Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Vận dụng tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

(TG) - Hệ thống lý luận và phương châm hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu hành động. Và, với Người “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo tư tưởng và phương châm ứng xử trong hành động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dự Đại hội lần thứ XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô, năm 1961. Ảnh: TTXVN

TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH, PHƯƠNG PHÁP HỒ CHÍ MINH VỀ “DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN”

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - đó là câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh vào thời điểm tháng 5 năm 1946 trước khi Người đi sang Pháp để “tìm kiếm một giải pháp hòa bình” để xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và đưa đất nước vượt qua hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Câu nói của Người đã thể hiện quan điểm kết hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ giữa nguyên tắc của mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược, giữa đường lối cách mạng và sách lược cách mạng. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến là sự cô đúc tất cả tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh”(1). Đối với Người, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Nước ta là một, dân tộc ta là một”; “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”(2) là cái bất biến. Để thực hiện được cái bất biến ấy, trong những tình thế hiểm nghèo, gian nan thử thách, người cách mạng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm, sáng suốt và mưu lược để áp dụng muôn vàn cái “vạn biến” trong đường đi nước bước mà hoàn cảnh đặt ra và đỏi hỏi phải giải quyết.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - “dĩ bất biến” trong tư tưởng, phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh. Theo Người, “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(3). Cả cuộc đời hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và cuộc sống hạnh phúc, ấm no của nhân dân, đặc biệt là từ sau khi đến với Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin thì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là giá trị bất biến trong tư tưởng và hành động của Người. Với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cho nên, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành được độc lập “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”(4). Đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Theo Người, chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc, để xây dựng một xã hội phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn, con người được giải phóng toàn diện. Bởi vì, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(5). Chính vì vậy, Người luôn kiên định: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”(6). Với tư tưởng “Độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã hội”, Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam - một quy luật “Thuận với chiều hướng tiến hóa của nhân loại”(7), phù hợp với yêu cầu giải phóng của xã hội Việt Nam nói chung và của mỗi con người nói riêng và vì vậy, Người đã mở ra thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Mềm dẻo, linh hoạt về sách lược - “ứng vạn biến” trong tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. “Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”, tư tưởng, phong cách của Người được hình thành và không ngừng hoàn thiện thông qua quá trình rèn luyện, trải nghiệm qua hành động thực tế, đúc rút, tổng kết thành lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt. Các công tác phải phối hợp và liên hệ với nhau, bộ phận phối hợp với toàn cục, v.v.. Mỗi công tác phải hợp với từng nơi, từng lúc, từng hoàn cảnh”(8). Để thực hiện “dĩ vạn biến” thì phải luôn mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong sách lược, trong từng thời điểm và trên mọi lĩnh vực của cuộc đấu tranh cách mạng. Người đã kết hợp nhuần nhuyễn và xử lí một cách hoàn hảo mối quan hệ giữa hai vấn đề tưởng chừng đối lập: tính kiên định về nguyên tắc, lý tưởng, niềm tin và tính linh hoạt, uyển chuyển trong phương pháp tư duy và hành động. Điều đó làm nên phong cách Hồ Chí Minh: vô cùng linh hoạt, uyển chuyển nhưng không xa rời nguyên tắc; vô cùng cương nghị, cứng rắn về những vấn đề nguyên tắc, nhưng không sơ cứng, sáo mòn.

Hồ Chí Minh đã từng nói: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(9), đó là quá trình lịch sử - tự nhiên. Tư tưởng, phong cách, phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” luôn trong quá trình vận động - “vạn biến” và xoay quanh trục “bất biến”. Với Người, mối quan hệ biện chứng giữa “bất biến” và “vạn biến” đã được Người nhận thức và giải quyết triệt để, nhất quán và đầy sáng tạo trong các giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau. Mục tiêu chiến lược là bất di bất dịch; nhưng tùy hoàn cảnh cụ thể ở trong nước và quốc tế, tùy từng giai đoạn lịch sử mà đề ra những sách lược uyển chuyển, phù hợp.

VẬN DỤNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Với sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động chống tham ô, lãng phí, quan liêu, làm cho mọi người thấm nhuần ý thức làm chủ nước nhà và tinh thần cần kiệm xây dựng Tổ quốc, thì chúng ta nhất định thắng lợi”(10), chúng ta tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới; kiên định mục tiêu độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, trong các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể chúng ta luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, khôn khéo, linh hoạt, mềm dẻo trong đối sách nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”(11), luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích nhân dân lên trên hết, trước hết. Trong đó, cần kiên định những nguyên tắc, mục tiêu “bất biến” và mềm dẻo, sáng tạo “vạn biến” những phương pháp, cách thức xử lý phù hợp với thực tiễn. Cụ thể là:

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, nguyên tắc “bất biến” của cách mạng Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(12). Để thực hiện nguyên tắc “bất biến” này đòi hỏi chúng ta phải:

Trước hết, tiếp tục kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Độc lập dân tộc gắn liền với là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Trong bối cảnh, tình hình mới Đảng ta xác định, tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Trong đó, cần chú trọng hơn đến bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong nhận thức và giải quyết các quan hệ lớn. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lâp, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XIII của Đảng, xác định: “Xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm hạnh phúc của người dân”. Đây vừa là chủ trương chỉ đạo chiến lược vừa thể hiện sự kiên định mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Để đạt mục tiêu đó, phải luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cơ chế dân chủ được khẳng định trong thực tiễn đời sống xã hội; vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ luôn được phát huy.

