và luôn sáng tạo ra cái đẹp.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: TTXVN

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VĂN HÓA TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

Những năm qua, bên cạnh những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới, công tác tư tưởng vẫn còn nhiều hạn chế. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác tư tưởng có lúc, có nơi chưa được cấp ủy coi trọng, chưa kịp thời, tính thuyết phục chưa cao. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đứng mực, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu; một số khó khăn, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”(5). Đối chiếu với các giá trị văn hóa nêu trên, công tác tư tưởng còn phải cố gắng rất nhiều mới đạt tới tầm văn hóa. Nội dung công tác tư tưởng chưa thật sự bảo đảm tính khoa học, chưa bắt kịp những thay đổi của hiện thực khách quan; chưa giải quyết kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra, chưa làm rõ quy luật, sự biến đổi tâm lý đối tượng dưới tác động của điều kiện mới. Thông tin tốt, tích cực chưa trở thành dòng chủ lưu; cái xấu, cái ác, dối trá còn lan tràn trên các phương tiện truyền thông, nhất là mạng xã hội. Phương thức tiến hành chưa xuất phát từ đối tượng, còn mang tính áp đặt, một chiều, chưa giải quyết hài hòa giữa đáp ứng nhu cầu thông tin với giáo dục, định hướng tư tưởng, chưa phù hợp với cách nghĩ, cách cảm của người Việt Nam. Một bộ phận người làm công tác tư tưởng chưa thật sự là tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức, lối sống. Đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng còn chủ quan, cảm tính, chạy theo số lượng, bệnh thành tích, bệnh hình thức còn khá phổ biến.

Công tác tư tưởng đang sử dụng một số lượng khá lớn thời gian, công sức, tiền bạc của xã hội nhưng còn thiếu hiệu quả, chưa hấp dẫn, lôi cuốn người nghe, vẫn mang nặng tính bắt buộc. Tình trạng lười học, ngại học, chán học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên vẫn còn khá phổ biến. Nhiều cơ quan, cán bộ tư tưởng chưa phát huy tốt vai trò của văn học, nghệ thuật trong truyền tải nội dung tư tưởng. Tính tư tưởng, tính giáo dục của báo chí, truyền thông, văn học, nghệ thuật chưa cao, có biểu hiện xa rời hồn cốt của dân tộc, lai căng, vọng ngoại, lép vế, tụt hậu so với thông tin trên mạng xã hội, thông tin kinh tế, giải trí…

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Sau hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, công tác tư tưởng của Đảng đã phát huy tốt các giá trị truyền thống của dân tộc và đang hình thành nhiều giá trị mới. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ mới, những giá trị truyền thống đang bị thách thức bởi môi trường, điều kiện sống có sự thay đổi mạnh mẽ. Những giá trị mới thì còn non nớt, chưa ổn định và bền vững. Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng kỹ thuật số đang tạo ra một cuộc xâm lăng văn hóa từ bên ngoài, môi trường văn hóa đang bị vẩn đục bởi nhiều yếu tố phi văn hóa. Những vấn đề đó đang đặt ra cho công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa trong công tác tư tưởng nói riêng nhiều khó khăn, thách thức.

Xây dựng văn hóa trong công tác tư tưởng đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ, là một quá trình dần dần, từ từ, không thể bằng mệnh lệnh hành chính và những cách làm nóng vội, chạy theo phong trào. Nhưng cũng không vì thế mà chậm trễ, thụ động ngồi chờ, phải bắt đầu ngay từ ngày hôm nay bằng những việc làm cụ thể, có trách nhiệm, có lộ trình bước đi phù hợp. Để xây dựng văn hóa trong công tác tư tưởng, trước mắt cần tiến hành một số biện pháp sau đây:

Một là, ngành Tuyên giáo phải thấm nhuần các quan điểm của Đảng về văn hóa, nhất là tinh thần Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó, cần quán triệt và thực hiện quan điểm văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế và chính trị. Ngành Tuyên giáo sớm nghiên cứu làm rõ văn hóa trong công tác tư tưởng là gì, minh định hóa, giản dị hóa thành các nội dung cụ thể. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mỗi cán bộ tư tưởng, mà trước hết là cấp ủy, cán bộ tuyên giáo các cấp quán triệt sâu sắc, tạo sự nhất trí cao, đồng tâm, hiệp lực, tạo động lực từ bên trong cho công cuộc xây dựng văn hóa trong công tác tư tưởng.