Thứ hai, giữ vững và nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Quán triệt và thực hiện quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”(13).Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm. Các tổ chức của Đảng và đảng viên, phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nắm vững, kiên định và chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Cán bộ, đảng viên luôn để cao trách nhiệm nêu gương trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, kiên định quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(14), xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức, cá nhân vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; quản lý và tự quản xã hội; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hoá; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quôc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thị sát bên trong tàu ngầm HQ-184 Hải Phòng, trong chuyến thăm và làm việc với Vùng 4 Hải quân tại Căn cứ quân sự Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: TTXVN

Thứ tư, kiên định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa ” trong nội bộ. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, với quyết tâm chính trị cao hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn, đồng bộ các biện pháp cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; gắn phòng, chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng; kiểm soát hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

Hai là, “vạn biến”, linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Trước hết, “vạn biến”, linh hoạt, sáng tạo trong xây dựng Đảng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Kinh nghiệm hơn 90 năm của Đảng ta đã chỉ ra: Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn giúp Đảng luôn có bản lĩnh chính trị kiên cường, tầm tư duy sáng suốt, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, làm cho Đảng đoàn kết, trong sạch, vững mạnh hơn, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được tăng cường luôn là nhiệm vụ then chốt. Cùng với thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần phải linh hoạt, sáng tạo, đề cao trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Việc xử lý kỷ luật nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác.

Thứ hai, quán triệt và thực hiện quan điểm Đại hội XIII của Đảng: “Lấy hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước”. Tập trung sửa đổi những quy định không thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở phát triển kinh tế xã hội. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử; đổi mới phân cấp, phân quyền, ủy quyền và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, thực hiện nhiều hình thức hội nhập quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác.

Thứ ba, tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với phát huy ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh của con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam; xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý, văn hoá công sở, văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình thông tin trên internet; kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục; nâng cao sức đề kháng của nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá, tích cực tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại phù hợp với thực tiễn, từng bước xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cán bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ năm 1962 (Ảnh: https://phapluatxahoi.vn).

Thứ tư, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ. Phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Chúng ta đã xây dựng nên trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh. Đây là trường phái riêng” - “ngoại giao cây tre”. Đó là sự mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.

Thứ năm, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là quan điểm “bất biến” của Đảng ta, song trong từng thời điểm, bước ngoặt của cách mạng đều có sự vận dụng phù hợp, sáng tạo để thực hiện tốt quan điểm này. Đại hội XIII, Đảng ta xác định: Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân gắn kết với nền an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống. Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, có thể gây đột biến. Chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh quốc gia, an toàn thông tin, an ninh mạng,... giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải có cách nhìn nhận, ứng xử hết sức khoa học, khôn khéo, mềm dẻo để “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(15). Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn “dĩ bất biến”, “ứng vạn biến” trong lãnh đạo chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Điều đó khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm của Đảng, thể hiện ý Đảng thuận lòng dân trước sự phát triển toàn diện của đất nước.

TS. Trần Việt Thắng

Đại học Bách khoa Hà Nội

------------------------

(1) Hoàng Chí Bảo: “Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh - giá trị và ý nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, Số tháng 5/2005

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.15, tr.627

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 1.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr. 532.

(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 563.

(6) (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 401, 158.

(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - tinh hoa và khí phách dân tộc, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2012, tr. 36.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr. 555.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 377.

(11) (12) (13) (14) (15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr. 14, 33, 111, 173, 109.

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022

Đấu tranh chống âm mưu đòi "chuyển đổi thể chế chính trị" ở Việt Nam

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(1).

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(2).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”(3).

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”(4). Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”(5).

Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020(6). Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(7).

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ(8).

PGS, TS NGUYỄN DANH TIÊN

(Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) 

(1) Hồ Chí Minh:  Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2011, tập 3, tr.167.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2007, tập 51, tr.13-14.

(3) Bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 60, tr.124.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2016, tập 60, tr.124.

(6) PGS, TS Nguyễn Viết Thông: Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam sau 75 năm giành độc lập, đặc biệt sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới.

(7) Diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2020).

(8) Theo Thông tấn xã Việt Nam ngày 28-10-2010.

Chủ tịch nước khen ngợi những tấm gương dũng cảm cứu người

Trung úy Thái Ngô Hiếu gắng hết sức mình cứu 4 thanh niên bị đuối nước tại bãi tắm Phước Tỉnh, còn anh Nguyễn Đức Chính nhảy từ cầu Thịnh Long ở độ cao khoảng 30m xuống sông để cứu một nữ sinh lớp 8.

Sáng 11/4, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã biểu dương, khen ngợi Trung úy Thái Ngô Hiếu, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh Đồng Nai và anh Nguyễn Đức Chính, trú tại tổ dân phố số 8, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định có hành động dũng cảm, cứu được nhiều người đang bị đuối nước trong 2 ngày vừa qua.

Trung úy Thái Ngô Hiếu hà hơi thổi ngạt cứu người đuối nước. (Nguồn: nld.com.vn).

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ xúc động và cảm ơn Trung úy Thái Ngô Hiếu, với tinh thần dũng cảm của người chiến sĩ Công an nhân Nhân dân đã gắng hết sức mình cứu 4 thanh niên, từ 19-23 tuổi, bị đuối nước tại bãi tắm Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, sáng 10/4/2022.

Chủ tịch nước cũng bày tỏ xúc động trước tinh thần quả cảm, không sợ nguy hiểm đối với bản thân, chỉ với một suy nghĩ là phải nhanh chóng cứu người của anh Nguyễn Đức Chính khi anh nhảy từ cầu Thịnh Long ở độ cao khoảng 30m xuống sông Ninh Cơ để cứu một nữ sinh lớp 8 đang chới với trong dòng nước chảy xiết, đưa vào bờ an toàn, chiều ngày 9/4/2022.

Hình ảnh anh Chính (số 2) đang bơi lại nơi nữ sinh đang chới với giữa dòng nước (số 1). (Nguồn: dantri.com.vn)

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh đây thực sự là những hành động dũng cảm, nghĩa hiệp, cao cả được nhân dân cảm phục, trân trọng. Những tấm gương quên mình vì tính mạng của người bị nạn trong cộng đồng cần được kịp thời lan tỏa để nhiều người có thêm niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Chủ tịch nước đề nghị Bộ Công an, Công an tỉnh Đồng Nai và tỉnh Nam Định, có hình thức tuyên dương, khen thưởng xứng đáng Trung úy Thái Ngô Hiếu và anh Nguyễn Đức Chính, qua đó nhân lên những những tấm gương dũng cảm cứu người, để mỗi ngày sẽ có thêm nhiều hành động đẹp, việc làm thiết thực và những tấm gương sáng góp phần tích cực xây dựng cuộc sống bình yên.

My Ban - Báo điện tử CAND

Tháng tư, nghĩ về những “giấc mộng tan vỡ” nơi xứ người

Với mỗi người Việt Nam, tình yêu quê hương, đất nước từ lâu đã trở thành một giá trị cao quý, được truyền từ đời này sang đời khác, bằng những biểu hiện sinh động, cụ thể. Tháng tư về, người dân đất Việt càng tự hào, biết ơn các thế hệ ông cha đã hy sinh xương máu cho quê hương, đất nước, đồng thời cảnh báo những ai đang đi ngược dòng chảy thời cuộc, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Thực tế đã, đang và sẽ còn chứng minh lòng yêu nước đã trở thành một giá trị truyền thống và là tài sản vô giá, tạo sức sống bất khuất và trường tồn của dân tộc con Lạc cháu Hồng qua nghìn năm lịch sử trước mọi hiểm họa xâm lăng và đô  hộ, là mạch nguồn cho sự sinh sôi và phát triển ngày càng mạnh mẽ của đất nước, giống nòi. Không ai có thể phủ nhận được rằng, dù là người dân đang sinh sống trên xứ sở quê hương hay với cộng đồng người Việt đã định cư và hội nhập ổn định ở nước ngoài, mỗi khi thiên tai, địch họa đe dọa cuộc sống và vận mệnh của Tổ quốc, lập tức muôn người như một, kết thành khối vững chắc, sẵn sàng cống hiến công sức, xả thân vì lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, vì vận mệnh của Tổ quốc và cuộc sống của đồng bào mình.

Ðặc biệt, đối với chủ quyền quốc gia và nền độc lập dân tộc, lòng yêu nước mãnh liệt chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giang sơn cha ông để lại. Giá trị đó không thể là điểm tựa để dung túng, kích động tinh thần dân tộc cực đoan, đề cao bá quyền, đe dọa sử dụng bạo lực và bất chấp thủ đoạn gian dối, hèn hạ, bất chấp đạo lý và luật pháp của văn minh nhân loại, cốt tranh đoạt trắng trợn và phi pháp lãnh thổ của người khác. Ðiều này đã và phải tiếp tục trở thành yêu cầu của lương tri, của đạo đức không chỉ với Việt Nam mà với mọi quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta không chỉ trui rèn truyền thống giữ nước, chống xâm lăng, mà còn cho thấy người bán nước như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống,... luôn bị dân tộc phê phán, danh xấu nghìn năm khôn rửa. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam cho thấy, khi Pháp, Mỹ can thiệp vào Việt Nam đã có một số người lầm lạc, chĩa súng vào đồng bào, gây nên nhiều tội ác. Chỉ đến khi thua trận, những kẻ xâm lược phải rút khỏi Việt Nam thì những người trên lại chọn cho mình con đường rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình để tiếp tục mưu lợi cá nhân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Chiến tranh đã đi qua, vết thương đã "liền da" khi quê hương hòa làm một, đất nước được vẹn tròn. Nhưng nỗi thù, sự ích kỷ và mưu lợi cá nhân vẫn còn tồn tại trong lòng những con người đó, họ chấp nhận đời tha hương mà không chịu thừa nhận thất bại, vẫn luyến tiếc cuộc sống dựa dẫm hưởng lợi từ ngoại bang, vẫn cay cú, vẫn cố tìm mọi cách thực hiện giấc mơ được ngoại bang giúp sức để trở về "phục quốc".