Đàn bầu là một loại nhạc cụ truyền thống độc đáo của người Việt Nam, được nhiều bạn bè quốc tế yêu thích. Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đã từng chơi thử nhạc cụ này trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam,
tháng 3/2019.

Hai là, đầu tư nghiên cứu, tổng kết, hệ thống hóa thành hệ giá trị văn hóa truyền thống của ngành Tuyên giáo trong hơn 90 năm qua. Đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng hệ giá trị văn hóa trong tương lai mà ngành cần phải hướng tới, chẳng hạn như: Chân thực, thuyết phục, minh bạch, kịp thời, đối thoại… Với những giá trị văn hóa mới, cần có sự quan tâm trợ giúp, bồi đắp, bảo vệ của cấp ủy các cấp, tạo môi trường thuận lợi cho các giá trị đó đứng vững trong môi trường không thuận lợi, từng bước kết tinh, lắng đọng thành các giá trị của lĩnh vực tư tưởng và ngành tuyên giáo. Trên cơ sở các giá trị văn hóa chung của ngành, cần hình thành các giá trị văn hóa trong từng lĩnh vực như: văn hóa trong nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị; văn hóa trong tuyên truyền, cổ động chính trị; văn hóa ứng xử của cán bộ, nhân viên cơ quan tuyên giáo…

Ba là, tổ chức một phong trào xây dựng môi trường văn hóa trong cơ quan tuyên giáo, thông tin, truyền thông trên phạm vi toàn quốc. Văn hóa là sáng tạo, đa dạng, phong phú, vì vậy cần khuyến khích những cách làm mới, “trăm hoa đua nở”, trên cơ sở đó phát hiện, nhân rộng ra toàn ngành. Qua phong trào, phải tạo ra những giá trị có thật, bền vững, có thể đo đếm, trải nghiệm được. Kiên quyết khắc phục bệnh hình thức và bệnh thành tích, tư duy rập khuôn, máy móc khi xây dựng văn hóa trong công tác tư tưởng.

Bốn là, tiến hành tổng kết, xây dựng mô hình văn hóa trong công tác tư tưởng cùng với tiếp thu những giá trị tốt đẹp từ nước ngoài, từ các ngành khác, lĩnh vực khác. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện biểu dương các tập thể và cá nhân tiêu biểu, đồng thời kiên quyết xử phạt, lên án những hành vi, hiện tượng vô văn hóa, phi văn hóa trong nội bộ ngành với tinh thần không sợ “vạch áo cho người xem lưng”, bởi thẳng thắn, trung thực với chính mình cũng là một nét văn hóa của người làm công tác tư tưởng.

Xây dựng văn hóa trong công tác tư tưởng sẽ góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trí tuệ, đạo đức và văn minh, đưa nền văn hóa Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức để chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp tục làm vẻ vang thêm cho dân tộc, giống nòi. Văn hóa trong công tác tư tưởng sẽ tạo thành nguồn lực và động lực mạnh mẽ để xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc ta.

Năm là, xây dựng thiết chế công tác tư tưởng có văn hóa, bởi đó là nơi sản sinh ra các giá trị văn hóa, lưu giữ và vận hành các giá trị văn hóa của ngành. Phải làm cho văn hóa thấm sâu vào từng cơ quan làm công tác tư tưởng, cán bộ tư tưởng. Đặc biệt là chăm lo xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, văn hóa liêm chính, văn hóa trọng dân trong công sở của các cơ quan tư tưởng, tuyên giáo, tạo môi trường thuận lợi để nuôi dưỡng, bồi đắp các giá trị văn hóa của công tác tư tưởng.

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của công tác tư tưởng là giáo dục con người về mặt chính trị, nguyên lý “người đi giáo dục phải được giáo dục” đòi hỏi công tác tư tưởng, cán bộ tư tưởng phải có văn hóa. Nếu cấp uỷ, người làm công tác tư tưởng ở đâu cũng luôn lấy các giá trị văn hóa làm mục tiêu, làm thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng thì ở đó công tác tư tưởng sẽ đạt tới tầm văn hoá. Toàn ngành Tuyên giáo, toàn Đảng và cả nước làm được như vậy thì văn hóa trong công tác tư tưởng sẽ từng bước hình thành và phát triển. Văn hoá trong công tác tư tưởng cùng với văn hóa chính trị, văn hóa trong công tác tổ chức, văn hóa trong công tác kiểm tra… sẽ góp phần tạo nên văn hoá Đảng, văn hóa của hệ thống chính trị như mục tiêu của Đảng đã xác định.

TS. Lương Ngọc Vĩnh

______________________

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1998.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2014.

(3) Kết luận số 76-KL/TW ngày 4/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

(4) Lương Khắc Hiếu: Cơ sở lý luận công tác tư tưởng, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2017.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2022, t.I, tr.90-91. 

Không thể xuyên tạc, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Sứ mệnh lịch sử (SMLS) toàn thế giới của giai cấp công nhân (GCCN) hiện đại là phát kiến vĩ đại của C.Mác. Bằng cái nhìn duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng về sứ mệnh của GCCN trong toàn bộ học thuyết của mình, song tập trung nhất là ở lý luận về chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học.

Tuy nhiên, thời gian qua, một số người nhận thức chưa đầy đủ hoặc sai lệch về SMLS của GCCN, thậm chí, có đối tượng còn cố tình xuyên tạc, phủ nhận SMLS của GCCN. Góp phần phê phán các nhận thức này và bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác là nhiệm vụ chung của chúng ta hiện nay.

Nhận thức phiến diện, luận điệu xuyên tạc

Giải phóng giai cấp, dân tộc, nhân loại thoát khỏi bóc lột, áp bức, bất công để mọi người và mỗi người được sống trong công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do. Những khát vọng cao đẹp ấy của nhân loại đã có từ bao đời. Nhưng chỉ đến thế kỷ 19, khi xuất hiện nền đại công nghiệp và cùng với đó là sự trưởng thành của GCCN và chính đảng của nó thì những cơ sở thực tiễn để hiện thực hóa khát vọng ấy mới xuất hiện đầy đủ.

CNXH khoa học đã làm rõ những tất yếu, quy luật cùng những điều kiện, lực lượng, động lực, lộ trình để thực hiện SMLS của GCCN. Xã hội hóa trong sản xuất kinh tế và dân chủ hóa trong đời sống chính trị-xã hội là những tiền đề của CNXH do chính quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) tạo ra. Một trong những đặc điểm tiêu biểu của CNXH là nền sản xuất phát triển cao được xây dựng trên cơ sở xác lập chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu. Đây là một tất yếu xuất phát từ yêu cầu xã hội hóa của sản xuất công nghiệp, được thực hiện thông qua tự giác thực hiện quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Lý luận về SMLS của GCCN là cốt lõi của lý luận về CNXH khoa học.

Tuy nhiên, thời gian qua, một số người nhận thức chưa đầy đủ hoặc sai lệch về SMLS của GCCN, thậm chí, nhiều đối tượng còn cố tình xuyên tạc, phủ nhận SMLS của GCCN với ý đồ không lành mạnh.

Có ý kiến cho rằng, “GCCN trên thế giới hiện nay không khác mấy GCCN của những năm 70 của thế kỷ 20”; đó chỉ là những nhóm người “trực tiếp lao động sản xuất của cải vật chất trong công nghiệp”, “trong xã hội hiện đại, công nhân đang ít đi và không chiếm đa số trong lao động”. Một nhận thức phiến diện khác cho rằng, hiện nay, vị thế của công nhân ở nhiều nước không có gì khác so với thế kỷ 19-tức là công nhân “làm thuê, không có quyền định đoạt sản xuất và phân phối”... Hoặc cũng có nhận xét rằng “hiện nay trên thế giới không thấy phong trào công nhân, chỉ thấy các phong trào xã hội”. Bên cạnh đó, một số người cho rằng, hiện nay, “SMLS của GCCN chỉ còn được tiếp tục ở một vài nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”...