Ðể đạt mục đích xấu xa đó, họ tiến hành rất nhiều thủ đoạn, từ sử dụng lá phiếu cử tri buộc một số vị dân biểu nơi họ cư trú lên tiếng tạo sức ép với chính quyền các nước vu cáo, đồng thời thành lập, tham gia các tổ chức tiến hành hoạt động khủng bố, phá hoại; lợi dụng mạng Internet để lập ra nhiều trang mạng, diễn đàn lấy danh nghĩa “yêu nước” để bóp méo sự thật, tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, đường lối chính sách, đối ngoại của Đảng và nhà nước ta, thậm chí họ còn ủng hộ, tiếp tay cho tư tưởng chia cắt với những luận điệu như “thành lâp nhà nước Mông ở Tây Bắc”, đuổi người Kinh khỏi Tây Nguyên để thành lập “nhà nước Degar độc lập”...

Không dừng lại ở đó, để hiện thực hóa những mưu đồ trên, các tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại. Hằng năm, các tổ chức trên đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các tổ  chức khủng bố ở nước ngoài nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, vứt bỏ gốc gác người Việt của mình như Lê Thu Hà bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 20/11/2018.

Sau một thời gian đấu tranh, ghi dấu ấn của mình cộng với sự tác động của Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà được bảo lãnh theo diện tị nạn. Hà được sắp xếp, bố trí chỗ ở tại thị trấn Bad Naheim, bang Hawai, Đức; được chu cấp tiền để học tiếng Đức, thuê nhà, sinh hoạt và đào tạo nghề. Số tiền này chỉ đủ để phục vụ các hoạt động nói trên, chưa kể Hà phải tự lo cho cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, do không có trình độ, tiền không có, nhà ở thuê, bạn bè cô quạnh, bản thân không thể đáp ứng yêu cầu, điều kiện lao động và mức sống tại đây, Hà vỡ mộng với cuộc sống tại “xứ thiên đường”, nơi mà khi còn ở Việt Nam, Hà từng ao ước rồi phản bội lại đất nước, dân tộc để đạt được mục đích. Chỉ trong 6 tháng, Lê Thu Hà bắt đầu thấm thía và từ đó, viện cớ rằng “nhớ quê hương, đất mẹ” để tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam.

Trường hợp tương tự là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (blogger Mẹ Nấm) được bảo lãnh “xuất khẩu miễn phí”. Cầm tấm thẻ xanh trên tay một thời gian, Quỳnh vừa mừng vừa lo. Mừng vì chỉ sau 2 năm ăn cơm tù đã đạt được mục đích sang Mỹ; lo vì nhận ra rằng mức sống ở nơi đây cao hơn rất nhiều so với ở Việt Nam, việc sinh tồn tại nơi đây là một vấn đề khó khăn. Mặc dù được chính phủ Mỹ tài trợ 6 tháng tiền trợ cấp (mức trợ cấp dành cho người thất nghiệp là 5.000 USD/năm) nhưng số tiền đó chỉ đủ để trả tiền thuê nhà, ăn uống, học nghề, chưa kể mẹ già, con thơ.

Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau một thời gian hai người này lại quay ra bới móc lẫn nhau.

Việc trang trải cuộc sống cho bản thân còn chưa xong, liệu Quỳnh có dám nghĩ việc ăn chơi, kiếm tiền từ nước ngoài một cách dễ dàng khi còn ở Việt Nam? Xa hơn, có thể kể đến những kẻ từng một thời được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau khi đến Mỹ mới té ngửa, ca thán như Tạ Phong Tần quay ra bới móc, kể tội Nguyễn Văn Hải (điếu cày), Nguyễn Văn Hải cũng lập tức tố cáo lại Tạ Phong Tần…