Công nhân hoàn thiện linh kiện giảm chấn băng cao su kỹ thuật cao. Ảnh: TTXVN

Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện đại, vấn đề SMLS của GCCN là trọng điểm đấu tranh của cả GCCN và giai cấp tư sản, CNXH và CNTB cùng nhiều sắc thái chính trị-xã hội khác nhau. Họ biết rõ rằng, SMLS của GCCN là cốt lõi của CNXH khoa học và phủ nhận được sứ mệnh này là phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng của GCCN và đảng cộng sản. Gần đây, trong xu thế phát triển của thế giới với trình độ kinh tế tri thức và hướng tới cách mạng công nghiệp 4.0, cũng có ý kiến cho rằng, “trong kinh tế tri thức thì SMLS là của trí thức chứ không phải của công nhân”. Đây là một nhận thức không đầy đủ.

Những phân tích sau đây có thể góp phần làm rõ hơn nhận thức liên quan đến vấn đề trí thức và SMLS của GCCN trong thời đại ngày nay.

Trí thức có vai trò rất quan trọng nhưng không thể thay thế sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Thứ nhất, cho dù tri thức, kiến thức khoa học có vai trò to lớn, nhưng phát triển hiện đại không vì thế mà không cần đến sản phẩm vật chất để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của mình (chẳng hạn ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, xây dựng, chữa bệnh...). Tất cả nhu cầu ấy lại chỉ có thể được thỏa mãn thông qua sản xuất vật chất và thường là thông qua sản xuất công nghiệp. Chỉ có sản xuất vật chất bằng phương thức công nghiệp mới có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của gần 8 tỷ người trên thế giới hiện nay. Vì vậy, nhân loại hiện nay vẫn cần tới sản xuất vật chất và lao động của GCCN để tồn tại và phát triển.

Thứ hai, GCCN hiện đại đang được trí thức hóa, trí tuệ hóa trong các cuộc cách mạng công nghiệp. Yêu cầu khách quan của sản xuất, dịch vụ hiện đại và vận hành nền sản xuất công nghiệp hiện đại đòi hỏi GCCN không ngừng nâng cao năng lực lao động, làm chủ khoa học và công nghệ. Hiện nay, khoảng 40% công nhân của các nước G7 có trình độ đại học. Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (năm 2002), gần 70% công nhân Nhật Bản có trình độ đại học. Với trình độ như vậy, trên thực tế, người ta dùng khái niệm công nhân-trí thức để chỉ nhóm lao động trình độ cao này. Thế nên, quan niệm công nhân “là người lao động thừa hành, trình độ học vấn thấp” đã lạc hậu và bất cập với thực tế.

Thứ ba, SMLS của GCCN tự nó đã mang một hàm lượng tri thức rất lớn và bản thân GCCN cũng đang trí tuệ hóa, đang tạo ra một lớp trí thức-công nhân trong lực lượng lao động của mình. Họ là các chuyên gia, nhà khoa học và công nghệ đang hằng ngày hoàn thiện, phát triển để tăng năng suất lao động, bảo đảm các yêu cầu ngày càng cao về kinh tế-xã hội và môi trường. Xã hội gọi nhóm lao động này là trí thức-công nhân hay nguồn nhân lực trình độ cao. Theo đó, cả về lý luận và thực tiễn, SMLS của GCCN không xa lạ gì với tri thức, trí thức, khoa học hiện đại. Việc tách rời tri thức với quá trình thực hiện SMLS của GCCN là một cái nhìn phiến diện.

Thứ tư, trí thức là nhóm lao động sản xuất ra các giá trị tinh thần; còn công nhân là nhóm lao động sản xuất vật chất. Sản xuất vật chất, các quá trình kinh tế xét đến cùng, bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất. Tri thức và lao động của họ, có vai trò rất quan trọng trong phát triển hiện đại nhưng bao giờ cũng cần đến việc chuyển hóa những giá trị tinh thần đó vào thực tiễn. Những công thức, ý tưởng sáng tạo, phần mềm (software) hay nói chung là phát kiến khoa học đều cần tới công nghệ để thể hiện ra giá trị của mình. Trên thực tế, nhiều sản phẩm tinh thần chỉ có thể bộc lộ giá trị thông qua việc hóa thân vào những ứng dụng công nghệ. Khoa học cần công nghệ để thể hiện ra, công nghệ cần khoa học để tiến hóa. Hai quá trình thực tiễn này hiện nay đã gần gũi lại trong một lĩnh vực hoạt động mà hiện nay thường gọi là “cách mạng khoa học và công nghệ”. Thông qua thực tiễn đó có thể nhận định: Sản xuất vật chất là cái quyết định, sản xuất tinh thần là để phục vụ cho quá trình tồn tại của xã hội. Sáng tạo tinh thần như khoa học, văn hóa, nghệ thuật có vai trò rất quan trọng trong phát triển xã hội hiện đại, nhưng nếu chỉ tinh thần thôi thì chưa đủ nền tảng cho phát triển bền vững của xã hội loài người.

Thứ năm, SMLS thực chất là sự nghiệp của một giai cấp đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo xã hội xây dựng một hình thái kinh tế-xã hội mới. Để làm tròn trách nhiệm ấy, đòi hỏi giai cấp có SMLS phải đạt được những yêu cầu, đặc điểm riêng. Điều đó tập trung ở 4 nội dung: Phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ xã hội, bao gồm cả về kinh tế (xu thế phát triển sản xuất) và chính trị (đại diện cho xu thế dân chủ hóa); phải là đại diện cho lợi ích chung của xã hội, các giai tầng và cả dân tộc; phải có một hệ tư tưởng riêng vừa phản ánh nhận thức về quy luật vận động đương thời, vừa thể hiện tính tiền phong về lý luận; phải có kết cấu, tổ chức chặt chẽ với một hạt nhân là chính đảng của giai cấp...

Một giai cấp muốn đảm nhận sứ mệnh xác lập một hình thái kinh tế-xã hội mới, nhất thiết phải đáp ứng các điều kiện trên. Đội ngũ trí thức không hội đủ các điều kiện ấy. Ngộ nhận về sự tăng lên của vai trò trí thức trong phát triển hiện đại đôi khi khiến người ta lãng quên những mối quan hệ, các đặc điểm và vị thế của trí thức trong tồn tại xã hội. Trí thức có công khái quát những tri thức lý luận và nâng cao trình độ nhận thức của phong trào công nhân. Trí thức có thể cùng với GCCN và nhân dân làm nên lực lượng của cách mạng XHCN. Thực hiện SMLS của mình, GCCN cần đến sự hợp tác của trí thức và tự mình nâng cao tri thức, kỹ năng lao động hiện đại. Nhưng đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng XHCN thì chỉ có GCCN mới đủ cơ sở, điều kiện, năng lực thực tế.

Tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Cách mạng XHCN coi việc giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công và để con người phát triển trong công bằng, bình đẳng, dân chủ và tự do là mục tiêu cao nhất. Sứ mệnh hàng đầu của GCCN là bằng phương thức lao động công nghiệp để sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, tốt hơn cho quá trình phát triển của nhân loại. Từ đó, họ tạo ra các tiền đề, điều kiện vật chất cho xã hội mới.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác và từ thực tiễn hiện nay, GCCN ở tất cả quốc gia với trình độ phát triển khác nhau vẫn đang tiếp tục thực hiện SMLS của mình với nhiều trình độ, cách thức khác nhau. Thậm chí, dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật lịch sử, hiện nay, chính GCCN ở các nước TBCN phát triển, bằng việc làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại, bằng năng suất lao động cao lại đang đóng góp tích cực cho việc thực hiện nội dung kinh tế kỹ thuật của SMLS của GCCN.

Có thể khẳng định rằng, SMLS toàn thế giới của GCCN là một học thuyết về giải phóng và phát triển hiện đại do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin luận giải một cách khoa học, hệ thống. Đây là vũ khí tư tưởng của các đảng cộng sản, của GCCN trong cuộc đấu tranh với ý thức hệ tư sản và các thế lực thù địch với CNXH. Chúng ta cần luôn cảnh giác phát hiện và đấu tranh với những tư tưởng sai lầm, xuyên tạc để bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng của lý luận về SMLS của GCCN và qua đó, bảo vệ chế độ XHCN cần được xem là nhiệm vụ thường trực.

Ở Việt Nam, chúng ta cần thấm nhuần sâu sắc rằng, thực hiện thành công sự nghiệp “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước nhanh và bền vững” để tạo ra cơ sở vật chất cho CNXH và “xây dựng GCCN hiện đại, lớn mạnh” cần được xem là những cơ sở hiện thực, phương hướng chính để làm rõ và khẳng định SMLS của GCCN Việt Nam đối với dân tộc và sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

PGS, TS NGUYỄN AN NINH

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...