Có lẽ, đây mới chỉ là những đoạn đầu của con đường không tương lai của những người trên, những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu vinh. Chỉ khi ra nước ngoài, bản chất thật sự của số gọi là “nhà dân chủ, người yêu nước, nhà đấu tranh nhân quyền” mới bộc lộ, để rồi chìm dần vào sự quên lãng khi đã không còn giá trị sử dụng đối với các tổ chức chống phá ở nước ngoài. Cha ông ta thường dạy “không ai cho không thứ gì”. Những kẻ phản bội đất nước thì đa phần đều đã làm cha làm mẹ, luôn nói rằng được sống trong môi trường giáo dục nhưng bản thân lại không làm theo điều cha ông đã dạy “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Con đường phạm pháp do họ chọn và chính họ chấp nhận rời bỏ quê hương, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đến khi nhận ra bị chính những tổ chức phản động lợi dụng “vắt chanh, bỏ vỏ”, sức tàn lực kiệt, hối cải, nghĩ đường về quê hương thì mọi thứ đã muộn. Đây cũng là bài học cho những kẻ trong nước lựa chọn con đường phản bội lại đất nước, dân tộc, tiếp tay cho các tổ chức thù địch, phản động, nuôi mộng định cư ở nước ngoài hay “đổi đời”.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, vị thế đất nước đang dần được khẳng định trên thế giới. Trong quá trình phát triển đó, không thể tránh khỏi những bất cập, tồn tại cần phải khắc phục nên chưa thể đáp ứng được hết những trông đợi của mọi người. Nhưng nếu dựa vào đó để phủ nhận các thành tựu phát triển, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình đất nước, chối bỏ gốc gác, làm những việc đi ngược lợi ích của dân tộc mình thì những cá nhân đó phải tự vấn lương tâm. Hãy tự thấy xấu hổ khi nghĩ tới không ít kiều bào, dù xa quê, mưu sinh xứ người vẫn coi quê hương là đất Việt, vẫn đang từng ngày đóng góp tài trí, sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hơn bao giờ hết, trên bất kỳ phương diện nào, lòng yêu nước và hướng về quê hương luôn là một giá trị phù hợp với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chỉ có lòng yêu nước chân chính mới có thể giúp quê hương, đất nước giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời làm cho quê hương, đất nước ngày càng hưng thịnh, trường tồn.

Xin nhắc lại câu nói của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 6/2007): “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi, nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”.

Bình Nguyên – Hoàng Ly – Báo điện tử CAND

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2022

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” với vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc – giai cấp của cách mạng Việt Nam

(TG) - Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam nhiều di sản vô cùng quý báu, một trong những di sản đó là tác phẩm “Đường Cách mệnh”.

Tác phẩm “Đường Cách mệnh”

Tác phẩm là kết quả tập hợp những bài giảng của Người dùng trong các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) vào những năm 1925, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tập hợp, in thành sách “Đường Cách mệnh” vào năm 1927. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu, hàm chứa giá trị lý luận, thực tiễn to lớn và sâu sắc, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, trong việc kết hợp phong trào công nhân và yêu nước với chủ nghĩa Mác, tạo lập các tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tác phẩm “Đường cách mệnh” ra đời trong bối cảnh phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ, phong trào giải phóng dân tộc ở trong nước đã xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước mang sắc thái chính trị khác nhau, thực tiễn lịch sử đòi hỏi phải có một tổ chức kiểu mới, có đường lối, tổ chức đúng đắn, chặt chẽ thì mới lãnh đạo cách mạng đi đến thành công. Do đó, Tác phẩm có ý nghĩa và vai trò như “kim chỉ nam” cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Một trong những nội dung cơ bản của Tác phẩm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng linh hoạt và sâu sắc trong lãnh đạo cách mạng, đó là vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp của cách mạng.

TƯ TƯỞNG CỐT LÕI CỦA VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” với vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp là kết tinh sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc Việt Nam và tính nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng, Đảng ta luôn nhận thức về sự thống nhất nói trên. Tác phẩm đã thể hiện rất rõ và sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, thực chất là vấn đề giải phóng và phát triển dân tộc; vấn đề giai cấp, thực chất là vấn đề giải phóng các giai cấp, tầng lớp khỏi tình trạng áp bức bóc lột, đem lại cơm ăn áo mặc, tự do hạnh phúc cho nhân dân.

Trong điều kiện đất nước bị xâm lược, vấn đề giai cấp luôn được Hồ Chí Minh đặt trong mối quan hệ biện chứng với vấn đề dân tộc. Lợi ích của giai cấp thống nhất chặt chẽ với lợi ích dân tộc và lợi ích dân tộc thống nhất với lợi ích quốc tế. Điều đó có nghĩa là chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(1). Khi đất nước giành được độc lập rồi thì giải phóng giai cấp chính là phải từng bước xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Người cho rằng, sau khi giành được độc lập dân tộc rồi, mà nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng, “không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Đây là vấn đề nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc - giai cấp thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.

Theo Hồ Chí Minh, việc giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp là yêu cầu khách quan để đi đến sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp; quốc gia và quốc tế, là cơ sở để huy động mọi nguồn lực của dân tộc cho thắng lợi của cách mạng. Tư tưởng này được Người đúc rút từ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng Mỹ (1776) đến Cách mạng Pháp (1789), từ Công xã Pari (1871) đến Cách mạng Tháng mười Nga (1917). Trong quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tư tưởng này đã được Người và Đảng ta giải quyết thành công mối quan hệ đó và được chứng minh qua thực tiễn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.

TÁC PHẨM “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” VỚI VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG

Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp vô sản có mối quan hệ biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Trong nội dung giải phóng dân tộc bao hàm nội dung giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc càng tiến hành triệt để và thắng lợi bao nhiêu thì sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng xã hội càng thuận lợi bấy nhiêu. Giai cấp vô sản được hoàn toàn giải phóng cả về chính trị và kinh tế thì độc lập sẽ vững bền hơn bao giờ hết. Xác định cách mạng Việt Nam “đi tới xã hội cộng sản” được ghi trong Cương lĩnh của Đảng là một định hướng đúng, phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội làm cho quan điểm Hồ Chí Minh mang tính toàn diện và triệt để.

Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ đầu tiên. Giải phóng về mặt chính trị tự bản thân nó chưa phải là công cuộc giải phóng hoàn toàn, độc lập dân tộc là tiền đề đầu tiên để tiến lên chủ nghĩa xã hội, đưa con người đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những thiếu sót và thất bại của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu (cũ), cũng như những khó khăn của Việt Nam từ sau 1975 đó cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, cũng như việc lựa chọn con đường và bước đi cụ thể, phù hợp với khả năng và điều kiện của từng nước.

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của loài người khi bước vào thế kỷ XXI. Song, việc xử lý mối quan hệ giữa các dân tộc, giai cấp và nhân loại trong xu thế này đang trở thành một vấn đề vừa có tính thời sự cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với mỗi quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, để giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc và xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố dân tộc, giai cấp, nhân loại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... trong quá trình hội nhập quốc tế. Muốn vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân cần kiên định nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đường lối nhất quán và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Do vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp và quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào các giai đoạn cách mạng của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam phải hết sức sáng tạo, phải tùy thuộc vào tình hình cụ thể của đất nước.

Do ở phương Đông, dân tộc được hình thành sớm, ý chí tinh thần dân tộc cao, phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc mạnh mẽ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chủ nghĩa dân tộc được Hồ Chí Minh xem là động lực to lớn của người Việt Nam và khi chủ nghĩa dân tộc thắng lợi dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân sẽ thống nhất với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Đường lối cách mạng của Việt Nam được vận dụng sâu sắc từ tư tưởng của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”. Qua đó cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta từ năm 1930 đến nay đã rất coi trọng việc bồi dưỡng tinh thần dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi áp bức bất công, giải phóng dân tộc, thực hiện quyền tự quyết dân tộc theo lập trường giai cấp công nhân. Qua các giai đoạn cách mạng, đường lối xuyên suốt và nhất quán cách mạng Việt Nam là: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Để đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới, trong tất cả các văn kiện của Đảng luôn khẳng định mục tiêu cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều kiện cơ bản đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và cũng có nghĩa là trung thành với lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lợi ích dân tộc.

Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp khi tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam được thể hiện trong sâu sắc Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”(3). Như vậy, tư tưởng đoàn kết dân tộc và xem việc phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc là động lực phát triển đất nước hiện nay chính là sự quán triệt và vận dụng quan điểm lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào Việt Nam.

Việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết quan hệ dân tộc và giai cấp được thể hiện qua các văn kiện Đảng trong thời kỳ đổi mới. Mối quan hệ này trong cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải giải quyết một cách toàn diện ở nhiều lĩnh vực, ở nhiều góc độ. Trong đó, tập trung trước hết ở giải quyết các quan hệ lợi ích:

Lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích toàn dân tộc.

Lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích các giai cấp, tầng lớp khác.

Lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích các tộc người trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam.

Lợi ích của dân tộc Việt Nam với lợi ích các dân tộc khác và lợi ích quốc tế nói chung trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐÊ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ DÂN TỘC – GIAI CẤP TRONG TÁC PHẨM “ĐƯỜNG CÁCH MỆNH” PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN MỚI              

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Mặt khác, thể hiện những quan điểm cụ thể trong giải quyết quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội Việt Nam: “các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(4). Cũng trong Cương lĩnh này, vấn đề quan hệ các dân tộc (với nghĩa các tộc người) cũng được khẳng định: Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã rút ra 6 bài học chủ yếu của 10 năm đổi mới. Trong đó bài học đầu tiên là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(5).

Cùng với bài học đã nêu là mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên, giành những thành tựu to lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và ở nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức mạnh của toàn thể dân tộc.

Đặc biệt, trong Đại hội IX, một luận điểm mang tầm khái quát lý luận lớn của Đảng về quan hệ giai cấp, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng”(6). Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục thể hiện nhiều quan điểm mới của Đảng trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc. Trước hết, Đảng tiếp tục khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng trước những khó khăn, thách thức và những biến động bất lợi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, “kim chỉ nam” cho hành động của Đảng. Kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tiếp tục công cuộc đổi mới trong Văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng, đặc biệt là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục thể hiện những quan điểm mới, sáng tạo khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết các quan hệ dân tộc - giai cấp - quốc tế đó là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”(7).

Tiếp tục các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VII đến Đại hội XII về giải quyết mối quan hệ dân tộc - giai cấp trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng năm 2021 khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng… Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(8).

Kiên định đường lối đổi mới của Đảng, trong thời gian tới phải tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng. Đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, muốn vậy, phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng. Làm được như vậy là Đảng ta đã thực hiện được ý nguyện trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc... phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(9).

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” nói chung và tư tưởng về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp và vấn đề quốc tế trong Tác phẩm là một sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tác phẩm “Đường Cách mệnh” đến nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là bài học quý, đòi hỏi Đảng ta cần phải vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện mới của đất nước trong quá trình hội nhập sâu rộng quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay./.

TS. Nguyễn Văn Vị

Viện KHXH&NV Quân sự

-------------------------------

Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 392.

Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 603.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 86.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2021).

Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 14.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 22.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, tr. 65.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, tr. 109.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội. 2011, tr.611-614.

Công lý, đối thoại và ngoại giao

Trước bối cảnh sự leo thang căng thẳng giữa Nga và Ukraine quan điểm của Nhà nước Việt Nam luôn đứng về công lý và đề xuất biện pháp đối thoại, ngoại giao để giải quyết các vấn đề hiện nay. Tuy nhiên thời gian qua, trên các diễn đàn, mạng xã hội xuất hiện một số bài viết với lối suy diễn ác ý, xuyên tạc về quan điểm của Việt Nam đối với tình hình tại Ukraine hòng nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và làm xấu hình ảnh của Việt Nam với cộng đồng quốc tế khiến dư luận rất bất bình.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc phát biểu tại phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 để thảo luận về tình hình Ukraine. (Ảnh: BNG)

Ngày 24/2/2022, Nga phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine với cơ sở đưa ra là quyền tự vệ theo Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và nhằm chấm dứt hành vi bị cho là “diệt chủng” của Ukraine tại vùng Donetsk và Luhansk. Chiến tranh khiến hàng triệu người dân Ukraine cần viện trợ nhân đạo của cộng đồng quốc tế. Cộng đồng quốc tế mong muốn Nga và Ukraine sớm tìm ra giải pháp hòa bình và chấm dứt cuộc chiến này.

Ngày 27/2, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 2623 (2022), quyết định triệu tập phiên họp đặc biệt khẩn cấp của Đại hội đồng Liên hợp quốc liên quan tình hình tại Ukraine. Đây là cơ hội để 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc lên tiếng và thúc đẩy các bên tìm kiếm giải pháp hòa bình.

Phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 của Đại hội đồng Liên hợp quốc được khai mạc vào ngày 28/2, các thành viên đã thông qua Nghị quyết A/RES/ES-11/1 vào ngày 2/3, trong đó thể hiện sự lo ngại lớn với  báo cáo về các vụ việc tấn công cơ sở dân sự, kêu gọi cần có biện pháp khẩn cấp để cứu người dân tại Ukraine khỏi khói lửa chiến tranh và yêu cầu Nga “rút ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện tất cả các lực lượng quân sự của mình khỏi lãnh thổ Ukraine trong các đường biên giới được quốc tế công nhận”.

Một cuộc bỏ phiếu thông qua Nghị quyết với tỷ lệ 141 phiếu thuận, 5 phiếu chống và 35 phiếu trắng (trong đó có Việt Nam, Cuba, Trung Quốc, Nam Phi, Ấn Độ…). Tại phiên họp, các quốc gia cũng bày tỏ quan điểm của mình thông qua người đại diện. Nội dung các phát biểu này cũng thể hiện lập trường của các quốc gia.

Ngày 1/3, Đại sứ Đặng Hoàng Giang-Trưởng Phái đoàn Thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc phát biểu và khẳng định lập trường, quan điểm của Việt Nam rằng, một khi chiến tranh nổ ra chỉ gây đau khổ vô tận cho người dân.

Đại sứ nhấn mạnh, trong bối cảnh hiện nay, “mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”.

Đại sứ cũng bày tỏ Việt Nam hết sức lo ngại về tình hình xung đột vũ trang ở Ukraine, và kêu gọi các bên có giải pháp giảm leo thang căng thẳng, giải pháp được đề xuất là “nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp lớn cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

Lập trường này của Việt Nam cũng được đề cập trong nội dung phát biểu của đại diện quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Như phát biểu của nữ Đại sứ Noor Qamar Salaiman (Brunei) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì các nguyên tắc cơ bản của pháp luật và tôn trọng pháp luật quốc tế. Đại sứ Suriya Chindawongse (Thái Lan) cho rằng, một giải pháp bền vững phải được tìm thấy thông qua Liên hợp quốc và các cơ chế hiện có. Ông tin rằng con đường hòa bình, hòa giải và láng giềng tốt cuối cùng sẽ thành công.

Một lần nữa khẳng định quan điểm của Việt Nam về cuộc chiến của Nga tại Ukraine, bà Lê Thị Thu Hằng-người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã khẳng định khi trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam trong phiên họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an, “Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine” và cho rằng “ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh nhằm đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Điều này phù hợp  tinh thần được quy định tại Điều 12 Hiến pháp 2013 của Việt Nam - đạo luật có giá trị cao nhất, rằng “nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Như vậy, Việt Nam luôn nhất quán từ văn bản pháp lý đến tuyên bố, phát ngôn khi đưa ra quan điểm của quốc gia về cuộc chiến tại Ukraine là kêu gọi chấm dứt hành vi sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, về giải pháp đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bên để kiềm chế leo thang hoạt động vũ trang. Việt Nam không thiên vị bên nào mà đứng về lẽ phải và công lý. Bởi đây cũng là thông điệp rõ ràng của Đại hội đồng Liên hợp quốc: Hãy mở rộng cánh cửa đối thoại và ngoại giao ngay từ bây giờ.

Cộng đồng quốc tế đã thể hiện trách nhiệm của mình bằng việc ngày 24/3 Liên hợp quốc ra Nghị quyết thứ 2 là A/RES/ES-11/2 với tên gọi “Hậu quả nhân đạo và hành động xâm lược Ukraine” với 140 phiếu thuận, 5 phiếu chống và 38 phiếu trắng. Liên hợp quốc kêu gọi Nga chấm dứt chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine và kêu gọi cộng đồng quốc tế viện trợ nhân đạo cho Ukraine.

Trong phiên họp ngày 23/3, Đại sứ Đặng Hoàng Giang tiếp tục khẳng định mọi tranh chấp quốc tế phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Đại sứ nhấn mạnh nhu cầu quan trọng hiện nay là phải chấm dứt các hành động thù địch và tìm ra giải pháp lâu dài.

Kết quả bỏ phiếu thông qua hai nghị quyết nêu trên của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã cho thấy mối quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế trong nỗ lực kêu gọi Liên bang Nga ngừng các hoạt động leo thang xung đột và tìm kiếm giải pháp để ngừng tiếng súng cũng như giải quyết các vấn đề nhân đạo tại Ukraine. Các nghị quyết này cũng thúc giục giải quyết hòa bình ngay lập tức xung đột giữa Nga và Ukraine thông qua đối thoại chính trị, đàm phán và các biện pháp hòa bình khác theo quy định pháp luật quốc tế.

Mặc dù các nghị quyết này không có giá trị ràng buộc pháp lý với 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, nhưng việc các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc được thông qua sẽ giúp người dân Ukraine có thêm lý do tin tưởng vào Liên hợp quốc. Bởi người dân Ukraine rất cần hòa bình, và mọi người trên thế giới cũng mong muốn điều này.

Bất chấp thực tế đó, thời gian qua, tại một số diễn đàn đã xuất hiện những bình luận cho rằng quan điểm này của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”. Chúng ta cần nhận biết rằng, Việt Nam là quốc gia đã trải qua nhiều cuộc chiến, hiểu rõ sự tàn phá và những thương đau của chiến tranh và như vậy càng hiểu rõ, quý trọng cái giá của hòa bình, khát vọng hòa bình. Những bình luận kích động đã lộ rõ ý đồ nhằm tạo ra những căng thẳng, xung đột trong nội bộ, gây chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước bạn.

Không dừng ở đó, còn có các bài viết với nội dung nhằm kích động người dân khi đưa ra thăm dò ý kiến người đọc để tìm kiếm cái được gọi là bằng chứng “người dân ủng hộ đa số”, quan điểm của Nhà nước Việt Nam “chỉ là thiểu số”.

Ngoài ra, một số bài trên các trang báo nước ngoài còn tỏ ra nghi vấn về thái độ của Nhà nước, quy chụp rằng Việt Nam quay lưng với hòa bình. Hành động này đã lộ rõ âm mưu đằng sau là hạ thấp uy tín của Nhà nước đối với người dân, từ đó hướng lái đến vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Với cách phỏng vấn một số cá nhân có nhận thức phiến diện được cho là “chuyên gia”, nhưng thực chất nội dung trao đổi lộ rõ động cơ chống phá Đảng, Nhà nước và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trong quan hệ quốc tế từ vấn đề của Ukraine.

Thực tiễn đã chứng minh, Nga và Ukraine đều là các đối tác quan trọng của Việt Nam. Tình hữu nghị thân thiết giữa Việt Nam và Nga, Việt Nam và Ukraine luôn bền vững trong thời gian qua và mở rộng trên tất cả lĩnh vực chính trị - ngoại giao, thương mại, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ… Việc Việt Nam kêu gọi các bên tìm kiếm giải pháp lâu dài trên cơ sở tính đến lợi ích và quan ngại của các bên; tôn trọng pháp luật quốc tế; chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia; quan tâm đến an toàn của cư dân đang sinh sống tại Ukraine cũng như các hoạt động cứu trợ nhân đạo, là phù hợp tình hình hiện nay.

Sự lựa chọn này sẽ không làm phức tạp thêm tình trạng căng thẳng, không làm sâu sắc hơn cuộc xung đột và không tạo ra các làn sóng biểu tình ủng hộ một bên ngay trong lòng quốc gia mình. Đây cũng là sự lựa chọn của rất nhiều quốc gia trên thế giới khi bỏ phiếu trắng khi thông qua hai Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Bởi quan hệ ngoại giao nhất quán của Việt Nam là chọn chính nghĩa./.

Mai Chi (nhandan.vn) 

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

[QĐND] Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đản...